intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:69

0
647
lượt xem
145
download

LUẬN VĂN: Phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

An ninh quốc gia là vấn đề cơ bản, hệ trọng của mỗi quốc gia, là điều kiện hàng đầu để quốc gia tồn tại và phát triển. Bảo vệ an ninh quốc gia có vị trí đặc biệt quan trọng, là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. ý thức được điều đó Đảng và Nhà nước ta luôn xác định "Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân trong đó Quân đội nhân...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam hiện nay

  1. LUẬN VĂN: Phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam hiện nay
  2. Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài An ninh quốc gia là vấn đề cơ bản, hệ trọng của mỗi quốc gia, là điều kiện hàng đầu để quốc gia tồn tại và phát triển. Bảo vệ an ninh quốc gia có vị trí đặc biệt quan trọng, là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. ý thức được điều đó Đảng và Nhà nước ta luôn xác định "Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là n hiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt" [18]. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 6 cũng đã thông qua Luật An ninh quốc gia ngày 03 tháng 12 năm 2004; và ch ỉ rõ trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân. C ơ quan, tổ chức, công dân có trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật (Điều 8). Nguyên tắc hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia là "Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà n ước; huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc, lực l ượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia làm nòng cốt" (Điều 5, tiết 2). Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia trong những năm qua đã đạt được những kết quả quan trọng, an ninh chính trị tiếp tục được giữ vững, ổn định, giữ vững an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Những thành quả đó đã tạo đà cho s ự ổn định và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội chung của đất nước. Tuy nhiên, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ đối ngoại đa phương, đa dạng hoá đang đặt ra những thách thức mới, phức tạp đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia. Nhiệm vụ đó đòi hỏi cần có sự nỗ lực phát huy cao độ vai trò nhân
  3. tố chủ quan của Đảng, Nhà nước, quần chúng nhân dân tiến bộ cùng với lực l ượng nòng cốt là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia. Bởi vậy, việc nghiên cứu vấn đề " Phỏt huy vai trũ nhõn tố chủ quan trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam hiện nay " có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Vấn đề vai trò "nhân tố chủ quan" và " điều kiện khách quan" đã được nhiều nhà triết học quan tâm nghiên cứu. Ngay trong những tác phẩm kinh điển của các nhà triết học mác xít cũng đề cập đến vấn đề này. Cũng như ở Liên Xô (cũ) hay ở Việt Nam hiện nay có không ít những công trình nghiên cứu liên quan. Mỗi công trình nghiên cứu đề cập đến một góc độ riêng của việc phát huy vai trò nhân tố chủ quan, cũng như đi sâu vào những lĩnh vực cụ thể của sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, như công trình nghiên cứu: - "Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong xây dựng con ng ười mới ở Việt Nam", Luận án PTS của Nguyễn Thế Kiệt, Hà Nội, 1988. - "Về nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan. Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn ở nước ta hiện nay", Luận án tiến sĩ của Phạm Ngọc Minh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 200 0. - "Nhân tố chủ quan với việc bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở n ước ta hiện nay", Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Ninh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001. - "Phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong việc xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay", Luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Phương Thảo, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001. - "Phát huy nhân tố chủ quan trong việc xây dựng ng ười nữ trí thức mới Việt Nam hiện nay", Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Hà Thái, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002.
  4. - "Phát huy vai trò nhân t ố chủ quan trong việc tổ chức thực hiện nghị quyết Đảng ở nước ta hiện nay", Luận văn thạc sĩ của Vũ Hữu Phê, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004. - "Phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở Bà Rịa - Vũng Tầu hiện nay", Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hồng Lương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005. "Nhân tố chủ quan với việc giữ gìn, phát huy bản sắc v ăn hoá dân tộc Mường tỉnh Phú Thọ hiện nay", Luận văn thạc sĩ của Đinh Thị Hoa, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2006. Bên cạnh những công trình chuyên khảo về vấn đề này, trên các báo, tạp chí chuyên ngành cũng đăng tải rất nhiều bài báo, công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề phát huy vai trò nhân tố chủ quan, vấn đề bảo vệ an ninh quốc gia nh ư: - "Những yếu tố cơ bản làm tăng cường chất lượng của nhân tố chủ quan trong xây dựng chủ nghĩa xã hội" của Trần Bảo, Tạp chí Triết học số 3 tháng 9/1991. - "Xu hướng và các nhân tố bảo đảm định hướng XHCN của nền kinh tế nhiều thành phần" của Nguyễn Chí Mỳ, Tạp chí Cộng sản, số 10/5/1997. - "Một cách tiếp cận về cặp phạm trù " điều kiện khách quan" và "nhân tố chủ quan"", của Phạm Văn Nhuận, Tạp chí Triết học, số 6/1999. - "Quán triệt, thực hiện Luật an ninh quốc gia ", Tạp chí Công an nhân dân, số chuyên đề tháng 1/2006. - "Nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong tình hình hiện nay" của Lê Hồng Anh, Tạp chí Công an nhân dân, số 5/2006. - "Tăng cường công tác đảm bảo an ninh quốc gia khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới" của Trần Minh Thư, Tạp chí Công an nhân dân, số 7/2006. - Xã luận "Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự và xây dựng nhà n ước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở n ước ta", Tạp chí Công an nhân dân, số 9/2006...
  5. Kết quả nghiên cứu của các công trình trên đây rất có giá trị. Các tác giả đã đề cập đến nhiều góc độ khác nhau của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong xã hội nói chung, cũng như làm rõ thêm nhiều khía cạnh của mối quan hệ này và vận dụng vào giải quyết những vấn đề cụ thể. Các công trình trên cũng đề cập đến nhiệm vụ, trách nhiệm quyền hạn... trong bảo vệ an ninh quốc gia trên từng lĩnh vực cụ thể và chủ yếu liên quan đến công tác nghiệp vụ công an. Xong việc khai thác vẫn đề thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh Quốc gia từ góc độ nhân tố chủ quan thì chưa được các đề cập. Vì vậy, tác giả mạnh dạn đi sâu vào nghiên cứu vấn đề phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong sự nghiệp bảo vệ an ninh Quốc gia với mong muốn có những đóng góp nhất định về mặt lý luận và thực tiễn góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp chung bảo vệ an ninh quốc gia. 3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích vai trò nhân tố chủ quan trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, luận văn đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của nhân tố chủ quan trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia ở Việt Nam hiện nay. 3.2. Nhiệm vụ - Làm rõ khái niệm "nhân tố chủ quan" và " điều kiện khách quan" trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và vai trò của nó. - Khảo sát thực trạng việc phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia ở n ước ta hiện nay. - Đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia. 3.3. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung phân tích là vấn đề phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia hiện nay. Trong đó chủ yếu
  6. tập trung phân tích vấn đề phát huy vai trò nhân tố chủ quan của lực l ượng công an nhân dân – lực lượng nòng cốt bảo vệ an ninh quốc gia. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên c ứu 4.1. Cơ sở lý luận: Cơ sở lý luận của luận văn là dựa trên các nguyên lý, các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, quy định của ngành và kế thừa chọn lọc những công trình có liên quan. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn vận dụng phương pháp luận chứng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Sử dụng các ph ương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích, tổng hợp, lôgíc và lịch sử... 5. Đóng góp về khoa học của luận văn. - Góp phần luận chứng về vai trò của nhân tố chủ quan trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia hiện nay. - Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia. 6. ý nghĩa lý luận thực tiễn của luận văn Kết quả nghiên cứu của luận văn trước hết nhằm nâng cao nhận thức cho tác giả. Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy triết học trong các trường Công an nhân dân. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết.
  7. Chương 1 Nhân tố chủ quan và vai trò của nhân tố chủ quan trong sự nghiệp bảo vệ An ninh Quốc gia hiện nay 1.1. QUAN ĐIểM MáC -XíT Về NHÂN Tố CHủ QUAN 1.1.1. Khái niệm nhân tố chủ quan Mọi quá trình xã hội diễn ra thông qua sự tác động qua lại giữa “điều kiện khách quan” và “nhân tố chủ quan” đó là hình thức phổ biến của sự vận động và phát triển của xã hội. Cặp phạm trù “Điều kiện khách quan” và “Nhân tố chủ quan” được xác định trong hoạt động thực tiễn của con người và chính trong quá trình đó chủ thể hoạt động là những con người có ý thức. Khái niệm “nhân tố chủ quan” có mối quan hệ chặt chẽ với hệ thống các khái niệm “chủ thể”, “khách thể”, “ Khách quan”, “ chủ quan”, “điều kiện khách quan và điều kiện chủ quan”….. và được hình thành phát triển trong quá trình nghiên cứu, hoạt động của con người. Vì vậy, để hiểu nhân tố chủ quan tr ước hết chúng ta cần nghiên cứu các khái niệm trên Trong lịch sử triết học, các nhà triết học trước Mác đã nghiên cứu vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau, liên quan đến vấn đề cơ bản của triết học. Tuy nhiên họ chỉ dừng lại ở khuôn khổ nhất định, chưa đưa ra những khái niệm rõ ràng, khoa học. Hạn chế lớn nhất của các nhà triết học trước Mác là chỉ xem vấn đề chủ thể - khách thể, chủ quan - khách quan…trong khuôn khổ hoạt động nhận thức tách rời hoạt động thực tiến. Theo quan điểm của C.Mác, để có cách nhình khoa học về các khái niệm trên và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chúng phải đứng trên lập trường duy vật triệt để, khoa học. Quan điểm Mác-xít về khách thể và chủ thể được thể hiện và phát triển trong một số tác phẩm như “ Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, “ Bút ký triết học” của V.I. Lênin.
  8. Theo V.I. Lênin, con người với tư cách là chủ thể, là con người thực tiễn, con người hành động sáng tạo nhằm cải tạo khách thể (tự nhiên, xã hội). Chỉ trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới con người mới bộc lộ mình với tư cách là chủ thể. “Đặc trưng chủ yếu nhất của con người với tư cách là chủ thể là năng lực hoạt động sáng tạo, là khuynh h ướng tự mình thực hiện mình, tự cho mình, qua bản thân mình, một tính khách quan trong thế giới khách quan và tự hoàn thiện mình” [24, tr.228-229] Do đó, con người với tư cách là chủ thể có thể là một cá nhân, một nhóm người, một giai cấp hoặc một dân tộc….thực hiện việc nhận thức hoặc cải tạo một khách thể nhất định. Trong quá trình hoạt động, con người với tư cách là chủ thể tác động vào hiện thực khách quan như là đối tượng bên ngoài nhằm thoả mãn nhu cầu của mình. Bộ phận của hiện thực khách quan mà con người hướng tới nhận thức và cải tạo là khách thể. Như vậy, khách thể là tất cả nhứng gì mà chủ thể h ướng vào nhận thức và cải tạo. Khách thể được xác định tuỳ thuộc vào chủ thể tương ứng vì vậy khách thể không phải là toàn bộ hiện thực khách quan, nó chỉ là một bộ phận của hiện thực khách quan chịu sự tác động của chủ thể xác định. V.I. Lênin viết: “Đối với Chủ nghĩa Duy vật thì khách thể tồn tại độc lập với chủ thể và đư ợc phản ánh vào trong ý thức của chủ thể một cách chính xác nhiều hay ít” [45, tr.93]. Hiện thực khách quan vô cùng phong phú và khách thể với t ư cách là bộ phận của nó cũng rất đa dạng. Khách thể có thể là những hiện t ượng, quá trình thuộc giới tự nhiên cũng có thể là những hiện tượng quá trình thuộc về lĩnh vực đời sống xã hội như những quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị – xã hội, những quan hệ tư tưởng, những tổ chức xã hội hay những con người cụ thể. Tuy nhiên, khái niệm khách thể khác với khái niệm đối tượng. Đối tượng có thể là khách thể nhưng cũng có thể chỉ là một phần của khách thể mà chủ thể trực tiếp tác động đến.
  9. Khách thể và chủ thể có mối quan hệ biện chứng với nhau. Không thể xác định một khách thể cụ thể nếu chưa xác định rõ một chủ thể tương ứng và ngược lại. Khách thể và chủ thể luôn luôn gắn liền với nhau, không có chủ thể, khách thể trừu t ượng. Trong hoạt động thực tiễn, chủ thể luôn luôn tìm cách nhận thức và cải tạo khách thể theo mục đích của mình. Ngược lại, tuy chủ thể có vai trò nhận thức và cải tạo khách thể, nhưng khách thể lại quy định chủ thể. Khi chủ thể nhận thức đúng quy luật vận động của khách thể thì chủ thể có thể vận dụng quy luật đó một cách tích cực, sáng tạo, tác động vào khách thể. Trong quá trình đó, khách thể được cải tạo, được “nhận thức”, còn tư tưởng của chủ thể cũng được “khách thể hoá” Khi xem xét hoạt động cuả con người , người ta không chỉ nghiên cứu các khái niệm chủ thể, khách thể mà còn quan tâm đến các khái niệm “nhân tố chủ quan” “điều kiện khác quan”. Bởi lẽ những khái niệm này được dùng để chỉ những mỗi quan hệ giữa các yếu tố ý thức của con người và hoàn cảnh trong đó con người hoạt động. Khi nói đến cái “ Chủ quan” có quan điểm đồng nhất nó với khái niệm chủ thể. Có nghĩa là đồng nhất chủ quan với con người, trong đó có cả yếu tố vật chất lẫn yếu tố tinh thần của con người. Quan điểm khác lại coi “cái chủ quan” chính là yếu tố tinh thần của con ng ười bao gồm tri thức, tình cảm, tâm trạng, n ăng lực tổ chức. Ngoài ra còn quan điểm coi chủ quan chính là hoạt động có ý thức của con người. Nhìn chung các quan điểm trên đều cho rằng khái niệm chủ quan đều nói lên thuộc tính chung của chủ thể. Qua đó có thể hiểu: Cái “chủ quan” là tất cả những gì thuộc về ý thức của chủ thể. Cái “khách quan”là những tính chất yếu tố không phụ thuộc vào chủ thể tồn tại ngoài chủ thể. Tuy nhiên, không thể đồng nhất khái niệm cái khách quan và khái niệm hiện thực khách quan hay thế giới vật chất nói chung. Vì khách quan là thuộc tính của vật chất nhưng không phải cái khách quan nào cũng có thể quy về vật chất. Bởi lẽ cái
  10. khách quan được xem xét trong sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể. Vì vậy, nó có thể bao hàm cả những yếu tố thuộc về ý thức, khi nó nằm ngoài chủ thể và tồn tại không phụ thuộc vào ý thức của chủ thể. Trong hoạt động cụ thể, khi chủ thể tác động lên khách thể và biến đổi nó theo mục đ ính của mình, không phải lúc nào chủ thể hoạt đ ộng cũng dùng tất cả những năng lực, phẩm chất, yếu tố vốn có của mình, mà có thể chỉ huy động một phần, một bộ phận các yếu tố tạo thành cái chủ quan trong quá trình t ương tác với khách thể. Cái đó gọi là nhân tố chủ quan. Khái niệm nhân tố chủ quan được hiểu là những yếu tố, những phẩm chất của chủ thể tham gia trực tiếp vào hoạt động của chủ thể, tạo ra khả n ăng tích cực, sáng tạo trong hành động của chủ thể, cùng bản thân hoạt động của chủ thể nhằm cải tạo khách thể. Do đó, sẽ là sai lầm khi đồng nhất nhân tố chủ quan với hoạt động có ý thức hay hoạt động tự giác của con người. Những quan niệm này đã chỉ ra vai trò của ý thức, tính tự giác trong hoạt động của con người. Nhấn mạnh vai trò của ý thức trong phản ánh điều kiện khách quan. Chính sự nhấn mạnh này rất dễ dẫn đến tình trạng “chủ quan hoá” hoạt động của con người. Bởi lẽ, hoạt động của con người không chỉ thuần tuý thuộc về nhân tố chủ quan mà còn bị chi phối, quy định của điều kiện khách quan. Về vấn đề này A.K.U Le đôp đã phê phán: ... Nhân tố chủ quan không phải là ý thức nói chung (cũng hệt nh ư là hoạt động), mà là cái ý thức đã trở thành sự chỉ đạo, sự kích thích và phương châm của hoạt động. Nói cách khác là ý thức đã biến thành đặc điểm nhất định của hành vi, của hoạt động của chủ thể [50, tr.69]. Như vậy, giữa nhân tố chủ quan và chủ thể có sự thống nhất nh ưng không đồng nhất. Sự thống nhất thể hiện ở chỗ nhân tố chủ quan là thuộc về chủ thể, nh ưng khác nhau ở chỗ: nhân tố chủ quan là khái niệm chung để chỉ những yếu tố, đặc trưng cấu
  11. thành phẩm chất của chủ thể, được chủ thể huy động và trực tiếp tạo ra năng lực, cũng như động lực của chủ thể nhằm để nhận thức hoặc biến đối khách thể cụ thể. Do đó, đặc trưng cơ bản của “nhân tố chủ quan” chính là “tính tích cực sáng tạo” của chủ thể hoạt động . Vì vậy A.K.U Le Đôp đã có lý khi cho rằng: Vấn đề nhân tố chủ quan trong lịch sử dù người ta tiếp cận việc giải quyết nó về mặt nào và ở bình diện nào đi n ữa cũng chỉ có thể đ ược vạch ra thông qua s ự phân tích đ ặc tr ưng về chất của những chủ thể của lịch sử: Các t ập đoàn x ã hội, các giai cấp và những tổ chức của chúng, các quốc gia, các dân tộc. Nhưng không ph ải chính bản thân các giai cấp, các đ ảng phái, các nhà nước, v.v... mà là những thuộc tính, những phẩm chất, những trạng thái của chúng biểu hiện trong hoạt động đóng vai nhân tố chủ quan [50, tr.67]. Về mặt cấu trúc, nhân tố chủ quan bao gồm: Tri thức, ý thức, tình cảm và năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn của chủ thể, được biểu hiện ra trong hoạt động của chủ thể. Những phẩm chất này bao giờ cũng có tính hai mặt tích cực hoặc tiêu cực. Như vậy, nhân tố chủ quan chỉ là một bộ phận của cái chủ quan được chủ thể huy động , sử dụng trực tiếp trong quá trình tác động lên khách thể cụ thể-nó là một phần ý thức của chủ thể. Hơn nữa, trong quá trình hoạt động của chủ thể thì những yếu tố nh ư năng lực thể chất hay trạng thái của chủ thể đều có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình này. Nói đến nhân tố chủ quan là nói đến hoạt động có ý thức của chủ thể, là nói đến quá trình chủ thể sử dụng các sức mạnh vật chất, công cụ vật chất của con người và hoàn cảnh để nhận thức hoặc cải tạo hiện thực. Trong bản thảo kinh tế - triết học, C.Mác đã chỉ rõ: “Tư tưởng căn bản không thể thực hiện được gì hết. Muốn thực hiện được tư tưởng cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn”. Trong cấu trúc của nhân tố chủ quan, các nhân tố cấu thành đều có vai trò rất quan trọng và quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó, đa số các nhà nghiên cứu cho rằng
  12. nhân tố tri thức là cơ bản nhất vì nó là nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh của ý thức chủ thể. Tri thức là yếu tố căn bản của ý thức con người, là yếu tố đặc trưng của ý thức con người. Theo Mác: "Người ta chỉ có ý thức về cái gì đó khi có tri thức về nó". ý thức của con người nếu không được trang bị tri thức khoa học thì chỉ là ảo tưởng, lòng tin mù quáng. Vai trò của tri thức, của khoa học là yếu tố đặc biệt quan trọng đảm bảo vai trò chủ động tích cực sáng tạo trong hoạt động thực tiễn của chủ thể. Tình cảm, ý chí là sự định hướng thôi thúc bên trong để chuyển hoá hiểu biết thành quyết tâm hành động. K hái niệm nhân tố chủ quan có quan hệ mật thiết với khái niệm đ i ều kiện khách quan. Bấ t c ứ một chủ thể lịch sử xã hội nào trong hoạt đ ộng và tồn tại đều gắn liền với một hoàn cảnh cụ thể - đ ó là điều kiện khách quan. Các nhà nghiên cứu có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm điều kiện khách quan nhưng chủ yếu đều thống nhất ở một điểm là “ Tồn tại không phụ thuộc vào ý thức, ý chí của chủ thể và chi phối hoạt động của chủ thể”. Vì vậy, có thể nói: điều kiện khách quan là tổng thể những mặt,những nhân tố, những mối quan hệ tồn tại ở bên ngoài chủ thể, độc lập với chủ thể, hợp thành một hoàn cảnh hiện thực, trong đó chủ thể sống và thực hiện mọi hoạt động ở những thời điểm nhất định. Điều kiện khách quan luôn mang tính cụ thể, bao gồm những yếu tố vật chất, tinh thần, những quy luật khách quan…nó sẽ là những điều kiện cụ thể tạo nên môi trường hoàn thành, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của chủ thể. Việc nắm bắt được điều kiện, hoàn cảnh khách quan có ảnh h ưởng trực tiếp đến sự thành công hay thất bại trong hoạt động của chủ thể. Đặc điểm chủ yếu phân biệt điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan là ở chỗ, điều kiện khách quan hình thành và phát triển không phụ thuộc vào ý chí và ý thức của chủ thể. Còn nhân tố chủ quan hình thành và phát triển không những phụ thuộc vào ý
  13. thức, ý chí của chủ thể hành động mà còn phụ thuộc vào khách thể, vào điều kiện khách quan. Cùng một khách thể, một hiện tượng, trong mối quan hệ này thuộc vào những điều kiện khách quan còn trong những điều kiện và mối quan hệ khác lại thuộc vào nhân tố chủ quan. Việc xác định điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan phụ th uộc vào từng trường hợp cụ thể, phụ thuộc vào việc xác định chủ thể hành động. Do đó, ranh giới giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan chỉ là t ương đối, tuỳ thuộc vào chỗ xác định đâu là chủ thể, đâu là khách thể... Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan là mối quan hệ biện chứng. Sự tác động lẫn nhau giữa chúng tạo nên động lực thường xuyên thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Điều kiện khách quan đóng vai trò quyết định đối với nhân tố chủ quan, khô ng có điều kiện khách quan cần thiết thì mọi cố gắng chủ quan cũng không thể đem lại những thành công, hoạt động của con người không thể bất chấp những điều kiện khách quan. Mặt khác không được xem nhẹ vai trò chủ động, tích cực sáng tạo của nhân tố chủ quan đối với tiến trình phát triển xã hội. Trong những điều kiện khách quan chín muồi thì vai trò của nhân tố chủ quan có tính chất quyết định đối với việc biến những khả năng đang có thành hiện thực. Bởi lẽ những khả năng khách quan không thể thực hiện được nếu không thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Do đó, trong những hoàn cảnh nhất định, ý thức của con người có ảnh hưởng trực tiếp và to lớn đến việc thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của xã hội. 1.1.2. Vai trò nhân tố chủ quan trong hoạt động của con ng ười Lịch sử xã hội là lịch sử của con người, do con người. Để đáp ứng nhu cầu của mình con người tiến hành tác động, cải tạo với tự nhiên: “Thế giới không thoả mãn con người và con người quyết định biến đổi thế giới bằng hành động của mình” [24, tr.229]. Chính trong quá trình đó con người xác lập nên mối quan hệ khách quan giữa người với người - đó là quan hệ xã hội và tạo thành xã hội. “Xã hội với tính cách là hệ
  14. thống là tổng thể những hình thức hoạt động khác nhau của con người, các quan hệ xã hội, các hình thức cộng đồng của con người…” [5, tr.106]. Xã hội luôn luôn vận động và phát triển, quá trình phát triển đó bao giờ cũng là sự thống nhất giữa cái khách quan và cái chủ quan, giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan. Theo quan điểm Mác–xít, trong mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan thì điều kiện khách quan là tính thứ nhất, nhân tố chủ quan là tính thứ hai. Điều kiện khách quan quyết định nhân tố chủ quan, điều kiện khách quan quy định mục đính , phương tiện và phương pháp hành động của chủ thể. Tuy bị điều kiện khách quan quy định nhưng nhân tố chủ quan không phải hoàn toàn bị thụ động, lệ thuộc mà nó có tình độc lập tương đối . Nhân tố chủ quan có thể chuyển hoá được các điều kiện khách quan thành nội d ung hoạt động tự do sáng tạo của mình. Thực chất vai trò nhân tố chủ quan ở đây là s ự phát hiện ra khả năng khách quan, trên cơ sở những điều kiện phương tiện vật chất của hoàn cảnh khách quan để tác động và biến đổi nó theo quy luật. Như vậy, vai trò nhân tố chủ quan chính là tính tích cực sáng tạo của chủ thể trong quá trình nhận thức và cải tạo khách thể. Trong hoạt động của con người, con người không thụ động ngồi chờ điều kiện khách quan chín muồi mà chủ động chuyển hoá điều kiện khách quan tạo ra sự chín muồi đó. Trong sự vận động và phát triển của hiện thực có rất nhiều khả n ăng có thể xảy ra, vai trò nhân tố chủ quan là thực hiện sự lựa chọn khả n ăng vào đáp ứng nhu cầu, lợi ích của mình, phù hợp với lịch sử cũng nh ư việc áp dụng, sử dụng những quy luật khách quan phù hợp trong quá trình hoạt động. Ngoài ra, trong đời sống xã hội, quy luật tự nhiên và quy luật xã hội bao giờ cũng đan xen với nhau. Quy luật tự nhiên ảnh h ưởng đến xã hội thông qua tác dụng của chính quy luật xã hội. Vì vậy, vai trò củ a nhân tố chủ quan còn thể hiện ở việc, dựa vào năng lực nhận thức các quy luật khách quan (tự nhiên – xã hội), các chủ thể điều chỉnh một cách tự giác tác động tổng hợp của nhiều quy luật khách quan, làm cho các quy luật phát huy tác dụng có lợi nhất cho chủ thể.
  15. Nhân tố chủ quan biết vận dụng sự liên hệ lẫn nhau của các quy luật từ đó tăng cường tác dụng cuả mỗi quy luật bằng cách tạo ra những điều kiện khách quan làm cho sự thích ứng phát huy tác dụng tổng hợp của các quy luật đó. Sự vận động và phát triển của xã hội biểu hiện trên những nấc thang phát triền của nó. Tương ứng với mỗi nấc thang phát triển đó là một chế độ kinh tế – xã hội. Trong sự phát triển xã hội thì lực l ượng sản xuất là yếu tố quyết định. Lực lượng sản xuất là sự liên kết giữa người lao động và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động . Con người (người lao động) với tư cách ch ủ thể của sản xuất vật chất luôn tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất, sáng tạo ra công cụ. Với ý nghĩa đó, người lao động là nhân tố chủ yếu hàng đầu của lực lượng sản xuất. Đúng như Lê Nin đã chỉ rõ “ Lực lượng sản xuất thứ nhất của loài người là người công nhân, người lao động”. Nói đến người lao động là nói đến sức lao động, nói đến tri thức cũng như những kinh nghiệm đúc kết trong quá trình sản xuất và cùng với những yếu tố tinh thần, như tình cảm, kỹ năng, kỹ xảo…..tạo nên trình độ của lực lượng sản xuất- trình độ chinh phục tự nhiên của con người. Chính vì thế mà vai trò của nhân tố chủ quan là hết sức quan trọng, ngay cả trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Vai trò của nhân tố chủ quan còn được thể hiện đặc biệt rõ trong việc để ra những mục tiêu, phương thức phát triển của toàn xã hội. Điều này liên quan đến vai trò của toàn bộ hệ thống chính trị trong quá t rình phát triển của xã hội có giai cấp. Do đó, vai trò nhân tố chủ quan ở đây chính là việc xác định những mục tiêu phát triển chiến lược và các giải pháp kinh tế – chính trị thích hợp trong từng thời kỳ. Đồng thời với việc tổ chức, huy động các lực lượng xã hội để thực hiện các nhiệm vụ to lớn do lịch sử đặt ra, mà vai trò của nhân tố chủ quan ngày càng t ăng Thực chất của quá trình này, để phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong sự phát triển xã hội nói chung thì tr ước hết phải nâng cao trình độ, tri thức của con người, khả năng nhận thức và vai trò cải tạo thế giới của con người. Sự vận động xã hội bao giờ cũng gắn liền với việc giáo dục, vận động quần chúng tham gia vào các công cuộc xây dựng, phát triển đất nước với tư cách là lực lượng cơ bản. Bởi lẽ sức mạnh của quần
  16. chúng là sức mạnh vật chất và mọi sự vận động lịch sử đều do quần chúng trực tiếp tạo ra. “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng". Chính điều này đã làm cho quần chúng nhân dân ngày càng thể hiện rõ vai trò chủ thể của họ và do đó vai trò của nhân tố chủ quan ngày càng được nâng lên. 1.2. Vai trò của nhân tố chủ quan trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia hiện nay 1.2.1.Thực chất của sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia hiện nay Bảo vệ An ninh Quốc gia là một loại hình hoạt động xã hội đặc thù, do đó hình thức biểu hiện của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của loại hình hoạt động này cũng có những nét riêng biệt. Theo Công pháp quốc tế, quốc gia được xác định bởi một lãnh thổ, một cộng đồng dân cư và một hệ thống quyền lực công cộng, được đảm bảo bởi một thể chế chính trị trên lãnh thổ đó. An ninh Quốc gia được hiểu là sự an toàn bất khả xâm phạm của Quốc gia. Trên thực tế, mỗi quốc gia có quan niệm và có khái niệm về An ninh Quốc gia không giống nhau, tuỳ thuộc vào bản chất, đường lối đối nội, đối ngoại của mỗi nước và đặc biệt là tiềm lực kinh tế và sức mạnh quân sự. Đối với những nước lớn mạnh cả về kinh tế và quân sự thì chủ yếu họ h ướng hoạt động bảo vệ An ninh Quốc gia ra khỏi phạm vi quốc gia của mình để tấn công tiêu diệt, xoá bỏ những nguy cơ hoặc cái mà họ cho là đe doạ đến An ninh Quốc gia của họ. Thậm chí họ có thể tìm mọi cách can thiệp vào nội bộ hoặc tiến hành xâm l ược vũ trang các nước khác vì các mục tiêu chính trị cụ thể. ở Việt Nam, thuật ngữ An ninh Quốc gia bắt đầu xuất hiện từ những năm 70 của thế kỷ XX trong các sách báo nghiệp vụ của ngành Công an. Trong từ điển nghiệp vụ Công an 1977 có viết: “An ninh Quốc gia là sự yên ổn về chính trị và trật tự xã hội trong phạm vi quản lý một Nhà nước, để đảm bảo chống xâm lược và chống mọi hành vi gây rối, phá hoại, lật đổ”. Có quan niệm cho rằng An ninh Quốc gia không chỉ là sự ổn định phát triển vững mạnh của chế độ, của Nhà nước, toàn vẹn lãnh thổ mà bao gồm cả vấn đề an toàn
  17. xã hội, tài nguyên môi trường, an ninh cá nhân, an ninh lương thực... nói chung là tất cả những gì an ninh, an toàn của một quốc gia và xã hội. Ngược lại, cũng có quan niệm cho An ninh Quốc gia chỉ là an ninh chính trị. Trong các văn bản pháp luật của Việt Nam, thuật ngữ An ninh Quốc gia xuất hiện chính thức tại Điều 36 luật Tổ chức toà án nhân dân ngày 13/7/1982. Tuy nhiên, trước khi luật An ninh Quốc gia ra đời, khái niệm An ninh Quốc gia ch ưa được một văn bản pháp luật nào của Nhà n ước đề cập, làm rõ. Cho đến kỳ họp thứ 6, Quốc hội n ước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá XI, khi luật An ninh Quốc gia được chính thức thông qua ngày 3/12/2004 thì định nghĩa pháp lý của khái niệm An ninh Quốc gia mới được làm rõ tại điều 3: "An ninh Quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ XHCN và Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh tổ của tổ quốc”. Như vậy, nội hàm của khái niệm An ninh Quốc gia bao gồm 2 nội dung: Thứ nhất là: “Sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Thứ hai là: “Sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”. Nội dung thứ nhất ở đây đề cập không gì khác ngoài vấn đề thể chế chính trị. Đó là hệ thống chính trị, là Nhà n ước CHXHCN Việt Nam, là đường lối chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, ngoại giao và các thành quả cách mạng nói chung của quốc gia, dân tộc. Nội dung thứ hai trong khái niệm An ninh Quốc gia là nhằm nhấn mạnh, khẳng định độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của n ước CHXNCN Việt Nam không thể bị chia cắt, không thể bị xâm lược. Mọi hoạt động xâm lược vũ trang, chia cắt đất nước, ly khai dân tộc, sắc tộc, hay lập “chính quyền Nhà n ước mới”... đều là những hành động xâm phạm đến An ninh Quốc gia.
  18. Khoản 3 điều 3 luật An ninh Quốc gia đã đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm hoạt động xâm phạm An ninh Quốc gia: “Hoạt động xâm phạm An ninh Quốc gia là những hành vi xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của n ước Cộng hoà XHCN Việt Nam” [25]. Trên cơ sở khái niệm An ninh Quốc gia và khái niệm xâm phạm An ninh Quốc gia, khoản 2 điều 3 luật An ninh Quốc gia đưa ra định nghĩa pháp lý của khái ni ệm Bảo vệ An ninh Quốc gia: “Bảo vệ An ninh Quốc gia là phòng ngừa, phát hiện, ng ăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm An ninh Quốc gia ” [25]. Mục đích của nhiệm vụ bảo vệ An ninh Quốc gia là làm thất bại các hoạt đ ộng xâm ph ạm An ninh Quố c gia và để làm đ ư ợc điều đ ó phải đồng thời thực hiện việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh. Bốn nội dung này có mối quan hệ biện chứng với nhau trong đó nội dung phòng ngừa các hoạt động xâm phạm An ninh Quốc gia có vị trí đặc biệt quan trọng. Nếu làm tốt công tác phòng ngừa sẽ làm thất bại mọi âm mưu của địch, xoá bỏ cơ sở xã hội phát sinh các tội xâm phạm An ninh Quốc gia. Để làm tốt công tác phòng n gừa phải đồng thời làm tốt công tác phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt độn g xâm phạm An ninh Quốc gia. Cùng với quá trình đổi mới, chúng ta từng bước nhận thức sâu sắc hơn, cụ thể hơn về mối quan hệ giữa xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN, giữa kinh tế và quốc phòng an ninh, phải có cách nhìn toàn diện h ơn đối với khái niệm An ninh Quốc gia. An ninh Quốc gia không chỉ là an ninh chính trị mà còn là an ninh văn hoá, an ninh tư tưởng, an ninh xã hội... Do đó, để An ninh Quốc gia được giữ vững, trước hoàn cảnh mới, nhiệm vụ đặt ra trước hết là phải đảm bảo các yếu tố cơ bản, cốt lõi của An ninh Quốc gia, đồng thời phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại những nguy c ơ đối với An
  19. ninh Quốc gia, phá hoại An ninh Quốc gia. Vì vậy, bảo vệ an ninh quốc gia có nhiều nội dung khác nhau. Thứ nhất: Bảo vệ An ninh Quốc gia là bảo vệ chế độ chính trị và nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc. Bảo vệ An ninh Quốc gia tr ước hết là bảo vệ đường lối cách mạng đi lên CNXH, bảo vệ hệ thống chính trị XHCN, bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam. Bảo vệ An ninh Quốc gia hướng vào mục tiêu chung là bảo vệ Tổ quốc XHCN trên cả các ph ương diện từ chủ quyền lãnh thổ chính trị, văn hoá, xã hội. Vì thế, Đảng ta đã xác định: Bảo vệ Tổ quốc XHCN là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ An ninh Quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc [17, tr.117]. Bảo vệ Nhà nước XHCN là bảo vệ tổ chức bộ máy, c hính sách, pháp luật của Nhà nước, vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà n ước. Đảm bảo cho chính sách, pháp luật của Nhà nước được thực hiện đúng đắn. Bảo vệ độc lập chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là bảo vệ đất đai, vùng trời, vùng biển, các tài nguyên thiên nhiên c ủa đất nước, đảm bảo cho mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, đối nội, đối ngoại nói chung... được thực hiện một cách độc lập, tự chủ không bị tác động chi phối, can thiệp từ bên ngoài. Đó còn là nhiệm vụ bảo vệ sự thống nhất một chế độ chính trị, một chế độ kinh tế, một hệ thống pháp luật, một hệ thống quản lý Nhà n ước trên cả nước, từ Trung ương đến địa phương. Đảm bảo chủ quyền đất nước không bị chia cắt, xâm l ược... Nhiệm vụ này càng trở nên trọng yếu khi hiện nay c ác thế lực phản động trong và ngoài nước đang ra sức cấu kết, thúc đẩy hoạt động phá hoại chính trị – tư tưởng gây chia rẽ, phá hoại đoàn kết dân tộc với âm mưu “quốc tế hoá vấn đề dân tộc thiểu số”, “tin lành hoá các dân tộc thiểu số”, “thành lập quốc gia tự trị” như kiểu “nhà nước Đề Ga”, “Khơme Krôn”... hòng chia cắt lãnh thổ của nước ta.
  20. Thứ hai: Bảo vệ An ninh Quốc gia là bảo vệ an ninh về t ư tưởng và văn hoá, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền lợi và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hoá là bảo vệ nền tảng tư tưởng của chế độ, là bảo vệ sự ổn đ ịnh và phát triển của t ư tưởng và văn hoá XHCN trên nền tảng tư tưởng Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Gìn giữ và phát huy những giá trị văn hoá yêu nước của dân tộc, đồng thời phải biết thẩm đ ịnh, chắt lọc, bảo tồn vận dụng và không ngừng bổ sung cái mới, làm phong phú thêm những giá trị đã có cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh mới, góp phần tạo những đ ộng lực tinh thần mới, nhân lên s ức mạnh khối đại đoàn kết, góp phần thắng lợi sự nghiệp bảo vệ An ninh Quốc gia. Nhiệm vụ này còn đ òi hỏi phải chủ động phòng ngừa và tích cực đấu tranh loại bỏ những sản phẩm lỗi thời, xấu độc, phản văn hoá xâm nhập vào đời sống tinh thần của xã hội, nhằm phá hoại t ư tưởng, chiến tranh tâm lý. Cùng với nhiệm vụ bảo vệ an ninh trên lĩnh vực t ư tưởng và văn hoá, việc bảo vệ khối đại đoàn kết dân tộc, giữ gìn cuộc sống ổn định tiến bộ và phát triển của tất cả các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam cũng là một nhiệm vụ c ơ bản. Sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân được phát huy mạnh mẽ sẽ tạo cho đất nước thế ổn định về chính trị, dân chủ rộng rãi, an ninh quốc phòng đảm bảo. Bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của các c ơ quan, tổ chức, cá nhân theo đúng luật pháp quy định, phát hiện và xử lý kịp thời, đúng pháp luật đối với những hành động xâm hại tới lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức cá nhân đó cũng là những nhiệm vụ cơ bản của bảo vệ an ninh quốc gia. Thứ ba: Bảo vệ An ninh Quốc gia là: bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kin h tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia. Bảo vệ an ninh trong lĩnh vực kinh tế là bảo vệ chủ ch ương, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước, bảo vệ cơ sở vật chất của nền kinh tế... Thực chất là bảo vệ đường lối, chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Điều đó đòi hỏi phải tăng cường công tác nắm tình hình, chủ động phát hiện âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực kinh tế cũng nh ư những sơ hở thiếu sót trong
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2