intTypePromotion=3

LUẬN VĂN: Hoạt động Kiểm toán báo cáo tài chính tại một số Công ty Kiểm toán độc lập Việt nam

Chia sẻ: Pham Ly | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:26

0
93
lượt xem
26
download

LUẬN VĂN: Hoạt động Kiểm toán báo cáo tài chính tại một số Công ty Kiểm toán độc lập Việt nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cùng với Nghị định 70/CP (11/07/1994) đã đánh dấu sự xuất hiện của kiểm toán ở Việt Nam trong thời kỳ nền kinh tế chuyển đổi. Sự xuất hiện của kiểm toán là một đòi hỏi tất yếu của công cuộc phát triển kinh tế phù hợp với xu hướng chung của kinh tế thế giới. Kiểm toán là một lĩnh vực mới ở Việt Nam. Cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ, sâu sắc về một hệ thống kiểm toán hoàn chỉnh. Mục đích của chuyên đề này...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Hoạt động Kiểm toán báo cáo tài chính tại một số Công ty Kiểm toán độc lập Việt nam

  1. LUẬN VĂN: Hoạt động Kiểm toán báo cáo tài chính tại một số Công ty Kiểm toán độc lập Việt nam
  2. Lời mở đầu Cùng với Nghị định 70/CP (11/07/1994) đã đánh dấu sự xuất hiện của kiểm toán ở Việt Nam trong thời kỳ nền kinh tế chuyển đổi. Sự xuất hiện của kiểm toán là một đòi hỏi tất yếu của công cuộc phát triển kinh tế phù hợp với xu hướng chung của kinh tế thế giới. Kiểm toán là một lĩnh vực mới ở Việt Nam. Cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ, sâu sắc về một hệ thống kiểm toán hoàn chỉnh. Mục đích của chuyên đề này chỉ nhằm làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản nhất. Từ đó áp dụng vào thực tiễn nước ta trên cơ sở kế thừa những ưu điểm và có sự cân nhắc để phù hợp với những đặc điểm riêng. Xuất phát từ ý nghĩa trên em đã chọn đề tài “Hoạt động Kiểm toán báo cáo tài chính tại một số Công ty Kiểm toán độc lập Việt nam”, để mong tìm kiếm những giải pháp tích cực hỗ trợ phát triển của các Công ty Kiểm toán độc lập Việt nam. Nội dung đề án bao gồm: - I. Tổng quan về Kiểm toán độc lập. - II. Thực trạng hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt nam.. - III. Một số ý kiến đề xuất nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính của KTNN Việt nam.
  3. I.Tổng quan về kiểm toán độc lập 1. Kiểm toán độc lập là gì ? Kiểm toán độc lập là một hoạt động kiểm toán được tiến hành bởi các kiểm toán độc lập thuộc các Công ty, các văn phòng kiểm toán chuyên nghiệp. Kiểm toán độc lập là hoạt động tư vấn được pháp luật thừa nhận và bảo hộ, được quản lý chặt chẽ bởi các hiệp hội chuyên ngành kiểm toán. Theo định nghĩa của Liên Đoàn Kế toán Quốc tế thì kiểm toán độc lập là quá trình kiểm tra các số liệu tài liệu của doanh nghiệp do các kiểm toán viên độc lập thực hiện xác nhận tính trung thực, hợp lý của các báo cáo tài chính và cung cấp kết quả kiểm toán cho những người trả phí kiểm toán. Để đảm bảo tính độc lập khách quan, kiểm toán độc lập thường được tổ chức thành các Công ty cổ phần, chi nhánh hoặc văn phòng kiểm toán và các kiểm toán viên độc lập. Các kiểm toán độc lập là đội ngũ hành nghề chuyên nghiệp có kỹ năng nghề nghịêp và đạo đức, phải trải qua các cuộc thi tuyển quốc gia và phải đạt được tiêu chuẩn nhất định về bằng cấp và kinh nghiệm. ở Việt nam, quy chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân (Ban hành theo nghị định số 07 - CP - 29/1/1994 của chính phủ) đã ghi rõ: "Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận của kiểm toán viên chuyên nghiệp thuộc các tổ chức kiểm toán độc lập về tình đúng đắn hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp, các cơ quan, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức xã hội (gọi tắt là các đơn vị kiểm toán) khi có yêu cầu của các đơn vị này". 2. Sự ra đời và phát triển của kiểm toán độc lập ở Việt nam Kiểm toán độc lập ra đời xuất phát từ nhu cầu khách quan kiểm tra và xác nhận độ tin cậy của báo cáo tài chính theo các chuẩn mực và nguyên tắc đã được xây dựng. Kiểm toán độc lập ra đời và phát triển cùng với nền kiểm toán thị trường, tiền
  4. thân của nó là dịch vụ kiểm toán độc lập có từ hơn trăm năm nay, phát triển mạnh mẽ thâm nhập vào mọi ngành, mọi lĩnh vực kiểm toán. Trước năm 1975 thành phố Sài Gòn đã có văn phòng kiểm toán của Công ty Price Waterhouse, công ty SGV. Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng cả nước đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung thì văn phòng đại diện trên chấm dứt hoạt động. Sau một thời gian thực thi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung thì ít người biết đến kiểm toán độc lập là gì? Sau khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường để đáp ứng nhu cầu quản lý, những người quan tâm đến lĩnh vực thông tin tài chính trong doanh nghiệp và thẩm định các dự án sao cho có hiệu quả, giúp nhà nước giảm bớt công tác điều tiết vĩ mô có hiệu qủa, tính tất yếu, khách quan là phải tồn tại kiểm toán. Đánh dấu một bước ngoặt nổi bật: 5/1991 Chính phủ ra Quyết định 70/CP thành lập Công ty Kiểm toán Việt nam (VACO). Công ty Kiểm toán Việt nam (VACO) là Công ty đầu tiên được thành lập, cùng với nhu cầu của nền kinh tế và hệ thống các văn bản và quy chế về kiểm toán của Bộ Tài Chính được ban hành, các chuẩn mực kiểm toán được áp dụng thì các loại hình kiểm toán độc lập dần dần ra đời dưới các hình thức khác nhau như 100% vốn nước ngoài, Công ty liên doanh, Công ty trong nước bao gồm: - Công ty Kiểm toán Việt nam Thuỷ Chung. - Công ty Kiểm toán Việt nam (VACO). - Công ty dịch vụ tư vấn tài chính, kiểm toán kế toán (AASC). - Công ty tư vấn kiểm toán (AC). - Công ty tư vấn và kiểm toán Sài Gòn (AFC). - Công ty kiểm toán Đà Nẵng. - Công ty kiểm toán và dịch vụ tin học (AISC). - Công ty kiểm toán Hạ Long (HAACO). Các Công ty liên doanh: - Công ty kiểm toán Việt nam - Deloitte Touch Touhmatsu (VACO - DTT). - Công ty Cooper and Lybrand - AISC. Công ty 100% vốn nước ngoài: - Peat Marwick Việt nam (KPMG). - Pice & Water house - Coopers Việt nam(PWC).
  5. - arthur Andersen Việt nam (AA). - earnst & Young Việt nam (E&Y). Các tổ chức trong nước và ngoài nước. - Văn phòng đại diện của các Công ty kiểm toán quốc tế: Một số Công ty chưa được phép thành lập Công ty liên doanh hoặc Công ty 100% vốn nước ngoài hoặc đang tìm hiểu thị trường Việt nam thì có thể xin giấy phép đặt văn phòng đại diện. Văn phòng đại diện của Công ty kiểm toán, nếu có giấy uỷ quyền của Công ty mẹ thì có thể phối hợp với Công ty kiểm toán ở Việt nam để cùng ký hợp đồng kinh tế. Tổ chức hiệp hội kế toán Việt nam (VAC): Là một tổ chức quần chúng, tự nguyện của những công dân Việt nam làm nghề kế toán và kiểm toán. Mục đích của Hội Kế toán Việt nam là tập hợp, đoàn kết và động viên công dân Việt nam làm nghề kế toán và kiểm toán để phổ biến kiến thức, trao đổi kinh nghiệm nghề nghiệp, nâng cao trình độ, giúp đỡ nhau trong công tác chuyên môn Các tổ chức kiểm toán quốc tế: Các tổ chức nước ngoài muốn hoạt động ở Việt nam phải được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy phép. Nhà nước Việt nam khuyến khích các tổ chức kiểm toán quốc tế vào hoạt động ở Việt nam, đó là điều kiện thúc đẩy các tổ chức kinh tế phát triển và là điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư vào Việt nam. II. Thực trạng hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt nam 1. Một vài nét tìm hiểu hoạt động của các công ty kiểm toán tại Việt nam. Công ty Kiểm toán Việt nam được thành lập theo quyết định QĐ 165/ QQĐ/TCCB ngày 13 tháng 5 năm 1991 với tê giao dịch VACO và Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính, Kế toán, Kiểm toán theo quyết định QĐ164/QQD/TCCB với tên giao dịch AASC. VACO và AASC không chỉ là người tiên phong trong ngành nghề kiểm toán ở Việt nam, mà còn là người - bằng việc thực tế của mình đã truyền bá kiến thức, chuẩn mực và các nguyên tắc kiểm toán quốc tế vào Việt nam, cũng như qua nghiên cứu hoạt động thực tiễn đã xây dựng nền móng cho phát triển nguyên tắc và chuẩn mực kiểm toán ở Việt nam. 2. Cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm toán độc lập.
  6. Xét về môi trường pháp lý cho dịch vụ kiểm toán đến nay đã có 4 văn bản pháp luật là Nghị định 07/CP ngày 29/01/1994 của Chính phủ ban hành qui chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân. Thông tư số 22 TC/CĐKT ngày 19/3/1994 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện qui chế kiểm toán độc lập. Quyết định số 237 TC/QĐ/CĐKT ngày 19/3/1994 của Bộ Tài chính ban hành qui chế thi tuyển và cấp chứng chỉ kiểm toán viên và thông tư số 04/1999/TC-BTC ngày 12/01/1999 của Bộ Tài chính hướng dẫn đăng ký hành nghề kiểm toán. Ngoài ra Ngân hàng nhà nước có Quyết định số 322/1999/QĐ-NHNN ngày 14/9/1999 ban hành qui chế tổ chức thực hiện kiểm toán độc lập với các tổ chức tín dụng, uỷ ban chứng khoán Nhà nước có Quyết định số 26/2000/QĐ-UBCK ngày 05/01/2000 ban hành qui định về lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập cho các tổ chức phát hành và kinh doanh chứng khoán. Chuẩn mực (CM) là những nguyên tắc có hiệu lực để đo lường chất lượng công việc. Các chuẩn mực kiểm toán (CMKT) được ban hành để hướng dẫn KTV làm việc với chất lượng cao, đồng thời để đánh giá công việc của KTV. Do đó, CMKT đóng vai trò chủ yếu trong việc chuẩn hóa hoạt động kiểm toán và giải quyết vấn đề trách nhiệm pháp lý cuả KTV. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. - Căn cứ vào Nghị định số 15/CP ngày 2/3/1993 của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ. Căn cứ vào Nghị định số 178/CP ngày 28/10/1994 của Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Bộ Tài chính. Căn cứ vào Nghị định số 07/CP ngày 29/1/1994 của Chính phủ ban hành quy chế KTDL trong nền kinh tế quốc dân. Bộ tài chính đã quyết định ban hành 10 CMKT: CM số 200: Mục tiêu của nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo là quy định và hướng dẫn áp dụng các mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính. CM số 210: "Hợp đồng kiểm toán" mục tiêu của CM là quy định các nguyên tắc và nội dung cơ bản của thoả thuận giữa Công ty kiểm toán với khách hàng về các điều khoản và điều kiện:
  7. + Của hợp đồng kiểm toán. + Về trách nhiệm của Công ty kiểm toán và khách hàng khi thực hiện hoặc thay đổi các điều khoản của hợp đồng kiểm toán. CM còn hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và nôi dung cơ bản các hoạt động kiểm toán về ký kết và thực hiện hợp đồng kiểm toán phải phù hợp với quy định của pháp luật về hợp đồng kinh tế và CM kiểm toán này. CM số 230: "Hệ số kiểm toán" quy định các nguyên tắc thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản liên quan đến việc lập, thu thâp, phân loại, sử dụng việc lưu trữ hồ sơ kiểm toán BCTC. CM số 700: " Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính quy định các nguyên tắc thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản đối với nội dung và hình thức của báo cáo kiểm toán, do KTV và Công ty kiểm toán công bố sau khi thực hiện Công ty kiểm toán báo cáo tài chính của một đơn vị. CM số 250: "Xem xét tính tuân thủ pháp luật và các quy định trong kiểm toán báo cáo tài chính, quy định, các nguyên tắc thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản cho KTVvà Công ty kiểm toán khi xem xét tính tuân thủ pháp luật và các quy định của đơn vị được kiểm toán khi kiểm toán báo cáo tài chính. CM số 310: "Hiểu biết về tình hình kinh doanh" quy định, các nguyên tắc thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản để tìm hiểu tình hình kinh doanh và hướng dẫn nội dung cần thiết về tình hình kinh doanh, tầm quan trọng của sự hiểu biết đối với KTV thực hiện công việc kiểm toán, mối quan hệ giữa hiểu biết đến các giai đoạn trong quá trình kiểm toán, cách thu thập và sử dụng hiểu biết đó. CM số 500: "Bằng chứng kiểm toán" quy định các nguyên tắc thủ tục cơ bản về hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản đối với số lượng và chất lượng các bằng chứng kiểm toán cần thu thập khi kiểm toán báo cáo tài chính. CM số 520: "Các thủ tục phân tích" CM này quy định các nguyên tắc thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản liên quan đến thủ tục phân tích trong quá trình kiểm toán
  8. CM số 570: "Tính liên tục hoạt động kinh doanh", quy định các nguyên tắc thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản đối với trách nhiệm của KTV trong việc xem xét tính liên tục hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp đã sử dụng để lập và trình bày báo cáo tài chính CM số 580: "Giải trình cuả quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản trong việc thu thập và sử dụng các giải trình của giản đối đơn vị được kiểm toán như nhiều báo cáo kiểm toán, các thủ tục được áp dụng để đánh gía và lưu trữ các giải trình của giản đối, các biện pháp xử lý giản đối từ chối cung cấp các giải trình. 3. Vai trò của kiểm toán độc lập trong nền kinh tế Dù hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực kinh tế nào thì kết quả kinh doanh hàng năm của doanh nghiệp đều thể hiện trên báo cáo tài chính (bảng tổng kết tài sản, báo cáo các kết quả kinh doanh, bản giải trình). Vì nhiều nguyên nhân khác nhau, các chủ doanh nghiệp - người có trách nhiệm lập báo cáo tài chính đều muốn che giấu những phần yếu kém hoặc khuyếch trương kết quả kinh doanh của mình trên các báo cáo tài chính đó. Trái lại những người quan tâm đến kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp lại đòi hỏi sự trung thực, chính xác của báo cáo tài chính. Vì vậy cần có sự kiểm tra và xác nhận của người thứ ba: kiểm toán viên độc lập - những người hoạt động theo những nguyên tắc bắt buộc và có đủ năng lực, uy tín với chủ doanh nghiệp và những người quan tâm đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Do đó có thể phân tích vai trò của kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập nói riêng trên những mặt chủ yếu sau: Thứ nhất: kiểm toán tạo niềm tin cho những "người quan tâm". Trong cơ chế thị trường có nhiều người quan tâm đến tình hình tài chính và sự phát triển của nó trong tài liệu kế toán, có thể kể đến là: Các cơ quan nhà nước cần có thông tin trong thực tế điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật, chính sách kinh tế của mình với mọi thành phần, mọi hoạt động xã hội.
  9. Chỉ có hoạt động kiểm toán phát triển trên cơ sở khoa học thực sự mới đáp ứng được yêu cầu thông tin cho những quyết sách của nhà nước và kiểm toán mới thực sự trở thành "cái nền" vững chắc cho cả sự can thiệp trực tiếp lẫn quản lý gián tiếp của nhà nước. Các nhà đầu tư cần có tài liệu tin cậy để trước hết cơ hướng đầu tư đúng đắn, sau có điều hành, sử dụng vốn đầu tư và cuối cùng có tài liệu trung thực về ăn chia phân phối kết quả đầu tư, chẳng hạn như: Các cổ đông góp vốn kinh doanh hoặc mua cổ phiếu của doanh nghiệp nhưng cũng không dễ gì có thể kiểm tra kỹ lướng bản báo cáo tài chính (do không có nghiệp vụ hoặc không phải ai cũng có thể kiểm tra) do đó kho báo cáo tài chính đã được kiểm toán viên xác nhậ là trung thực, hợp lý thì có thể yên tâm ăn chia lợi tức và quyết định tiếp tục hoặc không tiếp tục tham gia kinh doanh. Các ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn cũng phải nắm chắc tình hình tài chính kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng để quyết định cho vay, thu hồi vốn vay hoặc không cho vay. Kiểm toán viên sẽ giúp ngân hàng làm được việc đó. Như vậy để thu hút của các nhà đầu tư và tạo cơ hội thuân lợi cho việc sử dụng hợp lý mọi nguồn đầu tư, cần có những thông tin trung thực và khách quan về tình hình tài chính trước hết và chủ yếu thông qua kiểm toán toàn bộ các bảng khai thác tài chính về tài sản, về thu nhập, về đồng tiền cùng các bảng thuyết minh kèm theo. Các nhà quản lý doanh nghiệp và các nhà quản lý khác cần thông tin trung thực không chỉ trên các bảng khai tài chính mà còn thông tin cụ thể về tài chính, về hiệu quả và hiệu năng của mỗi bộ phận để có những quyết định trong mọi giai đoạn quản lý, thông qua những nhận xét của kiểm toán viên sẽ giúp cho các chủ doanh nghiệp kịp thời phát hiện ra những sai sót, lãng phí hay vi phạm pháp luật do cố tính hay cố ý, để xử lý kịp thời hoặc ngăn ngừa các tổn thất. Điều đó giúp doanh nghiệp hạn chế được nhiều rủi ro hoặc phát hiện ra những thế mạnh, những tiềm năng tài chính nội tại đang có trong doanh nghiệp mà chỉ có kiểm toán viên với bề dầy kinh nghiệm thực tế mới có thể phát hiện ra được. Trong kinh tế thị trường người lao động có quyền lựa chọn nơi làm việc ổn định và có mức thu nhập cao.
  10. Báo cáo tài chính của một doanh nghiệp làm ăn có lãi được kiểm toán viên xác nhận sẽ có sức hấp dẫn người lao động lành nghề, chất lượng. Tất cả những người quan tâm này không cần hoặc không thể biết tất cả các nghiệp vụ của "nghề" tài chính kế toán nhưng cần biết thực trạng của hoạt động này. Chỉ có kiểm toán mới đen lại cho họ niềm tin vào những xác minh độc lập và khách quan. Có thể nói việc tạo ra niềm tin cho những người quan tâm là yếu tố quyết định sự ra đời và phát triển của kiểm toán với tư cách là một hoạt động độc lập Thứ hai: kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ có nền nếp hoạt động tài chính kế toán nói riêng và hoạt động của đơn vị kiểm toán nó chung. Hoạt động tài chính bao gồm nhiều mối quan hệ về đầu tư, về kinh doanh, về phân phối, về thanh toán. Tính phức tạp của hoạt động này càng tăng lên bởi quan hệ chặt chẽ giữa các quan hệ tài chính với lợi ích của con người. Trong khi đó thông tin kế toán là sự phản ánh của hoạt động tài chính. Ngoài vật chứa đựng những phức tạp của quan hệ tài chính, thông tin kế toán còn là sản phẩm của quá trình xử lý thông tin bằng phương pháp kỹ thuật rất đặc biệt. Do đó nhu cầu hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nền nếp trong quản lý tài chính càng đòi hỏi thường xuyên và cao hơn. Thứ ba: là kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý. Kiểm toán không chỉ có chức năng xác minmh mà còn có chức năng tư vấn. Trong điều kiện chuyển đổi của nền kinh tế xuất hiện nhiều quan hệ mới phức tạp mà hệ thống pháp lý chưa hoàn chỉnh, kinh nghiệm và chuyên gia giỏi về quản lý chưa có nhiều. Do đó duy trì ky cương và bảo đảm phát triển đúng hướng chỉ có thể có được trên cơ sở xây dựng đồn bộ và tổ chức thực hiện tốt kiểm toán trên mọi lĩnh vực để trên cơ sở tích luỹ kinh nghiệm từ xác minh đi đến tư vấn cho mọi lĩnh vực hoạt động 4. Đội ngũ kiểm toán viên độc lập ở Việt nam: Đội ngũ nhân viên hoạt động trong các công ty kiểm toán độclập ở Việt nam. Do kiểm toán là một lĩnh vực còn mới mẻ đối với nước ta nên khi hoạt động không tránh khỏi những bất cập và khó khăn. Tuy nhiên kiểm toán nói riêng và kiểm toán độc lập nói chung đã có được những bước tiến đáng kể. Để có thể tiếp nhận một cách đầy đủ và có hệ thống quy trình kiểm toán tiên tiến của quốc tế Nhà nước đã cho phép thành lập công ty liên doanh để tận dụng tối
  11. đa những trợ giúp của các nước có nền kiểm toán phát triển về chuyển giao công nghệ kiểm toán và đào tạo nhân viên về cả kĩ thuật kiểm toán và quản lý quốc tế. Hiện nay chưa có số liệu thống kê chính thức số lao động và cơ cấu lao động trong các công ty kiểm toán độc lập. Theo tạp chí kế toán số 26 tháng 10/2000 số lao động ước tính khoảng 1.500 lao động, trong đó có khoảng 300 kiểm toán viên cấp quốc tế. Nhìn chung, đội ngũ kiểm toán viên độc lập ở Việt nam còn nhiều hạn chế do đó chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường. Nhận thức được điều này các công ty kiểm toán đã bắt đầu coi trọng chiến lược đào tạo nhân viên. Thông qua nhiều hình thức đào tạo như trong nước, ngoài nước trong công ty, ngoài công ty, thuê giảng viên, thảo luận theo nhóm...chất lượng nhân viên sẽ càng được nâng cao. Trong đó phải kể đến chương trình “Quốc tế hoá đội ngũ nhân viên” mà biện pháp chủ yếu là tăng cường các khoá đào tạo nhân viên thông qua các khoá đào tạo về kĩ thuật nghiệp vụ và kĩ năng quản lý. Cùng với việc cử nhân viên ra nước ngoài để tiếp thu kiến thức tiên tiến của quốc tế, các công ty kiểm toán đã xây dựng và thực hiện các khoá đào tạo nghiệp vụ quản lý ngang tại công ty. Không chỉ đơn thuần là những đơn vị kinh doanh mà các công ty kiểm toán còn tích cực tham gia đóng góp vaò sự phát triển chung của ngành kiểm toán đó là những ý kiến thiết thực tại các cuộc hội thảo, nghiên cứu và soạn thảo chế độ kế toán doanh nghiệp, các chuẩn mực kế toán và kiểm toán ở Việt nam, đóng góp ý kiến với Bộ tài chính trong việc sửa đổi, bổ sung các thông tư hướng dẫn về kế toán tài chính, đầu tư nước ngoài. 5. Nhu cầu về dịch vụ kiểm toán. Một khi báo cáo tài chính của doanh nghiệp được kiểm toán viên độc lập kiểm tra và xác nhận là "trung thực và hợp lý" sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Xuất phát từ vai trò rất quan trọng của kiểm toán trong quá trình kinh doanh phần lớn cảu doanh nghiệp đã tự nguyện kiểm toán khi: - Doanh nghiệp muốn làm ăn chính đáng, luôn đòi hỏi sự chính xác. trung thực, khách quan của số liệu. - Khi sát nhập hoặc chia tách doanh nghiệp. - Khi xảy ra các sự cố, rủi ro lớn về kinh tế. - Khi có sự tranh chấp trong nội bộ hoặc giữa các doanh nghiệp.
  12. - Khi thay đổi người lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp. - Khi thành lập mới xi nghiệp liên doanh với cá nhân hoặc tổ chức trong ngoài nước. Bên cạnh sự tự nguyện của các doanh nghiệp còn có sự bắt buộc phải kiểm toán theo pháp luật. ở Việt nam ngay sau khi có tổ chức kiểm toán độc lập cũng quy định " báo cáo tài chính của các Công ty nước ngoài và Công ty liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài phải được kiểm toán độc lập" (Công văn số 1248 TC/CĐKT ngày 10/9/1991 của Bộ tài chính). Luật đầu tư nước ngoài ở Việt nam và Nghị định 18/CP của Chính phủ cũng đã quy định rằng. Báo cáo tài chính hàng năm của các xi nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải được một tổ chức kiểm toán độc lập hợp pháp ở Việt nam kiểm tra, xác nhận trước khi nộp cho cơ quan thuế. Theo yêu cầu của một tổ chức nào đó như: Hội đồng quản trị của thị trường chứng khoán yêu cầu người tham gia phát hành cổ phiếu hoặc ngân hàng yêu cầu người cho vay tiền phải được kiểm toán báo cáo tài chính. Doanh nghiệp nhà nước khi thực hiện cổ phần hoá cũng phải kiểm toán báo cáo tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp. Phù hợp với sự phát triển của các tổ chức kiểm toán độc lập và yêu cầu quản lý nhà nước sẽ từng bước mở rộng diện các đối tượng phải được kiểm toán độc lập luôn làm cơ sở cho việc điều hành của nhà nước. III. Một số ý kiến đề xuất nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính của KTNN Việt nam Tóm lại trong một nền kinh tế đang chuyển đổi, tuy còn nhiều vấn đề là những cản ngại cho quá trình phát triển thị trường kiểm toán nhưng đồng thời nó cũng mở ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp nói chung và công ty kiểm toán độc nói riêng. Đó là mảnh đất màu mỡ đang chờ đợi các công ty kiểm toán độc lập lựa chọn giống tốt để gặt hái thành công. Trong phạm vi đề án này, tôi xin đưa ra một vài ý kiến nhận xét về tình hình thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính của các doanh nghiệp tại Công ty Kiểm toán
  13. độc lập cùng một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty. 1. Những vần đè tồn tại. a. Khung pháp lý. Mặc dù hiện nay, Việt nam đã có quy chế về Kiểm toán độc lập, nó vẫn chưa xây dựng xong các chuẩn mực kế toán - kiểm toán tiến gần đến chuẩn mực quốc tế vì thế nhiều công ty kiểm toán độc lập phải vận dụng các chuẩn mực kế toán và kiểm toán quốc tế dù rằng biết rõ có nhiều điểm không phù hợp với khung cảnh nền kinh tế Việt nam đang trong giai đoạn chuyển đổi. Từ đó dẫn đến những hệ quả khác nhau chẳng hạn như: Việc đánh giá chất lượng của một báo cáo kiểm toán còn thiếu căn cứ chung để làm thước đo. Hoạt động có tranh chấp nổ ra, chúng ta cũng chưa có đến cơ sở giải quyết các vấn đề thuộc trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên. Cũng chính vì thiếu một hệ thống chuẩn mực này cho nên quan điểm của các kiểm toán viên so với quan điểm của cơ quan thuế vụ vẫn còn nhiều khoảng cách. Điều này khiến cho nhiều doanh nghiệp có vốn nước ngoài ngạc nhiên vì sao các báo cáo kết quả kiểm toán ít được cơ quan thuế thừa nhận dẫn đến sự nghi ngờ về chất lượng kiểm toán. - Một khía cạnh khác cũng cần lưu ý đó là tư cách pháp lý của các công ty kiểm toán độc lập. Có nhiều công ty kiểm toán độc lập Việt nam thuộc loại hình doanh nghiệp, có cơ quan chủ quản là bộ tài chính đã khiến cho rất nhiều người băn khoăn, nghi ngờ về tính độc lập của những công ty này. Đến nay, theo các đạo luật về loại hình doanh nghiệp Việt nam thì hầu hết các công ty kiểm toán độc lập ở Việt nam đều thuộc loại công ty trách nhiệm hữu hạn. Kể cả các công ty kiểm toán độc lập ở nước ngoài đang thuộc loại công ty hợp danh, chịu trách nhiệm vô hạn nhưng khi vào Việt nam, theo luật đầu tư nước ngoài lại được thành lập doanh nghiệp theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn. Điều này nếu cứ tiếp tục sẽ khiến cho những người sử dụng báo cáo kết quả kiểm toán nghi ngờ về khả năng bồi thường của công ty khi có sự cố xảy ra.
  14. Việc cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm ăn tại Việt nam đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên nói riêng trong lĩnh vực kế toán - Kiểm toán còn có nhiều bất cập nảy sinh: Quy định các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải thực hiện chế độ kế toán hiện hành của Việt nam, nếu có nhu cầu thực hiện chế độ kế toán khác phải được bộ tài chính chấp nhận bằng văn bản. Như vậy khó cho các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và các đơn vị hợp tác kinh doanh vì nếu áp dụng chế độ kế toán Việt nam sẽ gặp bất cập so với chế độ kế toán tại nước ngoài yêu cầu. Tính đặc thù ở các tài khoản, các báo cáo định kỳ, chứng từ gốc trong khi pháp lệnh kế toán thống kế đang có hiệu lực, không cho phép tồn tại hai hệ thống kế toán khó đánh giá hiệu quả kinh doanh. Từ đó đặt ra vấn đề là mức độ áp dụng pháp lí của các báo cáo tài chính đã được kiểm toán. Hiện nay các tiêu chuẩn của kiểm toán đang thu hút được nhiều nhà quản lí. ở Việt nam bên cạnh những công ty kiểm toán độc lập trong nước bộ tài chính đã cho phép một số công ty kiểm toán nước ngoài hoạt động nhưng vì có những bất cập về kế toán và kiểm toán nên báo cáo tài chính của nhiều doanh nghiệp có vốn nước ngoài và liên doanh được công ty kiểm toán nước ngoài không được bộ tài chính Việt nam thừa nhận đối phó với tình hình một số doanh nghiệp đã mời hai công ty kiểm toán một của Việt nam một của nước ngoài hai công ty này kiểm toán và xác nhận báo cáo tài chính, tuy nhiên đó không phải là một giải pháp tối ưu. b. Về phía các tổ chức kiểm toán độc lập trong nước. Do thiếu hiểu biết về quản trị doanh nghiệp trong cơ chế thị trường thiếu những chuyên gia có liên quan cho nên các tổ chức kiểm toán chưa mạnh dạn thực hiển các dịch vụ tư vấn quản trị là điều mà các nhà quản lí quan tâm. ở các nước mà hoạt động kiểm toán trở thành quen thuộc người ta coi nghề kiểm toán ngang hàng với nghề luật sư và nghề thầy thuốc. Đối với kiểm toán viên thông qua hoạt động kiểm toán họ phải chuẩn đoán được “sức khoẻ” của doanh nghiệp từ đó đề xuất các dịch vụ tư vấn có giá trị giúp cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. - Xét về khía cạnh con người.
  15. Về số lượng đội ngũ cán bộ và chức danh kiểm toán viên còn thiếu trầm trọng so với nhu cầu công việc. Về chất lượng đội ngũ kiểm toán viên phần lớn chưa được bồi dưỡng cơ bản và bài bản về chuyên môn nghiệp vụ và các kiến thức liên quan. Mặc dù đã được đào tạo chính quy chuyên ngành về kế toán, tài chính và một số chuyên ngành kinh tế kỹ thuật khác, họ có kinh nghiệm về công tác kế toán, tài chính...Nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu kiến thức về kiểm toán. Bởi vì kiểm toán là một hoat động nghề nghiệp đòi hỏi phải có sự đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, phong cách, kỹ năng, kỹ xảo thành thục trước khi thực thi nhiệm vụ. Một điểm nữa cần lưu ý đó là những tri thức ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại trong kiểm toán chưa được áp dụng. Hiện nay tại Việt nam cũng có rất nhiều công ty đang áp dụng hình thức kế toán máy nên đã giảm một khối lượng lớn công việc ghi chép, giữ sổ và lập báo cáo như trước đây. Tuy nhiên đội ngũ kiểm toán viên độc lập cũng chưa được đào tạo để thích ứng với yêu cầu kiểm toán trong môi trường máy vi tính. - Vì đạo đức nghề nghiệp các tổ chức kiểm toán và kiểm toán viên không được tự quảng cáo công khai về mình dưới bất cứ hình thức nào nhưng không phải vì thế mà kiểm toán viên không được chủ động tiếp cận khách hàng tìm hiểu nhu cầu và đề xuất các dịch vụ thiết thực mang lại hiệu quả cao cho khách hàng. Chính điều này cũng đã làm cho nhiều khách hàng chưa đến với các tổ chức kiểm toán Việt nam. c. Vì hoạt động kiểm toán ở nước ta còn mới mẻ. Kiến thức chuyên môn còn hạn hẹp nên nhận thức của công chúng và những người quan tâm chưa thực sự tin tưởng vào chất lượng công việc của kiểm toán cũng như vai trò của kiểm toán. Điều đó đã làm hạn chế đến sự phát triển của kiểm toán. Trừ những đơn vị kế toán có sự tham gia quản lý của nước ngoài, hầu hết những người quản lý ở các đơn vị chưa hiểu hết mục đích của hoạt động kiểm toán, chưa thấy được lợi ích thiết thực từ những tư vấn của kiểm toán viên. Nhiều doanh nghiệp đặc biệt là những doanh nghiệp nhà nước, công ty tư nhân, công ty cổ phần, chưa muốn tiết lộ những thông tin thực về hoạt động của doanh nghiệp mình cho người khác, trừ khi bị bắt buộc hoặc khi doanh nghiệp có sự cố.
  16. Vì vậy mà khách hàng của các tổ chức kiểm toán Việt nam hiện nay chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, liên doanh với nước ngoài, các tổ chức viện trợ hoặc tiếp nhận việc trợ (là những tổ chức bị bắt buộc phải kiểm toán), một số doanh nghiệp khác có sự cố tài chính... 2. Một số giải pháp để nâng cao chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính. Dù ở phương diện xu thế phát triển, phương diện môi trường kiểm toan, môi trường quản lý hay là nhu cầu tự thân thì việc nâng cao chất lượng kiểm toán đã nỗi nên như một nhu cầu bức xúc, nếu không nói là đã trở thành một đòi hỏi khách quan, một sự thách thức có tầm quan trọng lớn trên con đường tự đổi mới và hoàn thiện hoạt động kiểm toán. Muốn có chất lượng kiểm toán cần phải có những yếu tổ đảm bảo: a. Yếu tố về công cụ pháp lý: Tức là các luật và các văn bản pháp quy phải đầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu khi điều chỉnh các quan hệ kiểm toán và cả khi điều chỉnh các hoạt động của đối tượng kiểm toán. Song song với quá trình trên cần phải xây dựng chuẩn mực kiểm toán được nghiên cứu công phu làm chỗ dựa hành nghề cho kiểm toán. Theo một số chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực kế toán kiểm toán cả trong và ngoài nước đến cho rằng Việt nam nên áp dụng ngay hệ thống chuẩn mực quốc tế. Trong quá trình áp dụng nếu thấy có những sửa đổi, bổ xung cần thiết thì thực hiện việc sửa đổi. Lý do của ý tưởng này là hệ thống chuẩn mực quốc tế đã được xây dựng bởi các nước có hoạt động kiểm toán phát triển hàng trăm năm nay nên chất lượng của hệ thống chuẩn mực sẽ được bảo đảm. Trên thực tế nó đã trở thành một thành tựu chung của nhân loại. áp dụng hệ thống này thay vì tự xây dựng sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí và điều quan trọng là Việt nam sẽ có ngay một hệ thống chuẩn mực khá đẩy đủ, hoàn thiện bởi lẽ việc xây dựng chuẩn mực kiểm toán còn đòi hỏi phải có kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn rất cao. b. Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ kiểm toán viên. Với sự đòi hỏi của thực tế phải có một đội ngũ kiểm toán viên. Có đủ tư cách và trình độ chuyên môn cao, phù hợp với yêu cầu kiểm toán. Sự chính trực, lương tâm nghề nghiệp và trình độ am hiểu về luật pháp về quản lý tài chính về nghiệp vụ
  17. kế toán và kiểm toán có ý nghĩa quyết định chất lượng hoạt động của mỗ kiểm toán viên nói riêng cũng như của cả cuộc kiểm toán nóid chung. Thứ nhất: Thống nhất quan điểm về đào tạo đối tượng kiểm toán Có ý kiến cho răng trong các trường đại học tài chính kế toán, các trường kinh tế có thế hình thành chuyên ngành “đào tạo kiểm toán” có ý kiến khác lại cho rằng nghề kiểm toán không thể đào tạo cùng một lúc, song song với các chuyên ngành khác trong nhà trường, đối tượng đào tạo kiểm toán phải là giai đoạn nâng cao tiếp theo đối với những sinh viên đã tốt nghiệp đại học hoặc đã trải qua chuyên ngành kế toán. Còn theo quan điểm của mình người viết nghiêng về ý kiến thứ hai sở dĩ như vậy là vì đối với kiểm toán viên là rất cao họ không chỉ có phẩm chất đạo đức tốt mà họ còn phải có vốn kiến thức kinh tế xã hội chuyên môn nghiệp vụ pháp luật am hiểu các thông lệ quốc tế và đặc biệt phải có vốn thực tế từng trải mới có thể độc lập xử lí được nhữgn tình huống phức tạp diễn ra trong hoạt động kiểm toán. Thứ hai: Cần xây dựng mục tiêu trương trình đào tạo và bỗi dưỡng thống nhất trong toàn quốc về bồi dưỡng và đào tạo kiểm toán viên. Để thực hiện được giải pháp này bộ tài chính có thể chủ trì thành lập hội đồng gồm các thành viên có liên quan. Để biên soạn mục tiêu chương trình đào tạo và bồi dưỡng kiểm toán viên thống nhất toàn quốc. Thứ ba: Sau khi có chương trình thống nhất chúng ta có thể cho phép “ tự do hoá” việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ kiểm toán. Xung quanh vấn đề naỳ, có ý kiến cho rằng nhà nước nên thống chế chỉ cho một số trường đại học được phép đào tạo cán bộ kiểm toán nhưng chúng tổ cho rằng như vậy sẽ làm giảm mức độ cạnh tranh mà nên để nhiều trường được phép đào tạo trong lĩnh vực này để tạo ra sự ganh đua giữa các trường cũng như giữa các sinh viên học chuyên ngành kiểm toán trong các trường đó. Thứ tư: Xây dựng hệ thống tài liệu phục vụ giảng dậy học tập bao gồm các giáo trình lí thuyết các bài giảng thực tiễn các tình huống và quy trình kiểm toán các văn bản pháp luật.. Đồng thời đổi mới phương pháp giảng dậy nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo một đội ngũ giáo viên. Hơn nữa, qua
  18. đào tạo các chuyên gia giảng dạy có thể tác động tới những sinh viên giỏi tham gia vào công tác kế toán kiểm toán. Thứ năm: Đổi mới công tác tuyển chọn cán bộ đầu vào nhằm cả vào hai đối tượng: Chỉ lựa chọn cán bộ cũ có đủ điều kiện và thi tuyển kiểm toán viên từ những sinh viên ưu tú của các trường đại học để bỗi dưỡng thành một lớp kiểm toán viên giỏi phù hợp với yêu cầu mới và có đủ khả năng đảm trách nhiệm vụ lâu dài. Thứ sáu: Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về đào tạo bồi dưỡng kiểm toán viên giúp kiểm toán viên có cơ hội và điều kiện hội nhập với quốc tế từ đó có thể học hỏi kinh nghiệm từ các nước có nền kiểm toán phát triển như: Đức, Malayxia, Nhật, Anh...mối quan hệ quốc tế đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học phục vụ cho hoạt động kiểm toan. Tóm lại, đào tạo và bỗi dưỡng đội ngũ kiểm toán viên là vấn đề quan trọng và bức bách của hoạt động kiểm toán độc lập nói riêng. Muốn đào tạo đội ngũ kiểm toán viên có năng lực trí tuệ hoạt động có hiệu quả thì phải có chiến lược và việc xây dựng tiềm lực cho công tác đào tạo và bồi dưỡng. Điều đó sẽ đóng góp vào sự ơt của đội ngũ kiểm toán viên trong tương lai. c. Thời gian - giá phí - chất lượng kiểm toán: Chất lượng sản phẩm là một khái niệm tương đối, biến đổi theo thời gian, không gian, theo sự phát triển của nhu cầu xã hội và sự biến đổi của khoa học kỹ thuật. Vậy chất lượng dịch vụ kiểm toán được đánh giá như thế nào? “ Chất lượng dịch vụ kiểm toán làm mức độ thoả mãn mong muốn có được ý kiến xác đáng và đảm bảo bí mật về đối tượng kiểm toán của các đối tượn sử dụng thông tin được kiểm toán đồng thời thoả mãn ước muốn về những đóng góp của kiểm toán vẫn nhằm nâng cao hiệu quả quản lý kế toán tài chính theo chế độ chính sách Nhà nước của chủ thể sử dụng dịch vụ kiểm toán với thời gian định trước và mức giá phù hợp “(Theo định nghĩa của Ngô Đức Long:” Về chất lượng kiểm toán “tạp chí kế toán số 14/98). Chỉ tiêu 1: Mức độ xác đáng của ý kiến nhận xét về đối tượng kiểm toán và đảm bảo tính bí mật thông tin.
  19. Chỉ tiêu 2: Mức độ thoả mãn mong muốn về sự đóng góp của KTV cho chủ thể sử dụng dịch vụ kiểm toán nhằm nâng cao hiệu quản quản lý kế toán tài chính theo đúng chế độ chính sách Nhà nước. Chỉ tiêu 3: Đảm bảo đúng thời gian đã đề ra một cách hợp lí và giá phí phù hợp. Giá phí và thời gian kiểm toán là một chỉ tiêu trong ba chỉ tiêu đánh giá chất lượng kiểm toán. Nó gắn liền với 2 chỉ tiêu còn lại, thể hiện sự lựa chọn trong việc sử dụng vốn về quản lý chi phí của doanh nghiệp thực hiện kiểm toán. Thời gian đủ cần thiết để đảm bảo thực hiện cuộc kiểm toán làn khoảng thời gian không quá dài, làm tăng chi phí, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của tổ chức kiểm toán nhưng không thể quá ngắn chỉ để thực hiện một số bước công việc cần thiết nhằm đảm bảo cho ý kiến của mình, đồng thời phải kịp thời, phù hợp với yêu cầu về thời gian sử dụng các thông tin được kiểm toàn. Thời gian tiến hành kiểm toán dài hay ngắn phụ thuộc giá phí mà khách hàng có thể trả và giá phí kiểm toán là yếu tố đầu tiên tác động đến đơn vị khách hàng lựa chọn mời công ty kiểm toán nào? Ngày nay sự phát triển của công nghệ thông tin đã tác động mạnh mẽ và sâu rộng đến các mặt của hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động kế toán, kiểm toán nói riêng. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm toán giúp kiểm toán viên có thể mở rộng quy mô kiểm tra và quy mô mẫu chọn, giảm thiểu các thao tác công việc tính toán lại số liệu, mặt khác còn giúp kiểm toán viên trong xử lý dữ liệu, khảo sát tài liệu của khách hàng trên hệ thống máy tính của doanh nghiệp như một phần cuả các khảo sát kiểm soát Thực tế kiểm toán báo cáo tài chính trong thời gian qua cho thấy các doanh nghiệp sử dụng máy vi tính để hoạch toán, lưu trữ chứng từ, sổ kế toán. Trước thực tế này, đòi hỏi công tác kiểm toán báo cáo tài chính cũng phải đổi mới về phương pháp kiểm toán cho phù hợp với hoạt động của các đơn vị được kiểm toán và đem lại hiệu quả trong quá trình kiểm toán. Vì vậy, các kiểm toán viên cần được đào tạo tin học cơ bản và từng bước nâng cao để kiểm toán trong môi trường máy vi tính. Nắm chắc chuyên môn nghiệp vụ có hiểu biết sâu rộng về các ngành quản lý vào sử dụng thành thạo máy vi tính để kiểm toán là điều kiện cần thiết nâng cao chất lượng công tác kiểm toán.
  20. Để nâng cao chất lượng kiểm toán thì KTV và công ty kiểm toán phải đặt giá phí kiểm toán ở mức độ phù hợp với thu nhập của các doanh nghiệp Việt nam trong một khoảng thời gian kiểm toán phù hợp. d. Một số kinh nghiệm rút ra qua hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính ở Việt nam (của một số công ty kiểm toán) nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính: Đối với các nước khác, kiểm toán độc lập báo cáo tài chính là bắt buộc nhưng ở Việt nam do hoạt động kiểm toán còn mới mẻ cho nên Nhà nước ta chưa bắt buộc đối với mọi doanh nghiệp phải được kiểm toán và doanh nghiệp chưa hiểu kiểm toán là gì ?, mặt khác, họ không muốn người thứ ba can thiệp vào tình hình tài chính của doanh nghiệp. Trong thực tế có những doanh nghiệp biết về công việc kiểm toán và hoạt động của các công ty kiểm toán qua các phương thức tiến hành kiểm tra hoạt động tài chính phụ thuộc vào nội dung và yêu cầu của từng hợp đồng kiểm toán. Sau đây xin trình bầy một số kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện kiểm toán ở Việt nam. + Trong công việc “Tìm hiểu khách hàng”: Đối với khách hàng thường xuyên sau mỗi cuộc kiểm toán công ty phải đánh giá và quan tâm đến những thay đổi trong kinh doanh của khách hàng và KTV phải bổ sung thêm thông tin vào hồ sơ thường trực. Đối với khách hàng mới chấp nhận mời kiểm toán thì trong giai đoạn tiếp theo phải hoàn thiện hồ sở thường trực về khách hàng. Khi thu thập thông tin về khách hàng phải bố trí những KTV giàu kinh nghiệm và am hiểu lĩnh vực kinh doanh của khách hàng. + Trong việc kiểm tra tính pháp lý của khách hàng, KTV cần phải kiểm tra chi tiết một số vấn đề sau: Giấy phép thành lập và điều lệ công ty khách hàng. Đối với công ty liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài cần xem xét: Nguồn vốn đầu tư, vốn pháp định, giấy phép đầu tư, tổng số vốn đóng góp, dạng vốn góp và các chứng từ liên quan đến vốn góp. Trong thực tế, có nhiều công ty liên doanh đã cố tình ghi trùng, ghi khống số tài sản góp (bên nước ngoài) vốn, có nhiều loại ngoại tệ (kỳ này ngoại tệ này, kỳ sau ngoại tệ khác) làm cho vốn góp tăng lên nhiều lần,...

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản