intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Văn học: Vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong lý luận Văn học ở Việt Nam từ 1975 đến nay

Chia sẻ: Lavie Lavie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:166

119
lượt xem
24
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mời các bạn tham khảo luận văn Thạc sĩ Văn học: Vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong lý luận Văn học ở Việt Nam từ 1975 đến nay để nắm bắt được những nội dung về tình hình nghiên cứu chung về vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong lý luận văn học ở Việt Nam từ 1975 đến nay; vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong các giáo trình Lý luận văn học Việt Nam từ 1975 đến nay và một số nội dung khác.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Văn học: Vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong lý luận Văn học ở Việt Nam từ 1975 đến nay

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH VẤN ĐỀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TRONG LÝ LUẬN VĂN HỌC Ở VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
  2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH VẤN ĐỀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TRONG LÝ LUẬN VĂN HỌC Ở VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY Chuyên ngành: Lý luận văn học Mã số: 60 22 32 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. HUỲNH NHƯ PHƯƠNG Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
  3. 1 MỤC LỤC trang MỤC LỤC…………………………………………………………..…...................1 MỞ ĐẦU……………………………………………………………………............3 Chương 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHUNG VỀ VẤN ĐỀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TRONG LÝ LUẬN VĂN HỌC Ở VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY................................................................. 10 1.1. Cơ sở xã hội và tư tưởng: .............................................................................. 10 1.1.1. Cơ sở xã hội: ...................................................................................................10 1.1.2. Cơ sở tư tưởng: ...............................................................................................15 1.2. Tình hình nghiên cứu: ................................................................................... 22 1.2.1. Những năm 1975 – 1985: ..............................................................................26 1.2.2. Những năm 1986- 2000: ................................................................................32 1.2.3. Những năm đầu thế kỷ XXI: .........................................................................41 Chương 2 VẤN ĐỀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TRONG CÁC GIÁO TRÌNH LÝ LUẬN VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY . 53 2.1. Lược thuật nội dung các giáo trình bàn về chủ nghĩa hiện thực: .................. 54 2.1.1. Chủ nghĩa hiện thực theo nghiên cứu của Lê Đình Kỵ: ............................54 2.1.3. Chủ nghĩa hiện thực theo nghiên cứu của Đỗ Văn Khang: .......................74 2.2. Đánh giá việc biên soạn giáo trình lý luận văn học về vấn đề chủ nghĩa hiện thực:....................................................................................................... 78 Chương 3 VẤN ĐỀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TRONG CÁC TIỂU LUẬN, CHUYÊN KHẢO VỀ LÝ LUẬN VĂN HỌC Ở VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY................................................................ 95 3.1. Khái niệm: ..................................................................................................... 96 3.2. Thời điểm xuất hiện của chủ nghĩa hiện thực: ............................................ 100 3.2.1. Chủ nghĩa hiện thực trong văn học cổ phương Đông: .............................101 3.2.2. Sự xuất hiện của chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam: ..................................104
  4. 2 3.3. Văn học phản ánh hiện thực: ....................................................................... 108 3.3.1. Khái niệm hiện thực: ....................................................................................108 3.3.2. Vấn đề văn học phản ánh hiện thực: ..........................................................115 3.4. Vị trí và quan hệ của chủ nghĩa hiện thực:.................................................. 131 3.4.1. Vị trí của chủ nghĩa hiện thực: ....................................................................131 3.4.2. Mối quan hệ của chủ nghĩa hiện thực với các trào lưu, phương pháp sáng tác khác: .................................................................................................136 3.5. Xu hướng vận động và phát triển của chủ nghĩa hiện thực:........................ 142 KẾT LUẬN ………………………………………………………………….….153 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 157
  5. 3 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Sáng tác văn học có hai kiểu chính là hiện thực và lãng mạn. Bêlinxki từng đề nghị hai kiểu sáng tác này là kiểu sáng tác tái hiện và kiểu sáng tác tái tạo. Kiểu sáng tác tái tạo thiên về bộc lộ những yếu tố chủ quan hơn là phản ánh thế giới khách quan, bày tỏ lý tưởng hơn là mô tả thực tại. Kiểu sáng tác tái hiện lại quan tâm trước hết đến mảnh đất thực tại và luôn tôn trọng sự thực khách quan, mô tả cuộc sống như nó vốn có hơn là cần có. Cả hai kiểu sáng tác ấy đều có vẻ đẹp riêng và không ít khi cùng hiện diện trong từng tác phẩm cụ thể. Tuy nhiên, khi đến với văn chương, con người mong muốn làm giàu cho mình bằng một thế giới của những ước mơ, mộng tưởng, nhưng vẫn không thôi tìm kiếm ở đó bóng dáng của thế giới hiện tồn. Hơn nữa, những ước mơ, hoài bão dù bay cao, bay xa đến đâu, vẫn thoát thai từ mảnh đất hiện thực; những niềm vui, nỗi buồn của thế giới tâm hồn dù phức tạp đến đâu cũng bắt nguồn và được giải thích bằng hiện thực. Chính vì vậy, chất lượng phản ánh cuộc sống, giá trị hiện thực của tác phẩm vẫn luôn là những vấn đề được đặc biệt quan tâm. Người ta có thể tìm thấy điều này nhiều nhất ở chủ nghĩa hiện thực, một trào lưu, một phương pháp sáng tác ra đời vào nửa đầu thế kỷ XIX, được xem là phát huy cao độ nhất kiểu sáng tác tái hiện. Nếu xem kiểu sáng tác tái hiện là một dòng sông, giá trị hiện thực là chất phù sa của dòng sông ấy, thì chủ nghĩa hiện thực chính là khúc sông chảy xiết và chuyên chở nhiều phù sa nhất. Trong tiến trình văn học, chủ nghĩa hiện thực là một trào lưu, một phương pháp sáng tác quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy nghệ thuật của con người. Phát huy những điểm mạnh, đồng thời khắc phục những hạn chế của các trào lưu, phương pháp xuất hiện trước đó, chủ nghĩa hiện thực đã kết tinh được truyền thống văn học và tinh thần thời đại. Trong giai đoạn cực thịnh của mình, chủ nghĩa hiện thực đã đóng góp cho kho tàng văn học thế giới biết bao tác phẩm, với
  6. 4 không ít những kiệt tác, thể hiện chân thực và sâu sắc thế giới khách quan cũng như tâm hồn con người. Cuối thế kỷ XIX, mặc dù có chiều hướng suy thoái thành chủ nghĩa tự nhiên và bị lấn át bởi một số trào lưu văn học hiện đại khác, chủ nghĩa hiện thực vẫn khẳng định được sức sống của mình. Sang thế kỷ XX, nhiều biến thể của chủ nghĩa hiện thực như chủ nghĩa hiện thực mới, chủ nghĩa hiện thực kỳ ảo, chủ nghĩa hiện thực cấu trúc, chủ nghĩa hiện thực tâm lý,… đã ra đời, cho thấy đây là một hiện tượng không ngừng vận động và phát triển. Vì những lẽ đó, chủ nghĩa hiện thực luôn chiếm một vị trí đáng kể trong lý luận văn học. Các nền lý luận văn học lớn trên thế giới đều dành sự quan tâm đặc biệt cho chủ nghĩa hiện thực. Tính đến nay, chủ nghĩa hiện thực đã ra đời gần 2 thế kỷ, nhưng vấn đề này vẫn gợi cảm hứng cho các nhà lý luận trong những công trình nghiên cứu cũng như trong các cuộc trao đổi, tranh luận. Tình hình nghiên cứu sôi động trên thế giới thời gian qua không cho phép các nhà nghiên cứu Việt Nam xem đây như một cái gì đã hoàn tất, mà phải liên tục nhận thức lại vấn đề để có được một cái nhìn sâu sắc, toàn diện và tiến bộ về chủ nghĩa hiện thực. Từ năm 1975 đến nay, xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi quan trọng. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu lý luận nói chung và chủ nghĩa hiện thực nói riêng cũng có những dấu hiệu mới. Nghiên cứu “Vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong lý luận văn học ở Việt Nam từ 1975 đến nay” là một cơ hội để chúng ta nhận diện, đánh giá vấn đề lý luận không mới này trong điều kiện, hoàn cảnh xã hội mới. 2. Lịch sử vấn đề: Từ khi xuất hiện trong lý luận văn học Việt Nam đến nay, chủ nghĩa hiện thực luôn là một vấn đề nhận được sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu. Được giới thiệu trong nhiều công trình dịch thuật, có mặt trong những bộ giáo trình sử dụng chung cho cả nước, xuất hiện trên nhiều tạp chí, tờ báo quan trọng, trong các tập tiểu luận phê bình được đánh giá cao, là tâm điểm của nhiều cuộc tranh luận văn học, chủ nghĩa hiện thực đã và đang là một trong những vấn đề quan yếu của lý luận văn học Việt Nam. Tuy nhiên, bức tranh toàn cảnh về tình hình nghiên cứu chủ nghĩa hiện thực trong lý luận văn học ở Việt Nam lại chưa được một công trình nào
  7. 5 quan tâm một cách toàn diện. Đáng kể nhất có thể kể đến là hai bài viết Một chặng đường phát triển của việc biên soạn giáo trình lý luận văn học của Nguyễn Phúc (trích trong Việt Nam nửa thế kỷ văn học (1945 – 1995) do Hữu Thỉnh chủ biên (nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 1997) và Về việc biên soạn giáo trình lý luận bậc đại học ở ta năm mươi năm qua của Nguyễn Ngọc Thiện (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 5/2006). Hai bài viết này đã cung cấp cho chúng ta một cái nhìn chung về công việc biên soạn giáo trình lý luận văn học Việt Nam 50 năm qua, trong đó có chủ nghĩa hiện thực. Song, lý luận về chủ nghĩa hiện thực trong các chuyên khảo, tiểu luận từ trước đến nay lại chưa được tổng kết, đánh giá. Trong tình hình nghiên cứu chung đó, đáng mừng là việc khái quát tình hình nghiên cứu lý luận văn học từ 1975 đến nay có được quan tâm hơn. Trong cuốn Văn học Việt Nam sau 1975, Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy (nxb. Giáo dục, 2006) do Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn đồng chủ biên, phần Những vấn đề chung, các tác giả đã tập hợp các bài viết của những nhà nghiên cứu tên tuổi Việt Nam như Phương Lựu, La Khắc Hòa, Nguyễn Nghĩa Trọng, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Ngọc Thiện, Nguyễn Văn Long,…Với những bài viết như Những vấn đề cơ bản đang đặt ra trong các cuộc tranh luận của giới văn học hiện nay, Ba mươi năm lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học – thành tựu và suy ngẫm, Những trăn trở tiến bước của lý luận văn học giai đoạn 1975 – 1985, Văn học Việt Nam trước và sau 1975 – nhìn từ yêu cầu phản ánh hiện thực, Sự phát triển của lý luận – phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và từ sau 1975 đến nay,… các nhà nghiên cứu đã cung cấp cho chúng ta những tư liệu về tình hình xã hội sau năm 1975 cũng như vai trò, diện mạo của lý luận văn học trong giai đoạn đó. Trong các ý kiến ấy, chúng ta có thể nhận ra những ý kiến về vấn đề mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cũng như vị trí của chủ nghĩa hiện thực. Sau thời kỳ đổi mới, tính từ Đại hội Đảng lần thứ VI tháng 12 năm 1986, việc đánh giá tình hình nghiên cứu lý luận nói chung và chủ nghĩa hiện thực nói riêng được quan tâm nhiều hơn. Với cuốn Trao đổi ý kiến - Mấy vấn đề lý luận văn nghệ trong sự nghiệp đổi mới (Nxb. Sự thật, 1991), Hà Minh Đức đã tập hợp các
  8. 6 bài viết về văn nghệ trong quá trình đổi mới. Những bài viết như Đổi mới và quy luật của Phan Cự Đệ, Văn học trên con đường đổi mới của Nguyễn Văn Hạnh, Đôi nét về một tư duy văn học đang hình thành của Nguyên Ngọc, Góp một cách nhìn tình hình văn nghệ hiện nay của Ngô Thảo, Đôi điều về sách văn học hôm nay của Vũ Tú Nam,…đã bước đầu đánh giá về những ưu, nhược của văn nghệ ta trên con đường đổi mới. Tương tự như vậy, những bài viết như Lý luận trước yêu cầu đổi mới và phát triển của Phan Trọng Thưởng (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 12/2004), Mấy ghi nhận về thành tựu của lý luận văn học trong thời kỳ đổi mới của Nguyễn Duy Bắc (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 1/2005) cũng không ngoài nội dung đó. Có điều, những bài viết này chủ yếu nhận định về tình hình nghiên cứu chung hơn là tình hình nghiên cứu vấn đề chủ nghĩa hiện thực. Chỉ với những bài viết như Suy nghĩ và kiến nghị xung quanh vấn đề đổi mới lý luận văn học của Phạm Vĩnh Cư (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 12/2004), Suy nghĩ về một vài hướng tìm tòi đổi mới trong văn học của Hà Minh Đức, (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 4/2006), những suy nghĩ về tình hình nghiên cứu chủ nghĩa hiện thực mới được đề cập. Đặc biệt, trong công trình Về một số vấn đề lý luận văn nghệ cơ bản đang được tranh luận qua công cuộc đổi mới (1987 – 1992), vấn đề được trình bày tập trung hơn. Đây là một đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ do Lê Bá Hán làm chủ nhiệm, hoàn thành năm 1993. Công trình này đã dành chương 1 để bàn về vấn đề văn học phản ánh hiện thực. Các tác giả Trần Đình Sử và Lê Hồng Vân sau khi lược thuật các ý kiến khác nhau, đã đưa ra nhận định của mình về vấn đề này. Tuy nhiên, công trình này cũng chỉ tập trung vào tình hình nghiên cứu vấn đề văn học phản ánh hiện thực chứ không phải toàn bộ tình hình nghiên cứu về chủ nghĩa hiện thực. Như vậy, có thể nói, nghiên cứu vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong lý luận văn học ở Việt Nam từ 1975 đến nay là một công việc chưa được đầu tư thực hiện một cách hệ thống, toàn diện. Bức tranh toàn cảnh về vấn đề này đang chờ đợi được phác vẽ nên. Bức tranh ấy sẽ giúp chúng ta thấy được mình đang ở đâu để có hướng đi đúng đắn trong hành trình phía trước.
  9. 7 3. Mục đích nghiên cứu: Là một vấn đề có thâm niên trong lý luận văn học thế giới, nhưng chủ nghĩa hiện thực mới có mặt trong lý luận văn học Việt Nam khoảng 50 năm trở lại đây. Trong thời gian này, cái nhìn về chủ nghĩa hiện thực không hề đứng yên, mà luôn có sự vận động, thay đổi, đặc biệt là từ năm 1975 đến nay. Nghiên cứu “Vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong lý luận văn học ở Việt Nam từ 1975 đến nay”, người viết luận văn này muốn tìm hiểu xem giới nghiên cứu Việt Nam đã tiếp nhận và nghiên cứu như thế nào về chủ nghĩa hiện thực, trước là để nắm bắt vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong giai đoạn mới, sau là để đánh giá những đóng góp cũng như những hạn chế của giới nghiên cứu Việt Nam trong thời gian qua trong việc nghiên cứu một vấn đề lý luận nói riêng và xây dựng, phát triển lý luận văn học nói chung. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: Thực hiện đề tài này, người viết chỉ quan tâm đến vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong lý luận văn học thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Các trào lưu, trường phái, phương pháp sáng tác khác nếu được nhắc đến chỉ đóng vai trò là một yếu tố tương tác, soi chiếu để làm rõ thêm vấn đề. Người viết cũng không đi sâu nghiên cứu chủ nghĩa hiện thực thể hiện ở những tác giả và tác phẩm cụ thể mà chủ yếu khai thác những quan niệm, những bàn luận về chủ nghĩa hiện thực. Để thực hiện công việc đó, người viết sẽ tiến hành các thao tác nghiên cứu trên cơ sở dữ liệu là các bộ giáo trình, các tập tiểu luận, phê bình, chuyên khảo của các tác giả Việt Nam có liên quan đến vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong giai đoạn từ 1975 đến nay. Bên cạnh đó, người viết cũng sử dụng những công trình dịch thuật từ lý luận văn học nước ngoài được giới thiệu ở Việt Nam từ 1975 đến nay, với tư cách là kết quả của việc tiếp nhận và giới thiệu chủ nghĩa hiện thực của các nhà nghiên cứu Việt Nam. 5. Phương pháp nghiên cứu: Thực hiện luận văn này, chúng tôi đã sử dụng kết hợp các phương pháp sau: Phương pháp lịch sử: tìm hiểu bối cảnh xã hội Việt Nam sau năm 1975 để thấy được sự tác động của hoàn cảnh lịch sử đối với các nhà nghiên cứu, trên cơ sở đó, tìm hiểu tình hình nghiên cứu vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong lý luận văn học ở
  10. 8 Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử từ 1975 đến nay, nhằm làm rõ sự vận động và phát triển của chủ nghĩa hiện thực. Phương pháp hệ thống: hệ thống hóa các quan điểm, ý kiến khác nhau về chủ nghĩa hiện thực thành những hướng nghiên cứu, những vấn đề nhất định để tiện theo dõi và đánh giá. Phương pháp so sánh: so sánh chủ nghĩa hiện thực với chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tự nhiên,…, để có cái nhìn khách quan và đúng đắn về chủ nghĩa hiện thực; so sánh các giáo trình lý luận văn học về chủ nghĩa hiện thực với nhau để tìm điểm giống và khác nhau của các nhà lý luận khi nghiên cứu vấn đề này. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu “Vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong lý luận văn học ở Việt Nam từ 1975 đến nay” giúp chúng ta có cái nhìn lịch sử đối với một vấn đề lý luận văn học, nhìn thấy sự vận động của một lý thuyết đã được viết nên cách đây gần hai thế kỷ. Sự vận động ấy xuất phát từ thực tế nghiên cứu và đặc biệt là thực tế sáng tác văn học. Vì vậy, công việc này cũng thể hiện được mối quan hệ gắn bó giữa lý luận với thực tiễn, nhìn thấy tính thực tiễn và tiến bộ của lý luận. Hơn nữa, thực hiện đề tài này chính là đã quán triệt tinh thần của nguyên lý tính hệ thống. Lý luận văn học Việt Nam từ 1975 đến nay là một bộ phận của lý luận văn học Việt Nam, lý luận văn học ở Việt Nam là một bộ phận của lý luận văn học thế giới. Tìm hiểu cái bộ phận chính là góp phần tìm hiểu cái toàn thể. Hiểu biết chủ nghĩa hiện thực trong lý luận văn học ở Việt Nam từ 1975 đến nay cũng là con đường dẫn đến hiểu biết chủ nghĩa hiện thực trong lý luận văn học thế giới. Ý nghĩa thực tiễn: Nền lý luận văn học Việt Nam còn khá non trẻ so với lý luận văn học thế giới. Thời gian từ 1975 đến nay đã cho thấy sự nỗ lực vươn lên của lý luận văn học Việt Nam để bắt kịp với sự tiến bộ chung. Kịp thời ghi nhận những thành tựu cũng như những hạn chế của sự nỗ lực đó sẽ giúp cho lý luận văn học Việt Nam rút ngắn khoảng cách với các nền lý luận văn học tiên tiến. Trong lý luận văn học Việt Nam, chủ nghĩa hiện thực là một vấn đề có tính chất quan trọng hàng đầu. Những ý kiến, đánh giá mới đây về chủ nghĩa hiện thực cần được xem xét kỹ lưỡng
  11. 9 để nắm bắt được quan niệm của giới nghiên cứu trong giai đoạn mới về vấn đề này. Thực tiễn sáng tác hiện nay ngày càng phong phú và phức tạp, kết quả đánh giá quá trình đổi mới lý luận thời gian qua của luận văn sẽ giúp cho việc tiếp nhận tác phẩm văn học dễ dàng và hiệu quả hơn. 7. Cấu trúc của luận văn: Luận văn gồm 3 phần: Phần mở đầu Các chương: Chương 1: Tình hình nghiên cứu chung về vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong lý luận văn học ở Việt Nam từ 1975 đến nay Chương 2: Vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong các giáo trình lý luận văn học Việt Nam từ 1975 đến nay Chương 3: Vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong các tiểu luận, chuyên khảo về lý luận văn học ở Việt Nam từ 1975 đến nay Phần kết luận
  12. 10 Chương 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHUNG VỀ VẤN ĐỀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TRONG LÝ LUẬN VĂN HỌC Ở VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY 1.1. Cơ sở xã hội và tư tưởng: 1.1.1. Cơ sở xã hội: Từ xưa đến nay, như đã thành một quy luật, hễ lịch sử có sự thay đổi thì trong văn học nhất định cũng có những đổi thay. Chứng kiến sức ảnh hưởng lớn lao của cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại đối với văn học dân tộc chưa lâu, nay, chúng ta lại chứng kiến thêm một lần nữa sự rúng động ấy trong văn học sau Đại thắng mùa xuân năm 1975. Hãy bắt đầu sự thay đổi ấy từ chính thời cuộc. Trong cuốn “Một số vấn đề đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy ngữ văn ở trường THPT”, tình hình xã hội ấy đã được nhận định như sau: “Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ thắng lợi, đất nước mở sang trang sử mới. Từ sau năm 1975, đất nước từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, cuộc sống hiện ra với tất cả mặt phức tạp vốn có của nó. Đây là thời kỳ giao thoa giữa cái mới và cái cũ. Cái cũ vẫn còn tồn tại, cái mới cũng chỉ vừa manh nha. Cả hai yếu tố thuận và nghịch của đời sống kinh tế - xã hội đều tác động đến văn học. Những khó khăn và khủng hoảng kinh tế - xã hội cuối những năm 70 đầu những năm 80, tính chất phức tạp và sự chi phối của kinh tế thị trường đẩy tới sự phân cực giữa trắng đen, thiện ác, tốt xấu” [100, tr.5]. Có thể nói, đó mới chỉ là một nhận định khái quát về tình hình xã hội sau khi hòa bình lặp lại. Thực tế phức tạp hơn nhiều. Vừa ngất ngây trong men chiến thắng bước ra, nhân dân ta đã phải đối mặt ngay với bao khó khăn thử thách trước mắt. Đất nước bị chiến tranh tàn phá
  13. 11 nặng nề, những tàn dư của chế độ cũ chưa thể xóa sạch trong một ngày một buổi, nhiều thế lực phản động không ngừng chống phá, chỗ dựa vững chãi cho đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội đã không còn sau sự sụp đổ của Liên Xô, nền kinh tế bị kiệt quệ và đứng trước nguy cơ khủng hoảng trầm trọng, nhiều chủ trương, chính sách sai lầm làm giảm lòng tin đối với Đảng và Nhà nước,… Là chủ thể của một môi trường phức tạp như vậy, con người chắc hẳn sẽ có sự phân hóa, đặc biệt là sự phân hóa từ bên trong mỗi cá nhân. Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã nhận định khái quát về lịch sử của tâm hồn con người trong giai đoạn này như sau: “Thời kỳ này diễn ra một cuộc đối chứng giữa nhân cách và phi nhân cách, giữa hoàn thiện và chưa hoàn thiện, giữa ánh sáng và những khoảng bóng tối còn rơi rớt bên trong tâm hồn của mỗi con người”. Tuy nhiên, cuộc sống xã hội bên ngoài và cuộc sống âm thầm bên trong mỗi con người càng phức tạp bao nhiêu thì lại càng có lợi cho văn học bấy nhiêu, bởi việc mở rộng đề tài bao giờ cũng đem lại sự phong phú, đa dạng về phong cách. Say sưa với mảnh đất màu mỡ, trong Gặp gỡ cuối năm, nhà văn Nguyễn Khải đã thổ lộ: “Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy dẫy những biến động, những bất ngờ, mới thật là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ”. Một khi những người cầm bút đã bắt được mạch nguồn cảm hứng thì văn học nhất định hứa hẹn một vụ mùa bội thu. Nhờ đó, nền văn học của nước nhà có thêm một sức sống mới. Là người đi trước dẫn đường, đồng thời lại là người đi sau để đúc rút kinh nghiệm, lý luận văn học do đó cũng sẽ có sự vận mình. Giành được độc lập, nhân dân ta bắt tay ngay vào củng cố nền hòa bình vững chắc và kiến thiết đất nước. Bên cạnh việc phát huy nội lực, tranh thủ sức mạnh bên ngoài là một chủ trương mang tính chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Do vậy, các mối quan hệ với thế giới bên ngoài ngày càng được mở rộng. Việc đẩy mạnh hội nhập với thế giới ở nhiều lĩnh vực đã tạo điều kiện cho sự đổi mới văn học. Trong Góp một cách nhìn tình hình văn nghệ hiện nay, Ngô Thảo viết: “Đất nước giải phóng đã cho chúng ta thời cơ được giao lưu, tiếp
  14. 12 xúc một cách rộng rãi với văn hóa văn nghệ thế giới. [29, tr.135]. Trong xu thế hội nhập, giao lưu văn hóa nói chung, văn học nói riêng, lý luận văn học cũng có cơ hội đổi mới. Trong Tác động của lý luận văn học nước ngoài đối với lý luận văn học Việt Nam, Lộc Phương Thủy đã nhận định: “Cùng những thay đổi có tính chất cách mạng ở Việt Nam vào thời kỳ Đổi mới và tiếp theo là sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu, một lần nữa đời sống học thuật nước nhà bước vào một giai đoạn mới: cởi mở hơn, tầm nhìn được mở rộng hơn. Trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, ngoài các bài giới thiệu hoặc dịch trên các báo và tạp chí chuyên ngành như Văn nghệ, Nhà văn, Tạp chí Văn học, Tạp chí Thông tin KHXH (Viện thông tin KHXH), đặc biệt trên Văn học nước ngoài, bạn đọc còn có dịp tiếp xúc với nhiều kênh thông tin khác nhau về các trường phái, trào lưu lý luận văn học nước ngoài” [85, tr.13]. Sách lý luận văn học nhờ đó cũng tăng về số lượng: “Chỉ trong vài năm đầu thế kỷ XXI, số sách nghiên cứu các thành tựu lý luận văn học nước ngoài tăng mạnh” [85, tr.14]. Không phải đợi lâu, hiệu quả của việc đẩy mạnh giao lưu, trao đổi học thuật đã được thể hiện khá rõ. Theo Lộc Phương Thủy, “trong chục năm cuối thế kỷ XX và vài năm đầu thế kỷ XXI, đã có một sự chuyển mình đáng khích lệ trong lý luận văn học ở Việt Nam mà một trong những nguyên nhân có đóng góp tích cực là việc giới thiệu các thành quả lý luận văn học nước ngoài” [85, tr.15]. Từ chỗ đói thông tin, nay độc giả Việt Nam lại được tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau thì việc xử lý thông tin chắc chắn sẽ có phần bối rối. Trong bài “Tác động của lý luận văn học nước ngoài đối với lý luận văn học Việt Nam”, Lộc Phương Thủy đã đánh giá: “Trong thực tế, xác định “tinh hoa” cụ thể là gì thật không phải dễ. Trước đây, trong mấy thập kỷ lý luận văn học của Việt Nam chịu sự tác động duy nhất và trực tiếp của Liên Xô thì “tinh hoa” là gì đương nhiên là quá rõ ràng. Nhưng tình hình hiện nay, hiểu những gì được gọi là “tinh hoa” thật khó khăn. Bởi, hiện nay, việc giới thiệu tư tưởng học thuật nước ngoài tuy đã có khởi sắc, đã có những gợi ý phần nào cho lý luận phê bình nước nhà, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu” [85, tr.17]. Như vậy, hiệu
  15. 13 quả cũng mới chỉ là bước đầu. Việc giao lưu có thực sự đạt hiệu quả như mong đợi hay không còn tùy thuộc vào bản lĩnh của các nhà lý luận Việt Nam. Phải làm sao giới thiệu cho công chúng những nguồn thông tin phong phú, đồng thời, phải định hướng tốt cho người đọc, giúp họ biết gạn đục khơi trong giữa biển kiến thức mà cái đúng và cái sai, cái nhất thời và cái muôn đời, cái tinh hoa và giấy loại luôn cùng tồn tại. Nếu như quá trình giao lưu, hội nhập với thế giới đem lại nhiều cơ hội và thách thức cho văn học nói chung và lý luận văn học nói riêng thì sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng là một tiền đề tốt, đồng thời cũng là một thách thức đối với quá trình sáng tạo, nghiên cứu và phổ biến văn học. Thật vậy, nhờ vào công nghệ in ấn tiên tiến, việc xuất bản sách trở nên nhanh chóng hơn, nhờ các phương tiện truyền thông và giao thông hiện đại, văn học đến với người đọc mau lẹ hơn. Trong bài Văn học trở thành hàng hóa và văn học trong cơ chế thị trường, Phong Lê đã nhận định: “tác động của khoa học kỹ thuật ở đây là đã giúp cho sự phổ cập rộng hơn và giao lưu nhanh hơn của văn học. Trên khía cạnh này mà xét thì văn học không bị chèn lấn mà còn có thêm phương tiện để chuyên chở và phát huy tác dụng” [50, tr.464]. Thế nhưng, không chỉ là một phương tiện hỗ trợ cho văn học, khoa học kỹ thuật còn là một thử thách của văn học. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã tạo thêm nhiều hình thức giải trí, nhiều cách thức khai thác thông tin cho con người, thu hút sự quan tâm của công chúng. Văn học một mặt vẫn tiếp tục phát triển dựa trên sự phát triển của khoa học kỹ thuật, mặt khác, vẫn không ngừng chạy đua để không đánh mất vị trí đặc biệt của mình. Trước tình hình đó, lý luận văn học cũng phải luôn đổi mới để theo kịp sự phát triển của xã hội nói chung và văn học nói riêng. Đặc biệt, trong xu thế đa ngành hóa hiện nay, người làm công tác lý luận cần phải hiểu biết một số lĩnh vực khoa học khác như lý thuyết thông tin, ký hiệu học,… và vận dụng phối hợp để khai thác tối đa các giá trị của văn học. Một vấn đề nữa đặt ra là nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang tiến hành đã biến sách thành một hàng hóa, gây tác động không nhỏ đến việc viết và
  16. 14 xuất bản sách. Nhận định về tình hình này, Phong Lê nói: “Chuyển mọi nhu cầu vật chất và tinh thần của con người ra thị trường, đưa công chúng lên vị trí số một trong chọn lựa, văn học phải chịu sự thử thách ghê gớm, và cái phản ứng, cái động thái đầu tiên cho sự tồn tại là phải “chiếm” thị trường, hoặc chiều theo thị trường” [50, tr.450]. Tình hình ấy không chỉ diễn ra với người sáng tác mà còn tác động rõ rệt đến các nhà lý luận. Thời gian qua, chúng ta nhận thấy sách lý luận văn học liên tục được ra đời, song, số lượng sách mới không nhiều, chủ yếu là những tập hợp các bài viết đã qua hoặc những cuốn sách đã được công bố nay có thay đổi, bổ sung thêm. Tất nhiên, việc xuất bản một cuốn sách còn có nhiều lý do và mục đích khác, nhưng lợi nhuận là một lý do không dễ bỏ qua, cho nên nhiều lúc, số lượng đã trở thành mục tiêu thay vì chất lượng. Điều này khiến cho thị trường sách sôi động hơn tình hình nghiên cứu thực tế. Do tác động của cơ chế thị trường, những bài viết ngắn thể hiện những cảm nghĩ, những nhận xét ban đầu vẫn nhiều hơn những tiểu luận, những công trình nghiên cứu dài hơi có uy tín, những bài dịch thuật mang tính giới thiệu vẫn nhiều hơn những công trình dịch thuật có nghiên cứu sâu và đánh giá. Tình hình này cũng một phần do sự yếu kém trong khâu quản lý. Trong Góp một cách nhìn tình hình văn nghệ hiện nay, Ngô Thảo cho rằng: “Đất nước giải phóng đã cho chúng ta thời cơ được giao lưu, tiếp xúc một cách rộng rãi với văn hóa văn nghệ thế giới. Đó là mặt tích cực của tình hình. Nhưng do thiếu công tác tổ chức khoa học, các cơ quan xuất bản lại thả nổi trong thương trường” [29, tr.135]. Cho nên, một khi chấp nhận coi sách là một hàng hóa trong nền kinh tế thị trường, các nhà quản lý phải có những chính sách hợp lý để kiểm soát thị trường sách, đồng thời có những chính sách hỗ trợ thích đáng đối với những người viết sách cũng như xây dựng một hệ thống kiểm định khách quan và chặt chẽ đối với loại hàng hóa nhạy cảm này. Tóm lại, xã hội Việt Nam sau 1975 là một xã hội của nhiều vận hội và thử thách. Văn học nói chung và lý luận văn học nói riêng giờ đây cũng chịu sự chi phối của quy luật mới – quy luật đời thường với những thuận lợi và khó
  17. 15 khăn riêng, song phần thuận lợi vẫn là đáng kể hơn. Đất nước độc lập, nhân dân được tự do, đội ngũ các nhà lý luận có điều kiện chuyên tâm vào công việc nghiên cứu của mình. Môi trường giao lưu văn hóa cởi mở là cơ hội lý tưởng để các nhà lý luận Việt Nam được tiếp xúc với hệ thống các quan điểm hiện đại trên thế giới, đưa nền lý luận Việt Nam bắt nhịp với sự phát triển chung của nền lý luận hiện đại thế giới. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật sẽ là nhịp cầu đưa các nhà lý luận của Việt Nam và thế giới đến gần nhau hơn, đến gần độc giả hơn, đồng thời cũng cung cấp cho họ những phương tiện mới để khám phá giá trị cũng như nắm bắt các quy luật của văn chương tốt hơn. Nền kinh tế thị trường sẽ là một cuộc cạnh tranh tự do, bình đẳng. Đó sẽ là sàn đấu mà chỉ những ai có đủ bản lĩnh mới trụ lại được. Với những thuận lợi ấy, chúng ta đã có đủ lạc quan để vượt qua những khó khăn và thử thách. Đây chính là vận hội mới cho sự đổi mới đi lên của lý luận văn học Việt Nam, một nền lý luận tính tới thời điểm này đã lạc hậu so với thế giới. Hòa chung không khí đổi mới đó, việc nghiên cứu chủ nghĩa hiện thực, một vấn đề vẫn còn nhiều tranh cãi trong lý luận văn học, tất sẽ có nhiều điều đáng quan tâm. 1.1.2. Cơ sở tư tưởng: Nhìn lại cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khó tưởng tượng được rằng cuộc kháng chiến ấy sẽ ra sao nếu không có văn học chống Mỹ, cuộc chiến ấy kết thúc khi nào nếu trên mặt trận văn hóa tư tưởng vắng mặt những nhà văn yêu nước. Có thể nói, văn học chống Mỹ đã thực sự trở thành một liều thuốc tinh thần hiệu nghiệm mang lại sức mạnh thần kỳ cho nhân dân ta, giúp chúng ta có thêm sức mạnh và niềm tin để chiến đấu và chiến thắng. Song, có thể nhận thấy bước vào cuộc sống mới, con người nảy sinh những nhu cầu mới. Đến với văn chương, họ vẫn muốn nhìn lại những trang sử hào hùng của dân tộc, song lại thiết tha hơn tìm hiểu những trang đời đã qua và trang đời đang mở. Họ muốn ca ngợi những chiến công nhưng lại cũng muốn xoa dịu những vết thương còn rỉ máu. Họ muốn tôn vinh những anh hùng nhưng nóng lòng hơn là phê phán
  18. 16 những sự phản bội, thoái hóa, biến chất hay những nhu nhược, hèn nhát của con người. Họ muốn hòa vào niềm vui chung, đóng góp cho cộng đồng, nhưng hơn lúc nào hết họ muốn nhìn lại góc riêng của mình để để lắng nghe một tiếng lòng. Những thay đổi ấy là hoàn toàn tự nhiên bởi nó sẽ đưa con người trở về với bản chất vốn có của mình, bản chất của những con người đời thường. Sự thay đổi ấy tất sẽ đòi hỏi một sự đổi mới tư duy trong văn học. Trên thực tế, tư duy văn học cũ ngày càng tỏ ra không phù hợp với thời kỳ mới, lối viết cũ đã không còn đáp ứng được nhu cầu phản ánh hiện thực đa dạng, đa chiều của cuộc sống sau chiến tranh, nếu không muốn nói là trong nhiều trường hợp, đã trói buộc người cầm bút và tạo nên những tác phẩm kém giá trị. Yêu cầu đổi mới văn học ngày càng trở nên bức thiết, từ quan niệm nghệ thuật, quan niệm về hiện thực, quan niệm về con người, đến các thủ pháp nghệ thuật. Yêu cầu này chỉ được thỏa mãn khi Đảng ta chủ trương công cuộc đổi mới toàn diện. Nếu như đổi mới chính trị và đổi mới kinh tế là quyết định, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của chế độ, của đất nước thì đổi mới trong văn hóa văn nghệ đã thực sự cởi trói cho người cầm bút, mang lại một sinh khí mới cho nền văn nghệ đang mất dần sức sống. Nghị quyết của Đại hội VI nêu rõ: “Chính sách xã hội nhằm phát huy mọi khả năng của con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất”. Đây chính là sự thể hiện nhận thức mới về chủ nghĩa nhân đạo: con người không phải là phương tiện của các mục đích xã hội mà là nhân tố thúc đẩy mọi hoạt động xã hội và mọi hoạt động xã hội đều phải hướng tới mục tiêu phục vụ con người. Trên cơ sở đó, cách nhìn nhận, thẩm định các giá trị văn học nặng về ý thức hệ dần được điều chỉnh bằng bằng cái nhìn toàn diện và sâu sắc từ trong bản chất của nghệ thuật. Những ràng buộc khắt khe của tính tư tưởng có phần thô sơ, máy móc đối với tác phẩm được gạt bỏ. Cách cư xử, can thiệp thô bạo làm ảnh hưởng tới số phận nhà văn và tác phẩm vì không am hiểu hoặc do cực đoan, bất công,… dần dần được khắc phục. Với sự thay đổi đó, chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước được thể hiện
  19. 17 qua Đại hội VI thực sự là một thắng lợi to lớn. Mức độ thành công của sự đổi mới có thể đo bằng thái độ của giới văn nghệ đối với Đại hội VI: “Đại hội VI của Đảng là một cái mốc, một sự kiện lớn trong đời sống của dân tộc. Và nghị quyết 05 của Bộ chính trị về văn hóa – văn nghệ quả là một sự “cởi trói” đúng theo một nghĩa nào đó, cho dân tộc, trong đó giới văn hóa văn nghệ cảm nhận rõ và thấm thía cái phần được hưởng của mình [29, tr.98]. Trong Một số vấn đề đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy ngữ văn ở trường THPT, thành tựu này cũng được ca ngợi: “Đại hội VI thật sự mang lại không khí dân chủ, với tinh thần “nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, tạo điều kiện cho sự chuyển hướng văn học. Đây là giai đoạn văn học chuyển mình. Một mặt, văn học vẫn bảo tồn những tinh hoa, truyền thống, mặt khác thể hiện sự trăn trở, thể nghiệm để đáp ứng yêu cầu mới sau chiến tranh và để khẳng định mình trong xu thế hội nhập với văn học thế giới” [100, tr.6]. Phấn khởi trước tình hình đó, phong trào sáng tác rộ lên trông thấy, như một sự hưởng ứng nhiệt tình trước một chính sách đúng đắn. Có thể nói, chủ trương đổi mới của Đảng đã thực sự trở thành thành “cú hích” kích thích hoạt động sáng tác, là “cánh tay đưa” cho “chiếc nôi ngừng” văn nghệ, mở ra một thời kỳ xán lạn cho văn nghệ. Tiếp tục tinh thần đó, Đại hội VII đã chỉ rõ: Đảng ta chủ trương xây dựng một “nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc…tạo ra một đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ”. Nghị quyết 05 của Bộ chính trị (1987) tập trung vào việc “Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo đưa văn học nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới”. Đây là nghị quyết duy nhất dành riêng cho văn nghệ từ trước cho tới lúc đó, nó mở ra một cái nhìn mới về vị trí, chức năng, vai trò và ý nghĩa của văn nghệ, trong đó, văn học được xem là “một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng và văn hóa,…bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng của con người về chân, thiện, mỹ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân, xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội”.
  20. 18 Như vậy, những điều kiện bên ngoài đã sẵn sàng cho sự đổi mới, vấn đề còn lại là người cầm bút có thực sự đổi mới từ trong chính bản thân mình hay không, có thanh toán được với những thói quen cũ, lối nghĩ cũ và cách viết cũ hay không. Thực tế, người ta nhận thấy nhu cầu đổi mới trong bản thân giới cầm bút thể hiện cấp bách hơn cả. Là những người quan sát và mô tả cuộc sống, họ có nhiều điều muốn nói hơn là được nói, thậm chí họ nói cả trước khi được cho phép. Chính vì vậy, khi được Đảng tạo điều kiện nói thẳng, nói thật, họ đã “được lời như cởi tấm lòng”, càng hăng hái hơn đi sâu tìm hiểu và thể hiện hiện thực phức tạp và phong phú đang chờ đợi. Tất nhiên, không chỉ bám vào mảnh đất hiện thực, nhiều người đã mở lối đi riêng, tìm đến những vùng đất mới, nơi dành cho những người giàu trí tưởng tượng và óc sáng tạo. Trong Suy nghĩ về một vài hướng tìm tòi đổi mới trong văn học, Hà Minh Đức đã nhận thấy điều này ở nhiều nhà văn: “Hiện thực, các mối liên hệ giữa hiện thực và phương thức biểu hiện vẫn là một vấn đề cần được luận bàn. Một số nhà văn dường như không tìm được sự hấp dẫn của hiện thực quen thuộc vốn đã hiện hình và được nhận diện kỹ càng nên có xu hướng đi tìm cái lạ. Cái lạ trong hiện thực chắc chắn là có sức hấp dẫn rồi vì trong nghệ thuật, nhiều lúc cái quen thuộc, cái cũ tồn tại và kéo dài trong nhiều thập kỉ (…). Cái lạ được chấp nhận cũng là cái mới và không dễ đem lại trong văn chương cái lạ. Ý của Bélinski về nhân vật điển hình lạ mà quen, phải chăng đã gợi mở hướng lạ hóa trong nghệ thuật” [28, tr.24]. Thay đổi cái nhìn về hiện thực, về đối tượng phản ánh, các nhà văn còn thay đổi quan niệm về con người. Nếu như trước đây, con người trong văn học kháng chiến thường “có chung một tâm hồn, có chung một khuôn mặt” thì giờ đây, nó hiện lên với với đầy đủ sự đa diện, với cả “rắn rết và rồng phượng” và phát triển không theo một con đường định sẵn. Nhà văn Nguyễn Khải đã từng trăn trở về những khía cạnh chưa thật hợp lý trong quan niệm nghệ thuật về con người: “Cách đây 20 năm, tôi chợt nhận ra những ảo tưởng của mình trong sự tìm kiếm những mẫu người Việt Nam hoàn toàn mới, có tham vọng đặt nền
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD


intNumView=119

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2