intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ văn học và Văn hóa Việt Nam: Truyện cổ tích sinh hoạt người Việt dưới góc nhìn văn hóa ứng xử

Chia sẻ: Cỏ Xanh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:158

45
lượt xem
4
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu đề tài Truyện cổ tích sinh hoạt người Việt dưới góc nhìn văn hóa ứng xử nhằm đi sâu vào phân tích, đánh giá những nét riêng biệt, đẹp đẽ cùng những giá trị to lớn trong lối sống, cách đối nhân xử thế được dân gian ta gửi gắm qua những câu chuyện cổ tích sinh hoạt. Đồng thời, qua đó khẳng định vai trò của truyện cổ tích sinh hoạt trong việc gìn giữ nét đẹp truyền thống dân tộc.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ văn học và Văn hóa Việt Nam: Truyện cổ tích sinh hoạt người Việt dưới góc nhìn văn hóa ứng xử

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Đào Ngọc Ngân Giang TRUYỆN CỔ TÍCH SINH HOẠT NGƯỜI VIỆT DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA ỨNG XỬ LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Thành phố Hồ Chí Minh – 2020
  2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Đào Ngọc Ngân Giang TRUYỆN CỔ TÍCH SINH HOẠT NGƯỜI VIỆT DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA ỨNG XỬ Chuyên ngành : Văn học Việt Nam Mã số : 8220121 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP Thành phố Hồ Chí Minh – 2020
  3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan nội dung nghiên cứu trong luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Điệp. Các kết quả nêu trong luận văn đều có cơ sở khoa học. Mọi trích dẫn trong luận văn đều có xuất xứ rõ ràng. Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình. TP. Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 05 năm 2020 Tác giả Đào Ngọc Ngân Giang
  4. LỜI CẢM ƠN Công trình này hoàn thành, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tác giả luận văn thực sự rất cảm kích trước sự giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể. Trước hết, xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Điệp, người cô hướng dẫn rất tận tâm, tận tình giúp đỡ, giảng giải, bổ khuyết những kiến thức liên quan đến đề tài luận văn cho người viết. Cô cũng luôn động viên tinh thần, tạo cơ hội và điều kiện để người viết tham gia vào các Hội thảo nghiên cứu về văn học. Chỉ tiếc rằng, trong khả năng và thời gian có hạn, người viết chưa thực sự đáp ứng mong mỏi và kì vọng của cô. Em xin chân thành cảm ơn cô. Em xin cảm ơn các thầy cô giảng dạy bộ môn lớp Văn học Việt Nam K28. Nhờ sự nhiệt tình và tận tâm của quý thầy cô mà em và cả lớp đã hoàn thành chương trình Cao học và đã học được những điều bổ ích để vận dụng vào trong luận văn và cả trong quá trình công tác sau này. Em cũng xin cảm ơn lãnh đạo và các thầy cô Phòng Sau Đại học Trường Đại học Sư phạm TP.HCM vì đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành đúng kế hoạch học tập, đạt được kết quả tốt nhất. Xin cảm ơn Ban Giám hiệu và thầy cô tổ bộ môn Văn trường THPT Thanh Đa (Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh) vì đã tạo điều kiện và sắp xếp thời gian để em được đi học nâng cao chuyên môn. Đồng thời, cũng xin gửi lời tri ân đến các cán bộ, thủ thư ở Thư viện trường Đại học Sư phạm TP.HCM. Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bè bạn, học sinh đã luôn động viên và giúp đỡ để tiếp thêm sức mạnh cho người viết hoàn thành luận văn. Xin tri ân tất cả với một tấm lòng nhiệt thành nhất!
  5. MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các bảng MỞ ĐẦU 1 Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH SINH HOẠT NGƯỜI VIỆT .................................................................................................. 13 1.1. Khái quát về văn hoá ứng xử của người Việt ........................................... 13 1.1.1. Khái niệm văn hóa ứng xử ............................................................. 13 1.1.2. Đặc trưng văn hóa ứng xử của người Việt ..................................... 21 1.2. Khái quát về truyện cổ tích sinh hoạt của người Việt .............................. 30 1.2.1. Khái niệm cổ tích sinh hoạt............................................................ 30 1.2.2. Đặc trưng về nội dung và nghệ thuật của cổ tích sinh hoạt ........... 34 1.3. Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa ...................................................... 36 1.3.1. Mối quan hệ nói chung giữa văn học và văn hóa.......................... 36 1.3.2. Mối quan hệ giữa truyện cổ tích sinh hoạt và văn hóa ứng xử của người Việt ............................................................................... 38 1.4. Nguồn truyện cổ tích sinh hoạt khảo sát .................................................. 41 Tiểu kết Chương 1 .................................................................................................. 44 Chương 2. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH SINH HOẠT CỦA NGƯỜI VIỆT.......... 46 2.1. Văn hóa ứng xử giữa người với người ..................................................... 47 2.1.1. Văn hóa ứng xử trong gia đình ...................................................... 47 2.1.2. Văn hóa ứng xử trong cộng đồng................................................... 61
  6. 2.1.3. Văn hóa ứng xử với những giá trị cá nhân..................................... 69 2.2. Văn hóa ứng xử giữa con người với thế giới tự nhiên ............................. 78 2.2.1. Văn hóa ứng xử thể hiện qua sự hòa hợp, tận dụng tự nhiên ........ 79 2.2.2. Văn hóa ứng xử thể hiện qua sự ứng phó với tự nhiên .................. 81 Tiểu kết Chương 2 .................................................................................................. 83 Chương 3. NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH SINH HOẠT CỦA NGƯỜI VIỆT ....... 85 3.1. Văn hóa ứng xử trong truyện cổ tích sinh hoạt người Việt phản ánh không gian sinh hoạt của cộng đồng người Việt ..................................... 86 3.2. Văn hóa ứng xử trong truyện cổ tích sinh hoạt người Việt phản ánh thế giới tình thương của người Việt ........................................................ 92 3.3. Văn hóa ứng xử trong truyện cổ tích sinh hoạt người Việt phản ánh những triết lý dân gian của người Việt........................................ 102 3.3.1. Triết lý về giá trị và vị thế của con người .................................... 102 3.3.2. Triết lý sống thuận theo tự nhiên ................................................. 106 3.3.3. Triết lý sống “Ở hiền gặp lành” ................................................... 109 3.3.4. Triết lý “vạn vật hữu linh” ........................................................... 114 Tiểu kết Chương 3 ................................................................................................ 116 KẾT LUẬN .......................................................................................................... 118 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 120 PHỤ LỤC
  7. DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1. Ứng xử của người Việt trong mối quan hệ gia đình ..................... 48 Bảng 2.2. Ứng xử của người Việt trong mối quan hệ cộng đồng.................. 62 Bảng 2.3. Ứng xử của người Việt với những giá trị cá nhân ........................ 70 Bảng 2.4. Ứng xử của con người với môi trường tự nhiên trong truyện cổ tích người Việt .......................................................................... 78
  8. 1 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Truyện cổ tích là một thể loại văn học dân gian được phổ biến trong một phạm vi hết sức rộng lớn và hấp dẫn mọi đối tượng bạn đọc trong mọi thời điểm. Từ lâu, truyện cổ tích được đánh giá là một trong những thể loại quan trọng nhất của loại hình tự sự dân gian, bao gồm ba tiểu loại: cổ tích loài vật, cổ tích thần kì, và cổ tích sinh hoạt (còn gọi là truyện cổ tích thế sự). Trong đó, truyện cổ tích sinh hoạt được nhìn nhận và đánh giá là tiểu loại khá tiêu biểu, mang nhiều nét đặc trưng của thể loại cổ tích. Tiểu loại này thu hút người đọc không phải ở những yếu tố kỳ ảo, những xung đột gay gắt, kịch tính như ở cổ tích thần kỳ mà nó tạo ra sức hấp dẫn từ chính chất liệu hiện thực, từ hơi thở cuộc sống hiện thực được thổi vào trong từng câu chuyện. Văn hóa là một vấn đề được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu. Văn học là một bộ phận của văn hóa. Vì vậy khi nghiên cứu văn học dân gian ta không thể không quan tâm tới văn hóa. Con người với văn hóa giao tiếp ứng xử với thiên nhiên và xã hội là những đề tài quen thuộc trong tất cả các thể loại văn học dân gian, đặc biệt là tiểu loại cổ tích sinh hoạt. Truyện cổ tích sinh hoạt với những câu truyện về đời sống là nơi bảo tồn và tái tạo những giá trị của văn hóa ứng xử. Con người trong giao tiếp hàng ngày đều phải tuân theo những chuẩn mực của văn hóa ứng xử. Điều này được phản ánh rất rõ ràng trong truyện cổ tích sinh hoạt. Việc nghiên cứu truyện cổ tích sinh hoạt người Việt dưới góc độ văn hóa, mà cụ thể là văn hóa ứng xử đối với chúng tôi, những người giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn tại trường trung học phổ thông là hướng nghiên cứu thiết thực và sẽ bổ trợ hiệu quả cho công việc giảng dạy của mình. Bởi những kết quả thu thập được qua đề tài nghiên cứu này sẽ hỗ trợ cho việc nhìn nhận văn học dân gian trên bình diện liên kết với văn hóa dân gian, từ đó khiến cho
  9. 2 việc truyền đạt những giá trị văn hóa truyền thống cho học sinh trở nên hiệu quả hơn, đặc biệt là văn hóa ứng xử, giúp học sinh phát triển toàn diện về học vấn và nhân cách. Với những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài Truyện cổ tích sinh hoạt người Việt dưới góc nhìn văn hóa ứng xử với hy vọng tìm hiểu về những giá trị của truyện cổ tích sinh hoạt người Việt trong mối liên hệ với văn hóa ứng xử truyền thống. Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài này cũng sẽ phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập truyện cổ tích sinh hoạt ở các bậc học nói chung. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2.1. Một số công trình đã nghiên cứu về truyện cổ tích sinh hoạt người Việt Truyện cổ tích là thể loại được sự chú ý nghiên cứu từ rất sớm so với nhiều thể loại khác của văn học dân gian. Đã có rất nhiều giáo trình và công trình nghiên cứu có giá trị trong và ngoài nước với các bài viết, chuyên luận, luận văn đề cập đến nhiều góc độ của truyện cổ tích như nguồn gốc, đặc trưng hay phân loại. Trong đó, cổ tích sinh hoạt là một tiểu loại của cổ tích. Nó chứa đựng những giá trị to lớn về ý nghĩa hiện thực và giá trị nhân đạo, văn hóa. Vì vậy, nghiên cứu tiểu loại cổ tích sinh hoạt là một hướng nghiên cứu đang rất được quan tâm những năm gần đây. Khi tổng hợp những nghiên cứu, nhận định của các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về Folkore, Chu Xuân Diên trong bài viết Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa học (2001) đã thống kê các cách phân loại truyện cổ tích trên thế giới. Trong đó, cách phân loại thành ba tiểu loại cổ tích bao gồm cổ tích thần kỳ, cổ tích loài vật và cổ tích sinh hoạt của O.Mile và Prop là cách được nhiều nhà nghiên cứu Folkore đồng thuận. Qua sự tổng hợp của bài nghiên cứu này, có thể thấy được vấn đề nghiên cứu cổ tích sinh hoạt như một tiểu loại của truyện cổ tích với những đặc điểm chung và riêng biệt trong cùng
  10. 3 một thể loại của truyện kể dân gian đã được các nhà nghiên cứu đặt vấn đề và quan tâm từ rất sớm. Trong công trình Văn học dân gian những công trình nghiên cứu (2003) của Bùi Mạnh Nhị, Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp, ở phần Truyện cổ tích, Chu Xuân Diên có cái nhìn cụ thể hơn về tiểu loại cổ tích sinh hoạt. Theo ông, cổ tích sinh hoạt có nội dung phản ánh những xung đột trong gia đình và xã hội thời kỳ xã hội có phân chia giai cấp. Nhưng khi so sánh với cổ tích thần kỳ, một tiểu loại khác của cổ tích có những nội dung phản ánh tương tự, ông lại chỉ ra đặc điểm riêng để phân loại cổ tích sinh hoạt như vai trò của các yếu tố thần kỳ hay kết thúc truyện, số phận của nhân vật chính. Đây là những phát hiện có yếu tố quan trọng trong công việc thu thập và thống kê truyện cổ tích sinh hoạt người Việt khi tiến hành đề tài nghiên cứu. Trong giáo trình Văn học dân gian của Vũ Anh Tuấn, Phạm Thu Yến, Nguyễn Việt Hùng, Phạm Đặng Xuân Hương viết về truyện cổ tích sinh hoạt như sau Truyện cổ tích sinh hoạt được phân chia theo đề tài và nội dung phản ánh, mỗi câu truyện là một bài học về những vấn đề đạo đức, ứng xử, cách sống của con người. Sức hấp dẫn của nó không nằm ở các yếu tố hoang đường, kỳ ảo (tiểu loại này hầu như yếu tố kỳ ảo chỉ mang tính điểm xuyết, xuất hiện ở phần kết của truyện), hay ở kết cấu ly kỳ, phức tạp, mà nằm ở sự giản dị của câu truyện, ở những tình huống sinh hoạt thường ngày (Vũ Anh Tuấn, Phạm Thu Yến, Nguyễn Việt Hùng, Phạm Đặng Xuân Hương, 2012). Trong một số bài viết của tác giả Triều Nguyên trên website của Tạp chí sông Hương đã có sự phân biệt cụ thể giữa truyện cổ tích sinh hoạt với những thể loại khác của văn học dân gian có một số nét tương đồng về nội dung và
  11. 4 nghệ thuật. Bài viết Sự khác nhau giữa truyện cười và truyện cổ tích sinh hoạt có gây cười được đăng ngày 23/2/2010, tác giả đã chỉ ra sự khác biệt của truyện cổ tích sinh hoạt có yếu tố gây cười và thể loại truyện cười thể hiện rõ ở ba đặc điểm là dung lượng lời kể, kết cấu và kết thúc của hai thể loại này. Với bài viết khác là Phân định giữa truyện truyền kỳ và truyện cổ tích thế tục Việt Nam vào năm 2016 cũng trên website của Tạp chí sông Hương, Triều Nguyên lại khu biệt rõ truyện cổ tích sinh hoạt (hay còn gọi là cổ tích thế tục) với một thể loại dễ nhầm lẫn nhất với nó là truyện truyền kỳ. Nếu truyện cổ tích sinh hoạt nhằm hướng tới những người bình thường, thì truyện truyền kì nhằm vào lớp người có học thức và giới quan lại. Truyện truyền kì có thể có lời bàn hay lời bình, đặt ở cuối truyện còn cổ tích sinh hoạt thì không. Hai lý do được tác giả đưa ra đã giải thích sự gần gũi cũng như khác biệt giữa truyện truyền kỳ và truyện cổ tích sinh hoạt. Hai bài viết trên của Triều Nguyên đã giúp cho công việc nghiên cứu dễ dàng hơn khi việc đưa ra những tiêu chí để phân loại truyện cổ tích sinh hoạt với các thể loại văn học dân gian khác. Tác giả Lưu Thị Hồng Việt trong bài viết Không gian trong truyện cổ tích sinh hoạt của Việt Nam – Hàn Quốc đăng trên webssite Văn hóa Nghệ An năm 2014 đã khái quát các dạng không gian đời sống sinh hoạt của con người Việt Nam như không gian tự nhiên, không gian xã hội với không gian biển, không gian gia đình, không gian chợ, không gian làng, không gian lễ hội… “đi vào trong cổ tích sinh hoạt góp phần làm cho cốt truyện phát triển, phản ánh phạm vi hoạt động của nhân vật, phản ánh đời sống vật chất và đời sống tinh thần phong phú, đa dạng” của cộng đồng (Lưu Thị Hồng Việt, 2014). Luận văn thạc sĩ Kiểu nhân vật thông minh trong tiểu loại truyện cổ tích sinh hoạt người Việt của Phạm Thị Thu Huyền vào năm 2011 tại trường Đại học sư phạm Hà Nội là công trình đi sâu vào nghiên cứu một kiểu nhân vật trong hệ thống các nhóm nhân vật của truyện cổ tích sinh hoạt với các biểu hiện của việc dùng trí thông minh của mình để phá giải những lời thánh đố, những
  12. 5 chiêu trò kén rể hay trong xử kiện,… Luận văn đã đóng góp những nghiên cứu về loại hình nhân vật với những đặc điểm cụ thể, làm rõ hơn những giá trị truyền thống của người Việt trong việc xem trọng trí tuệ, tài năng của con người. 2.2. Một số công trình nghiên cứu về văn hóa ứng xử người Việt Văn hóa là một phạm trù nghiên cứu rất rộng. Các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về văn hóa đã chú ý tới rất nhiều phương diện khác nhau của nó, trong đó có văn hóa ứng xử của người Việt. Chúng tôi chú ý đến các cuốn giáo trình có tính chất nền tảng như: Cơ sở văn hóa Việt Nam (1999), Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại (2016) của Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam (2012) của Trần Quốc Vượng, Bản sắc văn hóa Việt Nam (2018) của Phan Ngọc. Trong các cuốn sách và giáo trình trên, các nhà nghiên cứu đều đưa ra khái niệm văn hóa và văn hóa học; phân biệt văn hóa với văn hiến, văn vật và chỉ ra chức năng của văn hóa trong đời sống con người. Trên cơ sở đó, các tác giả phân tích, lí giải đặc trưng của văn hóa Việt Nam trên các mặt: Văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức đời sống tập thể, cá nhân và văn hóa ứng xử. Trong Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại (2016), Trần Ngọc Thêm đã đưa ra đưa ra năm giá trị cơ bản nhất tạo nên những đặc trưng gốc của bản sắc văn hóa Việt Nam bao gồm tính cộng đồng, tính ưa hài hòa, khuynh hướng thiên về âm tính, tính tổng hợp và tính linh hoạt. Năm đặc trưng cơ bản này có mối tương quan với cấu trúc của văn hóa gồm văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức đời sống tập thể, văn hóa tổ chức đời sống cá nhân, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội. Trong Bản sắc văn hóa Việt Nam (2018), Phan Ngọc đã đánh giá về bản sắc văn hóa dân tộc bằng cách tiếp cận qua những yếu tố như Tổ quốc, gia đình, thân phận, diện mạo. Trong từng yếu tố, Phan Ngọc so sánh những biểu hiện của văn hóa truyền thống người Việt trong sự tương quan với văn hóa Trung Hoa và văn hóa phương Tây. Cách nghiên cứu này đã làm nổi bật những đặc trưng của văn hóa truyền thống người Việt, trong đó có văn hóa ứng xử.
  13. 6 Ngoài các cuốn giáo trình, những cuốn sách có tính chất nền tảng, còn có nhiều công trình nghiên cứu về các mặt khác nhau của văn hóa ứng xử của người Việt như: Tâm lí học ứng xử (2001) của Lê Thị Bừng, Văn hóa ứng xử trong giáo dục gia đình (2001) của Nguyễn Văn Lê, Văn hóa ứng xử truyền thống của người Việt (2007) của Lê Văn Quán, Văn hóa ứng xử Việt Nam hiện nay (2008) của Nguyễn Thanh Tuấn … Trong những chuyên khảo này, các tác giả đã nêu những nguyên nhân hình thành văn hóa ứng xử của người Việt từ hoàn cảnh tự nhiên, ý thức cộng đồng và sự ảnh hưởng của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo. Họ cũng chỉ ra giá trị của văn hóa ứng xử truyền thống của người Việt qua những bình diện ứng xử với cá nhân, gia đình và cộng đồng với những đặc điểm ứng xử của tư duy trực giác tổng hợp, lối ứng xử linh hoạt, lòng nhân ái và ý thức cộng đồng. 2.3. Một số công trình nghiên cứu về văn hóa ứng xử trong văn học dân gian người Việt Nghiên cứu văn hóa trong văn học dân gian là một lĩnh vực nghiên cứu mới mẻ nhưng là hướng đi đúng đắn của các nhà nghiên cứu văn hóa, văn học trong thời gian gần đây. Ở Việt Nam, đã có những công trình nghiên cứu về văn hóa trong văn học, đặc biệt là trong văn học dân gian. Tiêu biểu như các công trình nghiên cứu Một cách tiếp nhận văn hóa (2000) và Một thức nhận về văn hóa Việt Nam (2018) của Phan Ngọc, Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn học (2018) của Nguyễn Bá Thành, Nghiên cứu văn học từ mã văn hóa dân gian (2018) của Nguyễn Thị Bích Hà, Phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu giảng dạy văn học (2018) của Trần Nho Thìn,… Các công trình này đều xem văn hóa học là một hướng tiếp cận hiểu quả đối với văn học, trong đó có những giá trị văn hóa truyền thống tới văn học dân gian như ý kiến của Nguyễn Bá Thành.
  14. 7 Văn học nghệ thuật (với nội hàm là nghệ thuật ngôn từ và các ngành nghệ thuật khác) là một lĩnh vực đặc thù của văn hóa. Đặc thù bởi văn học nghệ thuật phản ánh tư tưởng, tình cảm của dân tộc một cách trực tiếp, xuyên suốt và toàn diện. Trong văn học nghệ thuật, dân tộc tự tạo ra cho mình một thế giới thứ hai, một thế giới do trí tưởng tượng của các thành viên dân tộc tạo nên. Thế giới đó không chỉ là một thành tố của bản sắc dân tộc mà còn phản ánh toàn diện cái bản sắc đó với các nét tính cách, tâm hồn của dân tộc (Nguyễn Bá Thành, 2018). Trong chuyên khảo của Nguyễn Thị Bích Hà về đề tài Nghiên cứu văn học dân gian từ mã văn hóa dân gian (2018), tác giả đưa ra những khái niệm lý thuyết về phương pháp luận nghiên cứu văn học dân gian, phương pháp nghiên cứu văn học dân gian từ mã văn hóa dân gian, mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học dân gian. Công trình này đã cung cấp một cái nhìn cụ thể hơn về hướng nghiên cứu văn học dân gian trong mã văn hóa dân gian, một đặc trưng của văn hóa truyền thống dân tộc. Trần Nho Thìn trong cuốn Phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu, giảng dạy văn học (2018) đã đi sâu vào nghiên cứu các dấu hiện của văn hóa, đặc biệt là những giá trị văn hóa truyền thống về đạo đức, ứng xử của người Việt trong các tác phẩm văn học. Tác giả chia chuyên luận thành các thế ứng xử khác nhau của con người trong từng mối quan hệ cụ thể. Đó là cách ứng xử với tự nhiên, với thân thể, trong quan niệm về giới,... Điều này đã giúp cho người nghiên cứu nắm được các phương pháp để tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ văn hóa ứng xử, trong đó có các tác phẩm của văn học dân gian. Trong bài báo Những truyền thống văn hóa dân gian Việt Nam trong kiểu truyện về Thánh Mẫu của tác giả Nguyễn Thị Nguyệt đăng trong Tạp chí Khoa
  15. 8 học Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa học xã hội và Nhân văn, số 28 (2012) đã nhận xét “Truyện kể về Thánh Mẫu chứa đựng những đặc điểm tư tưởng, tình cảm, tính cách của dân tộc Việt Nam và phụ nữ Việt Nam và đặc biệt là những truyền thống văn hóa dân gian Việt Nam” (Nguyễn Thị Nguyệt, 2012) Trong bài báo, tác giả đã khẳng định lối ứng xử trọng nữ của người Việt, từ đó mà vai trò người mẹ, người phụ nữ trong gia đình cũng được nâng cao, “Người Việt thờ Mẫu trước hết là thờ người mang nặng đẻ đau, ôm ấp chăm bẵm và đến hết đời vẫn còn lo lắng cho con cái của mình, rộng ra là thờ người Mẹ của xứ sở, bảo hộ, bảo trợ cho con người” (Nguyễn Thị Nguyệt, 2012). Năm 2016, Phạm Thị Thanh Tuyền với luận văn Văn hóa ứng xử của người Việt trong truyện cổ tích thần kỳ đã nghiên cứu về những giá trị của văn hóa ứng xử dân tộc trong thể loại cổ tích thần kỳ. Luận văn này đề cập tới văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, ứng xử với gia đình, ứng xử với xã hội và văn hóa ứng xử với chính mình của người Việt. Qua đó thấy được những mối mâu thuẫn, bất công trong xã hội và cách ứng xử trọng tình nghĩa, hướng thiện của con người. Năm 2017, luận văn Văn hóa ứng xử trong truyện cười dân gian người Việt của tác giả Nguyễn Thị Hằng là công trình nghiên cứu về văn hóa ứng xử trong truyện cười dân gian Việt Nam không chỉ cho thấy nét ứng xử truyền thống của người Việt trong cuộc chiến với thói hư tật xấu, với những cái xấu xa, lạc hậu mà còn có tư duy sáng tạo của con người Việt dưới hình thức nghệ thuật của truyện cười. Cũng trong năm 2017, luận văn Truyện cổ tích sinh hoạt người Việt dưới góc nhìn văn hóa của tác giả Nguyễn Thị Hồng Ngân đã nghiên cứu truyện cổ tích sinh hoạt người Việt trên các phương diện của văn hóa như tín ngưỡng, phong tục và thế ứng xử của người Việt. Tuy nhiên, vì đây là một công trình nghiên cứu về chuyên ngành văn hóa học, tác giả tìm hiểu chủ yếu về những giá trị văn hóa chung của người Việt nên văn hóa ứng xử trong luận văn này
  16. 9 chỉ là một phần nhỏ của văn hóa dân tộc Việt được tác giả trình bày. Bên cạnh đó, luận văn vẫn chưa đề cập đến cách ứng xử của người Việt với môi trường tự nhiên. Đây cũng là một phương diện ứng xử quan trọng trong văn hóa truyền thống của người Việt. Với những công trình nghiên cứu trên, có thể thấy rõ việc nghiên cứu văn học dân gian dưới góc nhìn văn hoá là một hướng nghiên cứu quan trọng và đang có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai. Tuy không phủ nhận những đóng góp to lớn và quan trọng của các công trình nghiên cứu trên nhưng rõ ràng, vẫn chưa có một đề tài nghiên cứu riêng biệt nào về giá trị của truyện cổ tích sinh hoạt trong cách biểu hiện những giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt là văn hóa ứng xử. Vậy nên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài Truyện cổ tích sinh hoạt người Việt dưới góc nhìn văn hóa ứng xử nhằm đi sâu vào phân tích, đánh giá những nét riêng biệt, đẹp đẽ cùng những giá trị to lớn trong lối sống, cách đối nhân xử thế được dân gian ta gửi gắm qua những câu chuyện cổ tích sinh hoạt. Đồng thời, qua đó khẳng định vai trò của truyện cổ tích sinh hoạt trong việc gìn giữ nét đẹp truyền thống dân tộc. Đây là một trong những vấn đề đang được quan tâm hàng đầu trong việc giáo dục, bảo tồn và phát huy những giá trị quý báu của truyền thống dân tộc trong nhà trường. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Như tên đề tài luận văn đã chỉ rõ, đối tượng nghiên cứu của luận văn này là Văn hóa ứng xử trong truyện cổ tích sinh hoạt của người Việt. Phạm vi nghiên cứu: Trong luận văn, chúng tôi tìm hiểu những giá trị mà văn hóa ứng xử truyền thống tạo ra trong cổ tích sinh hoạt người Việt. Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi tiến hành khảo sát 197 truyện cổ tích sinh hoạt người Việt trong 03 tuyển tập cổ tích là Truyện cổ tích Việt Nam bình giải (2005) của Mộng Bình Sơn (02 truyện), Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 7 – Phần truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích sinh hoạt (2005) của Viện
  17. 10 Khoa học xã hội Việt Nam (76 truyện) và Truyện cổ tích thế tục Việt Nam (2016) của Triều Nguyên (119 truyện). 4. Phương pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp thống kê và hệ thống Phương pháp thống kê là phương pháp giúp người viết tập hợp, phân loại và đánh giá khách quan số lần xuất hiện của các yếu tố văn hóa ứng xử trong truyện cổ tích sinh hoạt người Việt, tránh được cảm nhận chủ quan, dẫn tới những kết quả sai lệch trong nghiên cứu khoa học. Phương pháp hệ thống là phương pháp đặt sắp xếp các tác phẩm theo một hệ thống các giá trị của văn hóa ứng xử để phân tích, lý giải mối liên hệ giữa các yếu tố thành phần, từ đó có cái nhìn tổng thể về giá trị của truyện cổ tích sinh hoạt dưới góc độ văn hóa ứng xử. 4.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp Từ việc phát hiện, thống kê các yếu tố văn hóa ứng xử được phản ánh trong truyện cổ tích sinh hoạt người Việt, người viết tiến hành phân tích, giải thích, đánh giá ý nghĩa của cơ sở đó, chúng tôi rút ra những kết quả chung cho vấn đề nghiên cứu. 4.3. Phương pháp nghiên cứu liên ngành Vận dụng linh hoạt các kiến thức văn hóa học, dân tộc học, xã hội học,… để tìm hiểu những giá trị văn hóa ứng xử truyền thống của dân tộc Việt. Trên cơ sở lý thuyết đó, người viết ứng chiếu để phân tích và làm rõ các đặc trưng văn hóa ứng xử người Việt trong truyện cổ tích sinh hoạt. 4.4. Phương pháp so sánh So sánh điểm giống và khác nhau trong cách ứng xử của người Việt được phản ánh trong truyện cổ tích sinh hoạt với cách ứng xử của người Việt được phản ánh trong một số thể loại khác như cổ tích thần kỳ, truyện cười,… Từ đó, chúng tôi rút ra những nhận xét và lí giải cụ thể.
  18. 11 5. Dự kiến đóng góp của đề tài Luận văn là công trình nghiên cứu một cách khá hệ thống và đầy đủ về những giá trị của văn hóa ứng xử truyền thống dân tộc trong truyện cổ tích sinh hoạt người Việt. Luận văn góp phần khẳng định vai trò của truyện cổ tích sinh hoạt trong việc bảo lưu và tái hiện những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đồng thời cũng góp phần tìm hiểu đầy đủ hơn về cái hay, cái đẹp của truyện cổ tích sinh hoạt trong hệ thống các giá trị văn hóa ứng xử truyền thống. Ngoài ra, Luận văn có ý nghĩa và giá trị tham khảo nhất định cho người nghiên cứu muốn tìm hiểu sâu hơn về văn học dưới góc độ văn hóa ứng xử. Đồng thời cung cấp phương pháp giảng dạy truyện cổ tích theo hướng tiếp cận mới từ văn hóa học. 6. Cấu trúc luận văn Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, phần Tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương như sau: Chương 1. Một số vấn đề lí luận chung về văn hóa ứng xử và truyện cổ tích sinh hoạt người Việt. Nội dung của chương này là những lý thuyết tổng quan về văn hóa ứng xử truyền thống của người Việt, những lý thuyết chung về truyện cổ tích sinh hoạt người Việt với những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật, mối quan hệ của văn hóa và văn học trong sự tương quan tác động với nhau và tình hình tư liệu truyện cổ tích sinh hoạt người Việt được chúng tôi sưu tầm, khảo sát và tìm hiểu trong phạm vi đề tài của luận văn. Chương 2. Những biểu hiện của văn hóa ứng xử trong truyện cổ tích sinh hoạt của người Việt. Nội dung của chương này nhằm trình bày các biểu hiện của văn hóa ứng xử trong các mối quan hệ của con người ở truyện cổ tích sinh hoạt người Việt: với môi trường xã hội, truyện cổ tích sinh hoạt thể hiện các giá trị ứng xử qua
  19. 12 mối quan hệ trong gia đình (vợ chồng, cha mẹ với con cái, anh em, họ hàng), mối quan hệ xã hội (bạn bè, tầng lớp giàu nghèo, vua quan với dân, những người không quen biết với nhau), trong quan hệ với giá trị cá nhân (hạnh phúc, đạo đức, trí tuệ, thói hư tật xấu). Với môi trường tự nhiên, truyện cổ tích sinh hoạt biểu hiện mối quan hệ hòa hợp, tận dụng thiên nhiên và quan hệ ứng phó với thiên nhiên. Chương 3. Những giá trị của văn hóa ứng xử trong truyện cổ tích sinh hoạt của người Việt. Trong chương này, chúng tôi trình bày những giá trị của văn hóa ứng xử trong truyện cổ tích sinh hoạt qua sự phản ánh những đặc trưng trong đời sống của người Việt về cả vật chất lẫn tinh thần. Đó là sự phản ánh không gian sinh hoạt cộng đồng, thế giới tình thương và những triết lý dân gian của người Việt. Qua đó nhận ra được giá trị nhân văn và tính giáo dục của truyện cổ tích sinh hoạt người Việt. Ngoài ra, luận văn còn có phần phụ lục thống kê và tổng hợp tất cả 197 truyện cổ tích sinh hoạt người Việt mà chúng tôi tiếp cận, khảo sát trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này.
  20. 13 Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH SINH HOẠT NGƯỜI VIỆT 1.1. Khái quát về văn hoá ứng xử của người Việt 1.1.1. Khái niệm văn hóa ứng xử * Khái niệm văn hóa UNESCO từng thừa nhận “văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội” (Phan Ngọc, 2018). Từ khi hình thành các cộng đồng loài người, văn hóa là yếu tố cốt lõi để tạo dựng một cơ cấu tổ chức xã hội hoàn chỉnh. Văn hóa được thể hiện qua từng phương diện trong đời sống, lao động, sinh hoạt, giải trí của con người như “văn hóa ẩm thực”, “văn hóa mặc”, “văn hóa ứng xử …. Có thể nói, văn hóa là “hạt nhân” để xây dựng xã hội loài người, là phương tiện để phân tách các cộng đồng dân tộc với nhau. Thiếu đi văn hóa, con người không khác gì những cỗ máy được lập trình cứng nhắc, khiếm khuyết những màu sắc cá biệt và độc đáo. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “văn hóa”. Mỗi định nghĩa là một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau của các nhà nghiên cứu về văn hóa. Trong Một cách tiếp cận văn hóa, Phan Ngọc dẫn ra quan điểm của các nhà nghiên cứu phương Tây khi tiếp cận văn hóa từ mặt ngôn ngữ. Từ “văn hóa” theo nghĩa thuật ngữ của nó là bắt nguồn từ châu Âu để dịch từ “culture” của Anh và Pháp, “kultur” của Đức. Trong tiếng Latinh, từ này có nguồn gốc từ các dạng của động từ “colere” là “colo”, “colui”, “cultus” được hiểu theo hai nghĩa: “cultus agri” là “trồng trọt ngoài đồng” và “cultus animi” nghĩa là “sự giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn con người” (Phan Ngọc, 2000). Mở rộng nghĩa bóng của từ “văn hóa”, nhà văn hóa học người Pháp Abraham Moles cho rằng: “Văn hóa – đó là chiều cạnh trí tuệ của môi trường
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2