intTypePromotion=3

Luận văn: Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu Á tới đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam trong những năm qua và giải pháp khắc phục

Chia sẻ: Lala Lala | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:100

0
132
lượt xem
41
download

Luận văn: Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu Á tới đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam trong những năm qua và giải pháp khắc phục

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Diễn biến, nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á. Ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Các giải pháp hạn chế tình trạng suy giảm FDI do khủng hoảng tài chính tiền tệ và tăng cường thu hút FDI trong giai đoạn tới.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu Á tới đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam trong những năm qua và giải pháp khắc phục

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG rOREIQH T R À M UNNRRSITT ĐỀ TÀI NGHIÊN cứu KHOA HỌC CẤP BỘ TÊN ĐỀ TÀI: TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOANG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ C H Â U Á TỚI ĐẦU Tư TRỰC TIẾP N Ư Ớ C NGOÀI (FDI) TẠI VIỆT NAM TRONG NHỮNG N Ă M QUA VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC MÃ SỐ: B 99-40-18 Chủ nhiệm đềm: Tiên sĩ vũ CHÍ L Ộ C Tham gia thức hiên đề tài Thạc sĩ: vũ THỊ KIM OANH Thạc sĩ: NGUY N THỊ VỆT HOA Cử nhân: PHẠM THỊ MAI KBANHf7^7Ụ7|7P Đĩ QOQ££ H À NỘI - 2000 ỈSQắ-
  2. MỤC LỤC L Ờ I NÓI Đ Ẩ U Ì C H Ư Ơ N G ì DIỄN BIẾN, N G U Y Ê N N H Â N C Ủ A : cuộc K H Ủ N G HOẢNG TÀI CHÍNH TIÊN TỆ Ở C H Â U Á 4 ì. Diễn biến của cuộc khủng hoảng 4 li. Đặc điểm và nguyên nhân của cuộc khủng hoảng t i chính - tiền tệ à 7 IU. Những tác động của cuộc khủng hoảng t i chính - tiền tệ Đông Á à 20 C H Ư Ơ N G n : Ả N H H Ư Ở N G C Ủ A KHỦNG HOẢNG TÀI - C H Í N H T I Ề N TỆ C H Â U Á Đ Ế N Đ Ạ U T ư TRỰC TIẾP N Ư Ớ C N G O À I TẠI VIỆT NAM 25 ì. FDI tại Việt Nam trước khủng hoảng (trước năm 1997) 25 li. Tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á đến FDI vào Việt Nam 32 C H Ư Ơ N G n i : C Á C G I Ả I PHÁP H Ạ N C H Ế TÌNH TRẠNG SUY G I Ả M FDI DO K H Ủ N G HOẢNG TÀI CHÍNH - T I Ề N TỆ V À T Ả N G C Ư Ờ N G THU H Ú T FDI TRONG GIAI Đ O Ạ N T Ớ I 58 ì. Triển vọng thu hút FDI tại Việt Nam trong thời gian tới 58 n. Một số giải pháp chủ yếu nhằm khắc phục hâu quả của khủng hoảng và tăng cường thu hút FDI trong giai đoạn tới 61 KẾT L U Ậ N 85 PHẠN PHỤ L Ụ C Phụ lục la : Diễn biến cuộc khủng hoảng châu Á Phụ lục lb : Chi phí đầu tư tại các thành phố lớn Châu Á tháng 12/1999 ở Phụ lục 2 : Tình hình thu hút và sử dụng FDI Việt Nam giai đoạn 1988- ở 1999 Phụ lục 3 : Một số kết quả hoạt động của khu vựcroitại Việt Nam giai đoan 1988-1999 ' - THƯ Ví É w ' TÀI L I Ệ U T H A M K H Ả O TRBBkB BAI H Ó C NGOAI T H U t l i O
  3. LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Rất nhiều giấy mực đã đổ ra để phân tích về nguyên nhân đưa đến sự sụp đổ bất ngờ của cái g ọ i là "phép lạ kinh tế châu Á " chính là do cuộc khủng hoảng tài chính -tiền tệ Đông Á xảy ra vào tháng 7 n ă m 1997 và kéo dài cho đến n ă m 1999. Tới nay vốn chưa thể hình dung hết được hậu quả của nó đối với nền k i n h tế k h u vực và có thể dư vị của nó có thể còn kéo dài. Khác v ớ i nhiều cuộc khủng hoảng thông thường trên t h ế giới, chỉ hoặc là khủng hoảng tiền tệ, hoặc là khủng hoảng tài chính, cuộc khủng hoảng k h u vực Đông Á vừa qua mang tính chất "kép", tức là vừa khủng hoảng tiền tệ, vừa khủng hoảng tài chính và toàn bộ hệ thống ngân hàng. Co thể noi, đây là đặc trưng quan trọng nhất của cuộc khủng hoảng này. Tính chất "kép" của cuộc khủng hoảng, một mặt làm cho khả năng tàn phá của nó trở nên d ữ d ộ i và để lại dư vị kéo dài, nó tác động tới m ọ i mặt của kinh tế-xã hội, tới các cơ sở nền tảng sâu xa của hệ thống kinh tế và chế độ chính trị-xã h ộ i và làm cho vấn đề trở nên hết sức phức tạp, khó nhận biết m ộ t cách chắc chắn và khó khắc phục. Cuộc khủng hoảng dường như đã qua đi, nhưng ai d á m chắc những tác động của nó (cả tích cực và tiêu cực) hoàn toàn không còn nữa. Các nước vừa qua cuộc khủng hoảng này còn chưa hết bàng hoàng vì cơn "ác mộng" cả nền k i n h tế và cả chế độ chính trị-xã hội m ộ t số nước A S E A N , H à n Quốc và ngay cả Nhật Bản dường như con bị "sóng xung kích" của nó tác động khá mạnh, cho dù dấu hiệu tăng trưởng trở lại bằng các chỉ tiêu cơ bản đã khá hơn nhiều. Sau 3 n ă m đẩy sóng gió, bàn cờ k i n h tế châu Á đã được vẽ lai hoàn toàn, nhìn về tương lai thì con đường trước mặt còn l ắ m chông gai. Đ ể khôi phục lại những gì đã mất, các nước trong vùng đã phải tìm m ọ i cách m à trong đó tăng xuất khẩu và tích cực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xem ra là phương sách tốt nhất. Là một nước Châu Á, Việt nam khó tránh khỏi ảnh hưởng của cuôc khủng hoảng tài chính - tiền tệ vừa qua. H ơ n nữa, chiến lược phát triển cua V i ệ t nam từ k h i thực hiện đường l ố i "mở cửa" và k i n h t ế thị trường t ớ i nay đã từng chịu tác động ngày càng tăng bởi thực tế phát triền của k h u vực Đông A. Bản thân cuộc khủng hoảng này có những biểu hiện rất phức tạp và tác động của nó tới nền k i n h tế V i ệ t nam còn phức tạp hơn nhiều b ở i chính nền k i n h tế và xã h ộ i nước ta. Các nhà quản ly, các nhà nghiên cứu đã tôn nhiều công sức để tìm hiểu, để phân tích và cũng đã đưa ra nhiều quan điểm và ý kiến rất khác nhau. Trong k h i các nước trong k h u vực (Thái L a n Han Quốc, Malaisia...) bị tác động mạnh nhất của cuộc khủng hoảng dường như đã thoát được ra và phần nào lấy lại tốc độ tăng trưởng, thì V i ệ t nam vốn trong tình trạng suy giảm và t ì trệ, đặc biệt trong lĩnh vực thu hút F D I r Ì
  4. Sự giảm sút nặng nề F D I từ n ă m 1998 trở lại đây buộc chúng ta phải nhìn nhận lại một cách khoa học và khách quan chính sách k i n h tế đối ngoại của mình, đặc biệt là chiến lược thu hút F D I và các giải pháp h ỗ trợ, tăng cường, để từ đó tìm ra hưững đi đúng nhằm thúc đẩy hơn nữa, hiệu quả hơn nữa nguồn v ố n quan trọng này trong quá trình thực hiện thắng l ợ i đường l ố i còng nghiệp hoa, hiện đại hoa đất nưữc. 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài Đ ề tài nghiên cứu nhằm: - Phân tích nguyên nhân, tìm hiểu nguồn gốc sâu xa của cuộc khủng hoảng ở những nưữc bị tác động nặng nề để rút ra những bài học cần thiết. - Phân tích, đánh giá tác động và mức độ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tữi việc thu hút và triển khai thực hiện F D I tại V i ệ t nam. Tác động của khủng hoảng tữi F D I bao gồm cả tác động tích cực và tiêu cực, tuy nhiên, đề tài sẽ tập trung nhiều hơn, phân tích sâu sắc hơn tác động tiêu cựctóiF D I , đây là nguyên nhân (trực tiếp và gián tiếp) quan trọng làm suy giảm F D I tại V i ệ t nam trong những n ă m gần đây. - Đưa ra một số các giải pháp có tính chiến lược và các giải pháp cấp bách nhằm hạn chế tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tữi F D I va tiếp tục tăng cường thu hút F D I trong thời gian tữi. 3. Phạm vi nghiên cứu Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực Châu Á được giữi hạn về mặt thời gian từ tháng 7 n ă m 1997 đến hết n ă m 1999, nên hoạt đọng F D I cũng chủ yếu được nghiên cứu trong phạm v i thời gian đó. Các giai đoạn trưữc đó được đề cập chỉ có tính chất tham khảo và so sánh, đối chiếu nhăm làm rõ phạm v i nghiên cứu của đề tài và mục tiêu m à đề tài đặt ra. 4. Phương pháp nghiên cứu Đ ề tài sẽ sử dụng hệ thống các phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu. Phương pháp lập giả định được sử dụng để xác định giữi hạn và phạm v i nghiên cứu và hỗ trợ cho việc hệ thống hoa những tác động cụ thể cua cuốc khủng hoảng tài chính - tiền tệ tữi F D I tại V i ệ t nam. Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, các tác giả sử dụng triệt để phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp lịch sử. 5. Tổ chức nghiên cứu đề tài Bộ môn Đầu tư và Chuyển giao công nghệ, Trường đại học Ngoại thương được giao nhiệm vụ nghiên cứu, đào tạo các chuyên để về đầu tư quốc tế và Chuyển giao công nghệ cho các loại hình đào tạo (Cử nhân Thạc sỹ và Tiến sỹ) của Trường là đòn vị tổ chức thực hiện đề tài này. Trực tiếp tham gia nghiên cứu đề tài gồm: - Tiến sĩ Vũ Chí Lộc, Chủ nhiệm bộ môn, chủ nhiệm đề tài 2
  5. - Thạc sĩ Vũ Thị Kim Oanh, giảng viên, thành viên - Thạc sĩ Nguyễn Thị Việt Hoa, giảng viên, thành viên - Cử nhân Phạm Thị Mai Khanh, giảng viên, thành viên Nhóm nghiên cứu cũng đã nhận được sự hỗ trợ của PGS.TSKH Nguyễn Bích Đạt, nguyên l Chủ nhiệm Bộ môn Đầu tư và Chuyển giao à công nghệ và hiện nay là Vụ trưấng Vụ Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, người đã cung cấp một số các tư liệu, thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài này. 3
  6. CHƯƠNG I DIỄN BIÊN, NGUYÊN NHÂN CỦA cuộc KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TIÊN TỆ ở CHÂU Á ì. DIỄN BIẾN CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ tại một số nước Đông A bắt đẩu từ Thái Lan vào tháng 7 năm 1997 khi nước này tuyên bố chấm dứt chế độ cố định tỷ giá theo đồng đô la Mỹ. Cuộc khủng hoảng này sau đó đã lan rộng ra nhiêu nước khác trong khu vục như Malơysia, Indonesia, Philippines, Hàn Quốc. Biểu hiện của cuộc khủng hoảng là đổng tiền của các nước này bị giảm giá liên tục và xuống đến mức thấp kỷ lục, giá chứng khoán và bất động sản cũng giảm nhanh chóng và nhiều ngân hàng, tổ chức tài chính lâm vào tình trạng phá sản. Kết quả là một số nước châu Á phải trải qua thời kỳ tăng trưởng thấp và mất niềm tin của các nhà đẩu tư nước ngoài. 1. Bôi cảnh của cuộc khủng hoảng Trong ba thập kỷ từ 1965-1995, các nước Đông Á đã có tốc độ tăng trưởng k i n h tế trung bình trên 8 % n ă m (so với 2 % ở các nước công nghiệp hoa). Trước đó, trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới chưa từng có k h u vực nào duy t ì được mức tăng trưởng nhanh và bền vững trong suốt m ộ t thời r gian dài như vậy. Bốn "con h ả " Châu Á tiên phong là Hồngkông, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan đã gia nhập các quốc gia phát triển (dựa trên chi tiêu GDP/đầu người). Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Thái L a n đã gần đuải kịp các con hả đi trước. Tuy có bối cảnh văn hoa lịch sử và thể chế chính trị khác nhau, các nước này đều có chính sách kinh tế mở, tích cực h ộ i nhập với khu vực và thế giới, có tỷ lệ tiết k i ệ m xã hội và tỷ lệ đầu tư cao (tỷ lệ tiết k i ệ m trung bình là 3 0 % và tỷ l ệ đầu tư là 35-40% GDP) và có m ộ t điểm chung nữa là lực lượng lao động hiếu học, làm việc chăm chỉ, kỷ luật. Tất cả những đặc trưng trên đã tạo ra cái gọi là điều kỳ diệu châu Á, và trên thực t ế tỷ trọng thu nhập của Châu Á trong thu nhập chung của cả thế giới đã tăng từ 1 9 % n ă m 1950 lên 3 3 % n ă m 1992. Trong các báo cáo của W B (Ngân hàng thế giới) và I M F (Quỹ Tiền tệ quốc tế) chú ta thấy rất nhiều đánh giá ng cao và những l ờ i "tán tụng" triển vọng phát triển của các quốc gia này. V à o n ă m 1994, nhà kinh tế học n ả i tiếng Paul Krugman đã viết trong cuốn Foreign Affairs rằng "sự tăng trưởng nhanh dường như có vẻ giả tạo". K h i đó, nhận định này của ông đã bị nhiều nhà kinh tế khác nghi n g ờ và phê bình gay gắt. Chỉ tới k h i cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong k h u vực n ả ra thì l ờ i nhận định của p. Krugman m ớ i tỏ ra là m ộ t sự d ự báo đáng giá. T u y nhiên, đã không có nhà k i n h tế học nào đoán đúng bệnh, d ự đoán đung t ầ m mức của cuộc khủng hoảng Đông N a m Á và Đông Á vào cuối thập kỷ 90 m à cuối cùng đã dẫn đến cơn chấn động toàn cầu. Cho t ớ i nay, cồ nhiều nha 4
  7. nghiên cứu trong và ngoài nước vẫn không hết bàng hoàng đã tự đặt câu hỏi, n i u Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ vào cuối n ă m 1998 tiếp theo đồng Yên Nhật mất giá thì không biết tình hình kinh tế thế giới sẽ như thế nào. Mặc dù tháng 7 năm 1997 cuộc khủng hoảng m ớ i nổ ra nhưng thực tế là từ n ă m 1996 đã xuất hiện nhểng lo ngại về một số nền k i n h tế quá nóng, được thể hiện ở nhểng thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức cao, n ợ ngắn hạn nước ngoài lũy k ế tăng, sự t i n tưởng của các nhà đầu tư bắt đầu giảm, giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán ở một số nước như Hàn Quốc và Thái Lan giảm mạnh, thất thường. Tốc độ tăng trưởng của cả k h u vực giảm từ 2 0 % trong hai năm 1994-95 xuống còn 5% n ă m 1996. Đ ế n đầu n ă m 1997, các điều kiện kinh tế vĩ m ô ở hầu hết các nước trong k h u vực đã trở nên xấu đi: thâm hụt tài khoản vãng lai càng cao, n ợ nước ngoài ngắn hạn lũy k ế lớn, đầu tư quá mức vào các dự án rủi ro cao và lợi nhuận thấp, nhiều công ty đã bị phá sản và nhiều khoản vay không trả được. Ngay trong quý ì n ă m 1997, nền kinh tế Thái Lan đã cho thấy nhểng túi hiệu rõ ràng của một cuộc khủng hoảng, đó là nhểng đạt tấn công có tính chất đầu cơ vào đổng Baht và việc đóng cửa một số công ty tài chính đã vay nợ từ các tổ chức nước ngoài để cung ứng túi dụng quá mức cho lĩnh vực bất động sản và mua cổ phiếu. Đ ã có nhểng so sánh và liên tưởng t ớ i cuộc khủng hoảng N ợ ở Mexico nhưng khổng ai có thể ngờ rằng thời điểm khởi đầu của khủng hoảng chính là vào ngày 2/7/1997, sau k h i tung ra gần 24 tỷ USD để giể giá đồng Bath nhưng không thành công, Thái L a n chính thức tuyên bố thả nổi đồng Baht, và ngay lập tức trong tuần đó đồng Baht bị mất giá 15%. Sự mất giá của đồng Baht đã châm ngòi cho cuộc khủng hoảng có quy m ô và mức độ tàn phá lớn nhất trong lịch sử thế giới. 2. Diễn biến của cuộc khủng hoảng (Xemphụ lục số!) Sự giảm giá của đồng Baht đã tạo ra sức ép làm mất lợi thế cạnh tranh của các nước có điều kiện kinh tế vĩ m ô và mặt hàng xuất khẩu tương tự như Thái Lan, đó là Malaysia, Indonesia và Philippines và cuối cùng làm đồng tiền của các nước này bị giảm giá theo. Ngày 11/7/1997 Philippines thả n ổ i đồng Peso, sau đó là Malaysia, ngày 14/8/1997 Indonesia tuyên b ố thả n ổ i đồng Rupiah. Ngày 5/8/1997, tức là chỉ hơn Ì tháng sau cuộc khủng hoảng, ngân hàng thương mại Thái Lan đã phải tạm ngừng hoạt động của 42 công ty tài chính, đưa tổng số công ty bị đóng cửa lên 58/90 với tổng số n ợ 1391 tỷ bath. I M F đưa ra chương trình viện trợ cả gói cho Thái L a n 17,2 tỷ USD với nhểng điều kiện ngặt nghèo. Bốn tháng sau, tháng 10 và tháng 11/1997, khủng hoảng lan sang Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật bản và gây ra các hậu quả nghiêm trọng cho các nền kinh tế liê quan. Ngày 21/11/1997, Bộ trưởng Tài chính Hàn n Quốc thông báo Chính phủ Hàn Quốc chính thức đề nghị I M F hỗ trợ sau k h i đồng W o n giảm giá mạnh. Nhưng chỉ hai tuần sau k h i I M F công b ố khoản hỗ trợ tài chính cả gói 57 tỷ USD cho Hàn Quốc, đồng W o n đã giảm xuống 5
  8. mức kỷ lục 1926 Won/ Ì USD do có tin Hàn Quốc nợ tới 220 tỷ USD, IMF và G7 quyết định giải ngân khẩn cấp cho Hàn Quốc l o tỷ USD. Cùng vào thời điểm cuối tháng li, Nhật Bản, nước láng giềng gần gũi với khu vực Đông Nam Á, với kim ngạch buôn bán và đầu tư song phương ủ mức độ cao, cũng không nằm ngoài ảnh hưủng của cuộc khủng hoảng. Yamachi, một trong 4 công ty chứng khoán lớn nhất của Nhật bản đã phải tuyên bố phá sản, kết thúc 100 năm tồn tại, để lại khoản nợ không có khả năng thanh toán lên tới 3000 tỷ yên (khoảng25 tỷ USD). Trái với những dự đoán vội vã ban đầu của các tổ chức t i chính và các à chuyên gia IMF, rằng cuộc khủng hoảng t i chính - tiền tệ này sẽ kết thúc à vào cuối năm 1997, cho tới năm 1999 cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục lan rộng và phát huy tác động của nó và thực tế đến nay dư âm và hậu quả của nó còn chưa thể xác đinh chắc chắn . Ngày 8/1/1998, đồng Rupiah Indonesia đã giảm giá vượt quá mức nhạy cảm 10.000 Rupiah/1 USD xuống còn 10.225/1 USD. Sau đo, hàng loạt các đổng tiền khác trong khu vực đều bị mất giá ủ mức kỷ lục mới. Rất may mắn cho nền kinh tế thế giới nói chung và khu vực l trong hoàn cảnh đó, à Chính phủ Trung quốc vẫn quyết định không phá giá đồng nhân dân tệ. Ngày 6/4/1998, IMF cho rằng thời điểm tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng đã qua nhưng tới ngày 15/5, tỷ giá đổng Yên Nhật so với đồng USD đã xuống tới mức thấp nhất kể từ tháng 8/1991 (137,07 Yên/1 USD) báo hiệu nguy cơ khủng hoảng vòng 2 của khu vực này. Giá đồng Yên tiếp tục giảm gây sức ép phá giá đồng nhân dân tệ nhưng một lần nữa, Trung Quốc khẳng định sẽ không phá giá đồng tiền nước mình và cam kết bảo vệ đồng nhân dân tệ ít nhất trong Ì năm. Chỉ số chứng khoán trên thị trường Hồng kông và Đài Loan sụt giảm. Đồng Yên Nhật đã mất giá dần tới điểm nhạy cảm (150 Yên/1 USD) và đạt 146,55 Yên/1 USD, gây ra tâm lý lo sợ trên toàn cầu. Các bộ trưủng t i chính các nước EU đã ra tuyên bố đặc biệt yêu à cầu Nhật Bản củng cố hệ thống tiền tệ. Ngày 17/6/ 1998, Mỹ vào cuộc Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã phối hợp với Ngân hàng trung ương Nhật Bẩn để cứu trợ đồng Yên bằng cách bỏ ra 2 tỷ USD. Sự phối hợp này đã làm cho giá đồng Yên lập tức được khôi phục ủ mức 136,2 Yên/1 ỨSD. Tâm lý lo sơ cuộc khủng hoảng vòng 2 được giải toa. Ngày 20/6/1998, Hội nghị các thứ trưủng tài chính và thống đốc Ngân hàng nhà nước nhóm G7 và l i nước châu Á - Thái Bình Dương họp tai Tokyo thảo luận về việc ổn định đồng Yên, ngăn chặn cuộc khủng hoảng tiền tệ vòng 2 tại khu vực và tìm cách khôi phục lại nền kinh tế Nhật Ban đang suy thoái. Hội nghị ra tuyên bố 9 điểm, trong đó hoan nghênh sự phôi hợp Nhật-Mỹ can thiệp vào thị trường để hỗ trợ đồng Yên của Nhật bản- hoan nghênh Trung Quốc cam kết duy trì giá đồng nhân dân tệ; kêu gọi Nhật Bản sớm điều chỉnh hộ thống tiền tệ, giải quyết các khoản nợ khó đoi và cai cách chế độ thuế; hoan nghênh chế độ cải cách kinh tế của Indonesia nhằm ổn định tình hình. 6
  9. WB và Chính phủ Anh đã ký thoa thuận thành lập quỹ t n dụng ASEM í (được khởi xướng tại Hội nghị thượng đỉnh ASEM l i đầu tháng 4/1998) để khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng với số vốn ban đầu vào khoảng 35-40 tổ USD. 2/7/19198, tròn Ì năm sau khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á, Chính phủ Nhật Bản chính thức thông qua kế hoạch thành lập hệ thống ngân hàng cầu nối để giải quyết các khoản nợ khó đòi của các tổ chức tiền tệ đã bị phá sản, quyết đinh này được dư luận hoan nghênh và ủng hộ. Các quốc gia khác cũng có những biện pháp để khắc phục hậu quả của riêng mình. Cho đến nay, hơn 3 năm đã t ô qua, cuộc khủng hoảng gần như đã ri chấm dứt hoàn toàn, những tín hiệu đáng mừng về quá trình phục hổi kinh tế khu vực đang mạnh dần. Thời điểm tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng đã qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới đã dần dần được phục hồi, năm 1999, tăng trưởng ở mức 3,2%, dự kiến tăng trưởng năm 2000 l 5%. Tại châu Á, lạm à phát và xáo trộn tổ giá đã được kiềm chế. Theo số liệu của IMF, một số nước trong khu vực đã có chuyển biến tích cực. Cụ thể là: Hàn Quốc đạt mức tăng trưởng 2 % năm 1999, dự báo năm 2000 là 4,6%; Indonesia là -1,1% (so v ớ i - 13,7% năm 1998) và dự kiến 3,3% năm 2000; Malaysia: 0,9% năm 1999 và 2 % năm 2000; Thái Lan: 0,5% năm 1999 và 4,2% năm 2000(1)'. Riêng Việt nam năm 2000 tăng trưởng kinh tế chắc chắn khoảng 6 %, thuộc loại cao của các nước trong khu vực. li. ĐẶC ĐIỂM VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA cuộc KHỦNG HOẢNG TÀI C H Í N H - TIỀN TỆ Không phải các cuộc khủng hoảng tài chính tiên tệ đêu giống nhau cho dù những dấu hiệu bề ngoài là có vẻ như nhau. Việc phân tích lịch sử tỷ mỹ dựa trên lý thuyết giúp chúng ta có thể phân biệt những đặc điểm chính của bất cứ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ c thể nào, bao gồm cả cuộc khủng hoảng châu Á. Theo các nhà kinh tế, có ba loại khủng hoảng t i chính tiền tệ: Khủng à hoảng Tiền tệ, Khủng hoảng Ngân hàng và Khủng hoảng Nợ. Theo m ô hình của Paul Krugman (1979), Khủng hoảng Tiền tệ (hay khủng hoảng cán cân thanh toán) biểu hiện ở việc đồng tiền bị mất giá, dự trữ ngoại hối suy giảm và sự sụp đổ của hệ thống tổ giá hối đoái co định. Khủng hoảng xuất hiện khi Chính phủ áp dụng các chính sách t i chính và à tiền tệ không hợp lý trong khi cố định tổ giá, thâm hụt cán cân thương mại trong một thời gian dài; hoặc bị khủng hoảng ngân hàng tác động, thông qua việc Nhà nước phải phát hành thêm tiền để trợ giúp ngành ngân hàng. Theo Micheal D.Bordo (1985), Khủng hoảng Ngân hàng là tình trạng mọi người đổng loạt rút tiền gửi hoặc nhiều ngân hàng thất bại trong việc ' Trang 73, Kinh tế 1999-2000 Việt Nam và I M giói-Tliời báo kinh tế Việt Nam 7
  10. thanh toán các khoản nợ đến mức phải có sự hỗ trợ của Chính phủ ở quy m ô lớn. Nhưng dấu hiệu nào để có thể phân biệt đâu là một cuộc khủng hoảng Ngân hàng? Trên thực tế, rất khó nhận biết loại khủng hoảng này; một phần bởi bản chất của vấn đề, một phần nữa là thiếu các thông tin chính xác. T u y nhiên, theo các chuyên gia kinh tế thì sự thay đửi tài sản có và tài sản n ợ trong bản quyết toán của ngân hàng là những dấu hiệu tốt nhất để nhận biết một cuộc khủng hoảng Ngân hàng. Mặc dù ở hầu hết các nước, những thông tin về tiền gửi ngân hàng là sẵn có và là dấu hiệu để nhận biết khủng hoảng Ngân hàng k h i xuất hiện hiện tượng m ọ i người đồng loạt rút tiền gửi, nhung trong những n ă m gần đây hầu hết những vấn đề khó khăn của hệ thống ngân hàng ở các nước đang phát triển không xuất phát từ bên tài khoản n ợ trong bản quyết toán của ngân hàng, nghĩa là không có hiện tượng m ọ i người rút tiền đồng loạt (chẳng hạn như khủng hoảng ngân hàng ở Phần Lan, Na Uy, Thúy Điển vào cuối những n ă m 80 và gần đây là ở Nhật Bản). Tại những nước đang phát triển thì ngược lại, hầu hết các cuộc khủng hoảng ở những nước này đều liên quan đến việc rút tiền gửi đồng loạt (như khủng hoảng ngân hàng trong những n ă m 80 và 90 ở Argentina, Phillipines, Thái Lan, Thử Nhĩ Kỳ, Uruguay, Venezuela). Trong cuộc khủng hoảng tài chính gần đây ở Indonesia, m ọ i người đử xô đi rút tiền gửi k h i có những thông tin về sự khó khăn trong việc thu h ử i các khoản cho vay của ngân hàng và những tâm lý bất ửn lan rộng về sự phá giá đồng tiền. Nhìn chung, các cuộc khủng hoảng Ngân hàng đều xuất phát từ bên tài sản trong bản quyết toán cua ngân hàng chẳng hạn sự suy giảm kéo dài của chất lượng tài sản. Điều này cho thấy: các biến số như: tỷ phần các khoản nợ khó đòi trong danh mục cho vay của ngân hàng, sự biến động mạnh của giá bất động sản và giá cử phiếu, sự thất bại trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đều được sử dụng để nhận biết khủng hoảng Ngân hàng. Nhưng vấn đề khó khăn là những thông t i n về các biến số trên hầu như không sẩn có và đầy đủ ở các nước đang phát triển (ví dụ như những thông tin về n ợ khó đòi). Thậm chí có k h i Ngân hàng Trung ương ( N H T W ) có đầy đủ thông tin về các khoản nợ khó đòi nhưng vẫn rất chậm chạp trong việc phân tích và đưa ra những chính sách đúng đắn để đối phó. Chính vì những giới hạn kể trên m à theo các nhà kinh tế, dấu hiệu để nhận biết khủng hoảng Ngân hàng là sự kết hợp của các hiện tượng sau: một số ngân hàng bị đóng cửa, sát nhập hoặc quốc hữu hoa, hiện tượng rút tiền gửi đồng loạt, sự trợ giúp ngày càng tăng của Chính phủ cho một hoặc nhiều cơ quan tài chính. Cuối cùng, khủng hoảng N ợ là tình trạng m à ở đó m ộ t nước không có khả năng chi trả n ợ nước ngoài, cho dù là n ợ Chính phủ hay n ợ tư nhân. Khác v ớ i nhiều cuộc khủng hoảng thông thường trên t h ế giới- chỉ hoặc là khủng hoảng tiền tệ, hoặc là khủng hoảng tài chính (khủng hoảng Ngân hàng hay khủng hoảng Nợ)-, cuộc khủng hoảng Châu Á vừa qua mang 8
  11. tính chất "kép"- vừa khủng hoảng tiền tệ, vừa khủng hoảng tài chính- hay cả khủng hoảng Tiền tệ, khủng hoảng Ngân hàng, khủng hoảng N ợ xảy ra đồng thời. Đây là đặc trưng quan trọng bậc nhất của cuộc khủng hoảng này và được các chuyên gia thống nhất gọi là "khủng hoảng tài chính - tiền tệ". Tính chất "kép" của cuộc khủng hoảng, m ộ t mặt, làm cho năng lực tàn phá v ố n có của nó trở nên khốc liệt và kéo dài hơn nhiều. N ó động chạm đến các cơ sở nền tảng sâu xa của toàn bộ hộ thống kinh tế và chế độ chính trầ-xã hội chứ không chỉ đơn thuần gây ra những khó khăn, trở ngại lớn cho quá trình tăng trưởng và ổn đầnh kinh tế vĩ m ô . M ặ t khác, tính chất "kép" h à m nghĩa rằng các nguyền nhân gây ra khủng hoảng tạo thành m ộ t hệ thống rất phức tạp chứ không phải là một vài nguyên nhân đơn lẻ, dễ nhận biết rõ ràng và khắc phục nhanh chóng. Đây thực sự là tính phức tạp, đa dạng của cuộc khủng hoảng và chưa có trong tiền lệ và đã làm cho m ọ i tính toán, d ự báo bầ sai lệch. Hai khía cạnh trên chỉ ra rằng quá trình vượt ra k h ỏ i khủng hoảng của các nền k i n h tế Châu Á thực tế đã khó khăn hơn nhiều so v ớ i nhiều cuộc khủng hoảng trước đây (ví dụ như cuộc khủng hoảng M e x i c o 1994-95). Đ ồ n g thời nó quy đầnh m ộ t cách tiếp cận m ớ i đến việc phân tích nguyên nhân, động thái của khủng hoảng. Cho đến nay, hàng loạt nguyên nhân khủng hoảng đã được chỉ ra. Nói chung, không có sự bất đổng ý kiến lớn về từng nguyên nhân riêng biệt. T u y nhiên, k h i xem xét vai trò của từng nguyên nhân lại có sự khác biệt không nhỏ. M ộ t số người cho rằng việc thực thi chính sách tỷ gia h ố i đoái cố đầnh gắn chặt vào đồng đô la M ỹ và có x u hướng đánh giá cao đổng n ộ i tệ trong một thời gian dài là nguyên nhân chính gây ra khủng hoảng. Những người khác lại quy trách nhiệm chính cho tình trạng thâm hụt nặng nề cán cân thương m ạ i và tài chính quốc tế (nợ nước ngoai) hay cho sự yếu k é m trong điều tiết vĩ m ô của nhà nước, nạn đầu cơ tiền tệ và sự phá hoại của m ộ t số nhà đầu cơ tiền tộ quốc tế;... Xét theo những nguyên nhân riêng biệt thì các ý kiến trên đều dựa trên các luận cứ rất thuyết phục. Song, vì nền k i n h t ế la một tổng thể hữu cơ nên các nguyên nhân đều tác động lẫn nhau, vừa là hâu quả, vừa là nguyên nhân của nhau trong vòng tuần hoan liên tục của sự vạn động. Việc đề cao các nguyên nhân đơn lẻ m à không đánh giá đúng mức vai trò của các nguyên nhân khác thường dẫn đến sự phiến diện. Bên cạnh đó, các quốc gia lại có sự khác biệt về trì độ điều kiên nh phát triển và về mức độ ảnh hưởng của cắc yếu t ố quốc tế nên ở từng quốc gia khác nhau, vai trò và mức độ tác động của từng nguyên nhân la khác nhau và có những nguyên nhân chỉ phát huy tác dụng ở quốc gia nay ma không phát huy tác dụng ở quốc gia khác. Trong số 8 nền k i n h tế than k y châuẠ, có m ộ t số nền kinh tế bầ chấn động khủng hoảng tương đ ố i í hơn t như Singapore, Đài Loan bởi các nền kinh te này không co nhiều yêu t ố câu trúc giống như các nền k i n h tế khủng hoảng. Trong đo Singapore chầu anh hưởng mạnh hen do có sự gần kề tâm bão hem và do có mức độ liên két về cơ cấu k i n h tế chặt chê hơn v ớ i các nền k i n h tế khủng hoảng. Nhà tai phiệt M y 9
  12. và là người bị báo chí cho là kẻ đã gây ra cuộc khủng hoảng này George Soros đã nói "...việc cho các nước Châu Á vay quá mức của các ngân hàng Nhật, M ỹ và Châu  u là nguyên nhân chung của cuộc khủng hoảng, nhưng không phải là nguyên nhân duy nhất. Tại m ỗ i nước lại có những nguyên nhân riêng, ví dụ như ể Malaisia, phần lớn các khoản vay là vay trong nước chứ không phải là vay nước ngoài, còn ở Inđônêsia, nguyên nhân không hẳn là do vay quá mức". [24] N h ư vậy, càng không thể liệt kê đầy đủ từng nguyên nhân riêng biệt m à có thể nhận thấy rằng cách tiếp cận tổng thể đến hệ thống nguyên nhân của cuộc khủng hoảng Đông Á, xác định đúng logic của nó là cách tiếp cận hợp lý nhất. 1. Hội chứng vay nợ quá mức Trước khi rơi vào vòng xoáy khủng hoảng, các nền kinh tế Đông Á đã rơi vào tình trạng phải gánh chịu gánh nặng n ợ khổng l ồ . Gánh nặng này không chỉ có nợ quốc tế m à còn có n ợ trong nước; không chỉ n ợ Chính phủ m à còn n ợ tư nhân. Sự đan kết nợ nần làm cho các quan hệ k i n h tế trể nên phức tạp, khó k i ể m soát và là nguồn gốc bất ổn định vĩ m ô hàng đẩu k h i khủng hoảng được châm ngòi. Qua Bảng 1.1 dưới đây cho thấy n ợ nước ngoài của các nước trong khu vực rất nghiêm trọng. Bảng 1.1 Nợ nước ngoài của một số nước trong khu vực trước và sau phá giá đồng tiền Nợ nước ngoài N ơ nước ngoài Mức độ phá giá STT Tên nước (tỉ USD) trước (tỉUSD) đồng tiền (%) khi phá giá sau khi phá giá 1 Thái lan 85 119 40 2 Malaysia 29 36,5 25,9 3 Philippin 43,5 54,4 25 4 Indonesia 109,3 150,8 38 5 Hàn Quốc no 132 20 Nguồn: Châu Á từ khủng hoảng nhìn về thế kỷ 21-Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm VAPEC, Thời báo kinh tế Sài Gòn 2000. K h u vực Đông Á, nhò tăng trưểng cao và bền vững, đã trể thành "miền đất hứa" của đầu tư quốc tế, hiện tượng "thần kỳ k i n h tế châu Á " r ồ i "trung tâm k i n h t ế t h ế giới chuyển từ châu  u sang châu Á"... T r o n g thập niên 1980, k h i nền k i n h t ế thế giới nói chung có x u hướng đình trệ và dư thừa vốn, theo quy luật nước chảy chỗ trũng, dòng v ố n quốc tế đã đổ rất mạnh vào đây, chỉ thua M ỹ và vượt xa các khu vực khác trên thế giới. Cả hai yếu t ố này (sức hút đầu tư và xu hướng cạnh tranh cho vay) đã làm cho cả người vay lẫn cho vay bỏ qua nhiều quy tắc an toàn t ố i thiểu của hệ thống ngân hàng. L ợ i thế vốn quốc tế nhiều và rẻ đã trể thành cái bẫy tài chính r ủ i ro đối với Đ ô n g Á. Từ 1992 đến cuối 1996, riêng các nền k i n h tế Đông N a m Á vay m ư ợ n ít nhất 700 tỷ USDtítcác ngân hàng Nhật, Tây  u và M ỹ (13) lũ
  13. Với tư cách là nguyên nhân quan trọng hàng đầu gây ra khủng hoảng, nợ của Đông Á gắn với một số tình huống và có những đặc điểm nổi bật sau đây: - Khối lượng nợ nước ngoài tăng nhanh (xu hướng tích đọng nợ). Ví dụ, nợ nước ngoai của Thái Lan tăng từ 3 8 % GDP năm 1990 lên 9 0 % GDP năm 1996. (3) - Tỹ lệ vốn vay nước ngoài từ khu vực tư nhân ngày càng lớn. - Trong khi đó các dự án đầu tư đã không được lựa chọn kỹ càng, do vậy mức độ mạo hiểm ngày càng cao. Thực tế là vốn vay của Đông Á có cơ cấu nghiêng dần về vốn ngắn hạn, tạo ra xu hướng vay vốn ngắn hạn để tài trợ cho các dự án khổng lồ dài hạn (Theo IMF, vốn vay ngắn hạn nước ngoài của Hàn Quốc ít nhất là hơn 100 tỷ USD, của Thái Lan, Indonesia và Malaysia chiếm 7-10% GDP tr ong các năm 1994-96 trong khi đó nguồn vốn FDI chỉ là 1% GDP) hay tài trợ cho các dự án đầy tham vọng và ít hiệu quặ (Ví dụ như tháp đôi Petronas, cầu xuyên eo biển Malacca, hàng loạt dự án xây dựng sân gòn và cao ốc văn phòng hay các dự án sặn xuất những mặt hàng thiếu thị trường tiêu thụ như ô tô, hàng điện tử, ...).Tốc độ tăng vốn ngắn hạn nhanh đã làm cho nền kinh tế này nóng lên. Một khối lượng tiền vay lớn đã được dùng để đầu cơ bất động sặn. Giá bất động sặn tăng vọt nhanh chóng làm méo mó các mối liên hệ kinh tế khác (ví dụ như làm tăng giá cổ phiếu, lãi suất, các quan hệ thế chấp tài sặn,...), tạo nên sự hào nhoáng của những nền kinh tế bong bóng. Điều này phần nào đã làm phát triển xu hướng chuyển sang xã hội tiêu dùng cao (mua xe hơi đắt tiền, các hàng xa xỉ hay các căn hộ sang trọng,...). Kết quặ là nợ quá hạn quốc gia tăng nhanh và đạt tới con số khổng lồ. Tính đến tháng 611998, con số này ở Hàn Quốc lên đến 92 tỷ USD, bằng 30% tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng. Tỷ lệ này ở Phillipines là 15%, Malaysia là 22%, Thái Lan là 35%, và kỷ lục ở Indonesia là 50%. - Vay tư nhân trong nước rất lớn và tích đọng ngày càng nhiều số nợ không có khả năng thanh toán. Cùng với tình trạng ngày càng xấu đi của các yếu tố kinh tế khác, số nợ không có khả năng hoặc ít khả năng hoàn trả ngày càng gia tăng. Đây là hệ quả không tránh khỏi của làn sóng đầu cơ bất động sản, tình trạng đầu tư kém hiệu quả, năng lực quản lý cua hệ thống ngân hàng kém hiệu quả và nạn đầu cơ tiền tệ vào thời điểm khủng hoảng sắp bùng nổ. Điều này tạo nên áp lực rất lớn lên cả hệ thống tài chính cũng như hệ thống tiền tệ ở các nước này. Vì tất cả các lý do nêu trên, đã xuất hiện và gia tăng nhanh hàng loạt mất cân đối vĩ m ô lòn trong nền kinh tế. Đó là: - Xu hướng lệch pha cơ cấu giữa các ngành li
  14. - Giảm năng lực trả n ợ trong k h i nợ nước ngoài tăng nhanh, cán cân mậu dịch và cán cân vãng lai ngày càng thâm hụt nặng nê Hậu quả tất yếu của tình trạng trên là: Nền kinh tế bị nóng lên nhanh do đầu tư ồ ạt vì vay m ư ợ n được nhiều vốn với giá rẻ. T h â m hụt các cán cân mậu dịch và thanh toán quốc tế gây áp lực càng mạnh lên hệ thống tiền tệ, đặc biệt là tắ giá hối đoái. Với hội chứng vay nợ nước ngoài, các nền kinh tế Đông Á bắt đầu xa rời một trong những thế mạnh chủ yếu trong m ô hình phát triển của mình: đầu tư cao chủ yếu dựa vào tiết kiệm nội địa cao. Trong điều kiện nền kinh tế mở, quá trình tích đọng nợ nước ngoài đi liền với sự phá vỡ các yếu tố cấu trúc khác của m ô hình phát triển kinh tế trỏ thành nguyên nhân căn bản đẩy nền kinh tế vào áp lực xoáy lốc, đè lên cả hệ thống tài chính lẫn tiền tệ. Khủng hoảng trở thành tất yếu vềx u hướng. Chỉ cần một tác nhân châm ngòi, bùng nổ sẽ xẩy ra. "Trường hợp của Hàn Quốc thì tôi biết khá rõ- GSoros nói, tỷ lệ nợ trên tải sản của các Chaebol là không thế chấp nhận được. Thêm vào đó, lợi nhuận sản xuất kinh doanh lại rất thấp, thu nhập chỉ bằng 1,3 lần chi phí nợ mà phần lớn lại dành cho việc trả lãi vay. Vì thế, khi các công ty gặp khó khăn thì giã ngân hàng rất lo lắng không biết các công ty này có thế thanh toán được không. Qua đó ta thấy chính sộ liên kết giữa các nước thông qua thị trường quốc tế và hệ thống ngăn hàng đã làm cho cuộc khủng hoảng lan rộ«g"[24] 2. Theo đuổi chính sách tắ giá hôi đoái cô định có xu hướng đánh giá cao đồng nội tệ và gắn chặt vào đồng USD trong một thời gian dài Trong một thời gian dài, chính sách tắ giá là một trong các công cụ- xung lực mạnh mẽ bậc nhất giúp cho các nề kinh tế Đông Á thực thi thành n công m ô hình tăng trưởng hướng vào xuất khẩu. Trong điều kiện GATT, việc áp dụng chế độ tắ giá đinh trong một số n ă m r ồ i lại phá giá để tạo sức ổn kích thích xuất khẩu (ngoại trừ Thái Lan là nước thi hành chế độ tắ giá gần như là đinh-cố đinh trong suốt mấy chục năm) trở thành m ộ t trong những ổn yếu t ố quan trọng hàng đầu giúp các nước này vừa tăng trưởng xuất khẩu nhanh vừa định giữ vững chắc hệ thống tiề n tệ là cốt lõi của định vĩ ổn ổn mô. Tuy nhiên, từ giữa thập niên 1980, tình hình kinh tế quốc tế biến đổi rất nhanh. Từ đầu thập niên 1990, M ỹ thay đổi chiến lược thương m ạ i quốc tế theo hướng nâng cao sức cạnh tranh quốc tế, giảm thâm hụt thương m ạ i và đòi h ỏ i các nề kinh tế châu Á phải m ở cửa nhiề hơn. Luật chơi k i n h t ế n u toàn cầu thay đổi với việc chuyển từ G A T T thành WTO. Sự trỗi dậy nhanh chóng của nề kinh tế khổng l ồ Trung quốc làm thay đổi các tương quan n cạnh tranh trên thế giới. Kéo theo đó là sự thay đổi mạnh mẽ các tương quan tiền tệ quốc tế. Trong điều kiện đó, đa số các nước Đông Á, mặc dù thực lực kinh tế của chính họ đã thay đổi theo hướng tăng lên, vẫn tiếp tục duy t ì chế độ tắ r 12
  15. giá h ố i đoái cố định. V ớ i chế độ này, đồng tiền của các nước bị đánh giá cao dần lên trong quan hệ tỷ giá. H ơ n thế, do gắn chặt với đồng USD, độ r ủ i ro tỷ giá cũng gia tăng trong quan hệ buôn bán với những nước và k h u vực có đồng tiền mạnh khác, đặc biệt là với đồng Yên Nhật Bản. Vì Nhật Bản là thị trưổng lớn thứ hai của Đông Á, lại bị suy thoái kéo dài trong mấy n ă m gần đây nên tính bất ổn định trong tương quan tiền tệ này tạo thành m ộ t sức phản kích đối với chính sách ổ n định tỷ giá m à các nước này đang theo đuổi. \^ứieo(iiầdmhsádi^giá(K(Ẽdẫn(fenhíjnghâuc|uảnạrigi]ề: - Giảm mạnh sức cạnh tranh xuất khẩu của nước này; kìm c h ế x u hướng tăng trưởng xuất khẩu (bao gồm hoạt động xuất khẩu trực tiếp). - Khuyến khích nhập khẩu và tiêu dùng hàng ngoại. - Khuyên khích x u hướng nhập khẩu vốn (do đồng tiền nước ngoài rẻ hơn đồng n ộ i tệ) - Làm méo mó môi trưổng kinh doanh (vì một trong những thước đo quan trọng nhất của nề kinh tế thị trưổng hiện đại là tỷ giá h ố i đoái bị bóp n méo. - Sự méo mó trong môi trưổng kinh doanh dẫn tới sự lệch huống trong đầu tư. Do giá cả bị bóp méo, những chỉ báo cho biết việc lựa chọn hướng đầu tư bị sai lệch ngày càng nghiêm trọng. X u hướng vay v ố n ngẩn hạn để tài trợ cho các d ự án dài hạn k é m hiệu quả" để tiêu dùng xa xỉ, đầu cơ bất động sản,... gia tăng. C ơ cấu kinh tế của đất nước ngày càng mất cân đối, k é m hiệu quả. - Vì thế, xuất hiện và gia tăng nhanh các mất cân đối lớn về tài chính- tiền tệ (cán cân mậu dịch, cán cân thanh toán, cán cân vốn). Những mất cân đối này, đến lượt mình, gây áp lực ngược trở lại lên tỷ giá. Đ ó là áp lực phá giá đổng n ộ i tệ. Càng duy t ì tỷ giá cố định lâu, áp lực này càng lớn, sức phá r hoại cũng càng lớn k h i ngòi n ổ (hành v i phá giá) được châm ngoi. Thực tế ở Thái lan, nhiều tư nhân vay ngoại tệ rồi đổi sang đồng Baht để đầu tư, hoặc cho vay để đầu tư vào các dự án bất động sản và các dư án khác. Đến khi đồng Bath đột nhiên mất giá thì những khoản nợ phải trả tăng lên, và người ta tìm mọi cách bán đồng Baht để mua lại đồng đô la Mậ. Khi tình trạng này xảy ra ở hàng loạt công ty thì tất yếu thị trường chứng khoan sẽ suy giảm. Như vậy, đây là cuộc khủng hoảng kết hợp trên cả lĩnh vưc ngân hàng, tiền tệ và thị trường chứng khoán. Các con nợ gây áp lúc manh lên đồng nội tệ, đồng nội tệ bị mất giá dẫn đến các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và hậu quả là Thị trường chứng khoán sụt giảm. Khi này hệ thống ngân hàng tràn ngập các khoản nợ khó đòi. Cuộc khủng hoảng Đông Á vừa qua là thế đó. 13
  16. 3. Sự yếu kém của hệ thông tài chính-ngân hàng Hệ thống tài chính-ngân hàng (TC-NH) của Đông Á yếu kém như thế nào còn là vấn đề gây tranh cãi. Bởi vì trong suốt 30 nam tăng trưởng "thần kỳ", khó ai có thể phủ nhận thành tích duy t ì tỷ lệ tiết k i ệ m n ộ i địa (cao r nhất thế giới) và hiệu quả của hoạt động đầu tư (tốc độ tăng trưởng và tốc độ biến đợi cơ cấu nhanh chóng theo hướng hiện đại hoa) của các nên kinh tê trong khu vực này. Chính hệ thống TC-NH đã đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong thành tích đó. Nhưng có một thực tế khác cũng không bác bỏ được là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ cũng có nguyên nhân khởi phát từ chính sự yếu k é m của hẹ thống TC-NH vốn đã từng hoạt động rất hiệu quả trước đây. V ấ n đề đặt ra không phải là tranh luận hệ thống đó trong giai đoạn tiền khủng hoảng có yếu k é m hay không m à là ở chỗ tại sao nó lại bị xuống cấp nghiêm trọng như vậy. Sự phân tích từ nhiều góc độ cho thấy trong một thời gian dài, các nền kinh tế Đông Á đã nỗ lực tối đa cho tăng trưởng sản lượng m à không chú ý đúng mức đến sự phát triển của hệ thống TC-NH. H ệ quả là tạo ra sự lệch pha cơ cấu ở hai mảng cấu trúc lớn nhất của hệ thống kinh tế thị trường hiện đại: giữa khu vực TC-NH và khu vực sản xuất-thương mại. Sự lệch pha này dẫn đến chỗ k h i nền kinh tế tăng trưởng nhanh, đã đạt đến trình độ phát triển khá cao thì hệ thống TC-NH không thể đáp ứng được các yêu cầu của nó. K h i quá trình hội nhập k i n h tế quốc tế tăng tốc, các quy tắc vận động của các luồng sản phẩm và dòng vốn quốc tế thay đợi thì sự lệch pha này trở thành một điểm yếu sinh tử đối với bản thân các nền k i n h tế đó. Tính không tương thích này biểu hiện ở một số khía cạnh chính sau đây: - Hệ thống TC-NH của các nước Đông Á nói chung đều bị phụ thuộc quá nặng nề vào các Chính phủ. Do vậy, chúng không thể kinh doanh độc lập. T ừ đó, sản sinh ra tình trạng dưới áp lực của Chính phủ (trực tiếp là các quan chức Chính phủ), ngân hàng phải cho vay hàng loạt dự án k é m hiệu quả và nhiều r ủ i ro, gia tăng tình trạng hối l ộ và m ó c ngoặc giữa các nhà kinh doanh (kể cả kinh doanh ngân hàng) và các quan chức Chính phủ. Điển hình cho trạng thái này là Hàn Quốc. Chính phủ Hàn Quốc đã chỉ thị cho các ngân hàng phải cho các tập đoàn lớn vay (hoặc ngân hàng phải bảo lãnh cho các tập đoàn vay nước ngoài) những món tiền khổng lồ để đẩu tư vào nhiều dự án chậm thu hồi vốn nhưng kém hiệu quả. Sản phẩm đương nhiên của phương thầc can thiệp này là nạn hối lộ và tham nhũng của các quan chầc Chính phủ. Kết quả là trong thời gian gần đây, nhiều tập đoàn lớn đã bị phá sản với những món nợ nhiều tỷ USD, kéo theo nó là sự lung lay dữ dội của hệ thống TC-NH. Uy tín Chính phủ bi sụt giảm nghiêm trọng. Đất nước chìm trong nợ nần, nhất là nợ nước ngoài. Tại Thái Lan, với các cách thầc quản lý tài chính tiền tệ lỏng lẻo tai thời điểm trước khủng hoảng, hầu như toàn bộ dự trữ ngoại tệ của đất nước 14
  17. đều bị "nhốt" vào các hợp đồng giao sau. Do vậy, con số hơn 30 tỷ USD dự trữ chỉ là trên giấy. Trên thực tế, nó teo lại còn 1,14 tỷ, tương dương với 2 ngày nhập khẩu. Khi tin tức về sự mỏng manh này bị lộ ra ngoài trong điêu kiờn áp lực tỷ giá và nạn đầu cơ tiền tờ gia tăng, em hoảng loạn trên thị trường tài chính - tiền tờ bùng lên dữ dội ngay lập tức. Lời tuyên bố phá giá đồng baht chỉ là giọt nước cuối cùng trong toàn bộ hoạt động quản lý, điêu hành hờ thống tài chính - tiền tờ yếu kém của cả Chính phủ lẫn khu vực tư nhân(24) - Tinh trạng cho vay tay trong kéo dài đã làm xói mòn sức mạnh của các ngân hàng. Không tuân theo các nguyên tắc an toàn tối thiểu của hoạt động TC-NH, ở Đông Á, các Chính phủ cho phép nhiều công ty thành lập ngân hàng một cách dễ dàng. Các ngân hàng này tồn tại trước hết với mục đích huy động vốn để tài trợ cho các dự án của công ty mẹ hay của bạn bè các ông chủ công ty và chủ ngân hàng. Do hệ thống luật pháp TC-NH thiếu chặt chẽ và nghiêm minh, việc cho vay tay trong này có độ rủi ro cao và trong nhiều trưầng hợp, rất không minh bạch. Theo nguyên l hoạt động ý ngân hàng, chỉ cần một ngân hàng đổ bể sẽ kéo theo sự đổ bể dây chuyền trong toàn bộ nền kinh tế và gây nên các tổn thật vượt xa số tổn thất m à một ngân hàng phải gánh chịu. Vậy mà ở mỗi nước Đông Á, không phải chỉ có Ì hay 2 ngân hàng như vậy. - Hoạt động giám sát và thanh tra TC-NH yếu kém. Một trong những cơ sở quy định tình trạng này, theo nhiều nhà phân tích quốc tế, là tính thiếu công khai và rõ ràng trong hoạt động TC-NH. Do thông tin bị bịt kín, khi khủng hoảng nổ ra, việc hàng loạt công ty tài chính và ngân hàng thương mại phải tuyên bố phá sản hoặc buộc phải đình chỉ hoạt động, dù là điều không thể tránh khỏi, đã gây chấn động rất lớn do tính bất ngầ của nó. Vì thế, ngay sau khi sóng gió tiền tệ nổi lên thì hệ thống TC-NH của các nước này cũng lâm vào tình trạng chao đảo dữ dội (phá sản). Chỉ một thầi gian ngắn sau khi bùng nổ khủng hoảng, ở Thái Lan, hơn 30 công ty t i à chính và ngân hàng đã phải đóng cửa. Chính phủ Indonesia đã đóng cửa 16 ngân hàng tư nhân, 7 ngân hàng lớn do làm ăn thua lỗ, còn 40 ngân hàng khác phải đặt dưới sự quản lý và giám sát và quản lý trực tiếp của Chính phủ. Tình trạng cũng tồi tệ không kém đối với hệ thống ngân hàng Hàn Quốc, quy m ô lớn của các khoản nợ ngắn hạn và khó có khả năng hoàn trả đã đặt 9 trong số 11 NH lớn nhất vào tình trạng gay go. (1) Những con số nêu trên mới chỉ phần nào m ô tả được thực trạng của hệ thống TC-NH ở Đông Á. Chỉ có thể hình dung rõ mức độ trầm trọng của tình hình khi đặt nó vào trong hoàn cảnh chung rất khó khăn của nền kinh tệ, khi so sánh giữa một bên là tốc độ tăng trưởng sản lượng rất cao với một bên là năng lực bảo đảm hạn chế của hệ thống TC-NH cho sự tăng trưởng đó. Khi đặt vấn đề cải tổ và nâng cao năng lực hoạt động, hệ thống TC-NH các nước Đông Á đứng trước một tình thế tiến thoái lưỡng nan. Sau sự phá 15
  18. sản hàng loạt công ty tài chính và ngân hàng ở Thái Lan, Indonesia và Hàn Quốc, mặc dù Chính phủ các nước này đã phải cam kết cho ngân hàng nước ngoài vào mua cổ phần và điều hành cá ngân hàng bản địa như là m ộ t trong c các điều k i ệ n để đổi lấy nguồn tài trợ theo chương trình của I M F , song chính tình trạng không rõ ràng về quản lý và k ế toá sọ m ù m ờ về thông t i n nêu n, trên trong khung cảnh m ộ t sọ yếu k é m nói chung của hệ thống TC-NH và độ bất ổn định vĩ m ô cao (rủi ro lớn) làm cho các ngân hàng nước ngoài không d á m mạo hiểm chia sẻ rủi ro với các ngân hàng bản địa (dù họ đã rất sẩn sàng tham dọ cuộc chơi có mức lợi nhuận tiềm năng rất cao này) do không thể biết được chính xác mức độ rủi ro m à các ngân hàng bản địa đang lâm vào. 4. Sọ gia tăng nhanh chóng của nạn đầu cơ tiền tệ Sọ phát triển nhanh chóng của nạn đầu cơ tiền tệ ở Thái L a n trước khủng hoảng, sau đó lan rộng ra các nước khác là hậu quả không thể tránh k h ỏ i của tình trạng tích nén các mất cân đối vĩ m ô và những m é o m ó trong nền k i n h t ế suốt trong một thời gian dài. Nhưng đến lượt mình, nó chính là tác nhân trọc tiếp, là ngòi nổ của khủng hoảng. Sọ phát triển của hoạt động đầu cơ tiền tệ bắt nguồn từ d ọ đoán về quyết định phá giá đồng n ộ i tệ (thả n ổ i tỷ giá). D ọ đoán này dọa trên m ộ t cơ sở thọc tiễn vững chắc là áp lọc đối với tỷ giá đang gia tăng do tác động của hàng loạt yếu tố (một số yếu tố then chốt nhất đã nêu ở 2 mục trên). Các nhà kinh doanh, nhất là những người đầu cơ tiền tệ, lao vào cơn lốc vay m ư ợ n đồng n ộ i tệ để mua USD tích trữ, chờ cơ h ộ i bán lại k i ế m l ờ i . Điều đó làm cho tăng nhanh áp lọc lên tỷ giá v ố n đã rất căng thẳng; làm cho cạn kiệt nhanh chóng nguồn v ố n của ngân hàng; hoạt động tín dụng ngày càng dọa trên một cơ sở đầy rủi ro là thế chấp các tài sản bất động sản, các cổ phiếu công ty chất lượng thấp đang bị mất giá nhanh chóng; r ố i loạn hoạt động lưu thông tiền tệ và gây đình trệ sản xuất. Những áp lọc này gia tăng đến m ộ t mức nào đó đã buộc các Chính phủ, trước hết là Thá Lan, tuyên b ố phá giá. Sau l ờ i tuyên b ố phá giá, cơn i hoảng loạn xảy ra. Từ đó,hầu như không có cách nào có thể ngăn cản sọ mất giá đồng n ộ i tệ trong một thời gian ngắn. Việc chính phủ Thái L a n phải tung ra hàng chục tỷ USD d ọ trữ (các nưóc khác như Malaysia, Indonesia, Philippines cũng hành động như vậy tuy ở mức độ í hơn) chỉ là thao tác t "muối bỏ bể". H ơ n thế, việc tung d ọ trữ ngoại tệ ra v ớ i k h ố i lượng l ớ n làm cho quỹ d ọ trữ ngoại tệ hao hụt nhanh, cán cân thanh toán quốc tế mất cân đối trầm trọng hơn và khả năng bảo đảm an toàn nhập khẩu giảm thấp, áp lọc tỷ giá lại gia tăng. Từ đó, hình thành nên dòng xoáy mất giá tiền tệ. T ạ i đỉnh điểm của cơn xoáy lốc này, đồng Baht Thái L a n và đồng W o n H à n quốc mất giá khoảng 5 0 % , đồng Rupiah Indonesia mất giá hơn 8 0 % , đồng Ringit Malaysia và Peso Philippines tuy mất giá í hơn nhưng cũng lên đến t 30-40%. 16
  19. Tất nhiên, sự mất giá tiền tộ chịu tác động của nhiều yếu tố khác, đặc biệt là sẽ mất lòng tin của dân chúng và giới kinh doanh vào Chính phủ, vào triển vọng cứu trợ từ bên ngoài, là tâm lý hoảng loạn trong lĩnh vực tiền tệ. Song căn gốc của vấn đề là ẩ tình trạng ngày càng xấu đi của các biến số k i n h tế vĩ m ô cũng như trong cách điều hành chính sách của các Chính phủ không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Không bàn đến sự kiện có hay không có â m m ư u phá hoại của ai đó, bản thân hoạt động đẩu cơ tiền tệ trong trường họp các nền k i n h tế khủng hoảng rõ ràng là hậu quả tất yếu của sự yếu k é m trong nền k i n h tế, trước hết là trong hệ thống TC-TT, của cách xử lý của Chính phủ trong việc giảm áp lực tỷ giá (phá giá "giạt cục" k h i không chịu nổi sức ép thực tiễn c h ứ không phải nới lỏng các áp lực m ộ t cách có hệ thống). Còn k h i cơn lốc đầu cơ tiền tệ đã cuốn nền k i n h tế vào dòng xoáy bất ổn định thì bản thân hành v i đầu cơ trẩ thành tác nhân-xung lực của khủng hoảng chứ không đơn thuần chỉ là hậu quả của các yếu tố khác. Đ ổ n g thời, cần thấy rằng â m m ư u đầu cơ tiền tệ (dù là nhằm mục tiêu phá hoại- như thủ tướng Maiãysia đã buộc t ộ i ông G.Soros, là m ộ t trong những nhà tư bản lớn nhất trong lĩnh vực tài chính quốc tế, là tác nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng TC-TT Đông Á vừa qua như là m ộ t bộ phận của â m m ư u phá hoại mang tính quốc tế) chỉ có thể thực hiện được m ộ t k h i nền k i n h tế cũng như hệ thống tài chính của một nước nào đó bị r ố i loạn hoặc tiềm chứa đầy các nguyên nhân gây r ố i loạn đủ chúi muồi. H ơ n thế, n o i chung, đầu cơ tiền tệ, giống như m ọ i thao tác đầu cơ khác, là hiện tượng khá thông thường trong cơ chế thị trường. Trong điều kiện bình thường, đầu cơ có tác dụng tái lập sự cân bằng của lưu thông hàng hoa và giá cả. Nhưng đầu cơ sẽ gây nguy hại lớn m ộ t k h i nó nằm trong chủ đích thu l ợ i nhuận siêu ngạch của các thế lực tài chính hùng mạnh bằng cách gây ra tình trạng bất ổn kéo dài giữa sự khan hiếm và dư thừa tiền tệ. 5. Xu hướng gia tăng tình trạng mất cân đối trong cơ cấu kinh tế Việc trình bày một số nguyên nhân khủng hoảng phát sinh từ chính lĩnh vực TC-TT ẩ phần trên cho thấy khâu nối trực tiếp giữa hậu quả và nguyên nhân của cuộc khủng hoảng. Nhưng sự đan xen phức tạp cua các quan hệ trong nền k i n h tế có nghĩa rằng bản thân cuộc khủng hoảng này còn có gốc rễ từ những yếu tố sâu xa, căn bản và có nền tảng rộng hơn. Trong điều kiện k i n h tế thị trường hiện đại, m ọ i sự mất cân đối, bất ổn định va r o i loạn đều thể hiện trước hết thông qua các mất cân đổi và bất ổn đinh TC-TT M ọ i cuộc khủng hoảng TC-TT đều có nguyê nhân trực tiếp từ đây song có n cơ sẩ vượt ra ngoài lĩnh vực TC-TT. Đ ố i với cuộc khủng hoảng TC-TT Đông Á, quy luật này được m i n h chứng hết sức rõ ràng. N ó có nguồn gốc từ sư tích đọng các mất cân đối kinh tế vĩ m ô . Thậm chí, ẩ m ộ t mức độ rộng lớn hơn, từ cả những mất cân đối trong cấu trúc xã hội phát sinh trong qua trinh phát triển k i n h tế. r~ ' T H ư VI _ N ' TRUÔNG DAI M Ó C NGOAI THli0NB 17 ,ũl. cccjc
  20. Nói chung, các nền kinh tế Đông Á đều có quá trình cải biến cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hoa rất nhanh. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu giải thích sự thần kỳ Đông Á trong sự so sánh với các k h u vực đang phát triển khác trên thế giới. V à chính việc theo đuổi m ô hình tăng trưởng hướng vào xuất khẩu là động lực chính yếu kiến tạo nên các kết quả đó. Tuy nhiên, có m ộ t điều khá rõ ràng l trong quá trình đó, cùng với à những bước nhảy vọt về cơ cấu, trong các nền kinh tế này cũng dần dần tích đọng hàng loạt sự mất cân đứi, hay nói đúng hơn, gia tăng x u hướng phát triển lệch pha cơ cấu trong sự so sánh với xu hướng biến đổi của nền k i n h tế và thị trường thế giới. Trong k h i dức sức tứi đa để tăng nhanh sản lượng công nghiệp và nâng cao trình độ kỹ thuật-công nghệ của các ngành sản xuất, các nước này tạo ra và tích lũy sự mất cân đứi trên hai m ứ i quan hệ lớn: Thứ nhất, đó là sự không chú ý phát triển đúng mức hệ thứng TC-NH. Trước khủng hoảng, hộ thứng này có một sự phát triển đủ để duy trì tỷ lệ tiết k i ệ m n ộ i địa cao. Nhưng dường như đó chỉ l sự phát triển "vừa đủ" chứ à không phải là sự phát triển mang tính ưu việt và đón đầu chiến lược đứi với một nền k i n h tế tăng trưởng nhanh trong bứi cảnh nhịp độ toàn cầu hoa gia tăng. Những phân tích về sự yếu k é m của hệ thứng TC-NH đã chứng tỏ điều đó. Trong bứi cảnh ngày nay, đây chính là sự mất cân đứi có tác động kìm h ã m và phá hoại của nền kinh tế hiện đại. Thực tế cho thấy k h i x u hướng tự do tài chính quức tế được đẩy mạnh, dòng vứn nước ngoài đổ vào Đông Á ồ ạt trong khoảng 1985-96 thì hệ thứng TC-NH Đông Á hoàn toàn chưa được chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tiếp nhận nó một cách hiệu quả. Sự dễ dãi của các ngân hàng trong việc cho vay vứn hay bảo lãnh vay n ợ nước ngoài làm cho các yếu tứ rủi ro bị đánh giá thấp. K ế t cục là gia tăng nhanh sứ d ự án đầu tư k é m hiệu quả, nhiều rủi ro. N h ư vậy là sự mất cân đứi cơ cấu tổng thể (giữa khu vực TC-NH và khu vực kinh doanh còn lại), nảy sinh và tích đọng những mất cân đứi trong cơ cấu sản xuất-kinh doanh. Thứ hai, yếu tứ hàng đầu đảm bảo tính bền vững của quá trình tăng trưởng là hệ thứng cơ sở hạ tầng cũng đã bị tụt hậu rõ rệt so với sự phát triển kinh tế. Trong khi vẫn theo đuổi mục tiêu hàng đầu là tăng trưởng sản lượng, các nền kinh tế khu vực không thể tự bảo đảm nguồn v ứ n để phát triển. K h i đó, có thể d ự đoán tính hiệu quả của các nền kinh tế này sẽ có x u hướng sụt giảm về lâu dài. D ự đoán này là yếu tứ quan trọng làm tăng dần m ứ i hoài nghi đứi với triển vọng phát triển lâu dài của Đông Á. K h i đó, chỉ cần một dấu hiệu về sự bùng nổ bất ổn định cũng đủ để gây ra trạng thái hoảng loạn trong giới đầu tư quức tế. Dò vứn nước ngoài đứng trước nguy cơ của m ộ t ng cuộc tháo chạy ồ ạt, đẩy nền kinh tế vào một cơn choáng sức nặng. Song song với tình trạng mất cân đứi toàn bộ nêu trên, trong các nền k i n h tế này cũng tích đọng dần những mất cân đứi cục bộ (trong phạm v i giữa các sản xuất-thương mại, dịch vụ, trong từng k h ứ i ngành và giữa các 18

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản