intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy và học tập suốt đời giúp học sinh ôn luyện kiến thức môn Hóa học lớp 10 THPT

Chia sẻ: Cỏ Xanh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:51

18
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu đề tài là đánh giá thực trạng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học Hóa học lớp 10; Xác định nguyên nhân thực trạng và từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng môn học nói chung và giúp HS ôn luyện, củng cố kiến thức nói riêng. Qua đề tài đã giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, tự tìm tòi chiếm lĩnh tri thức một cách chủ động từ đó phát triển phẩm chất và năng lực.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy và học tập suốt đời giúp học sinh ôn luyện kiến thức môn Hóa học lớp 10 THPT

  1. SỞ GD & ĐT NGHỆ AN TRƯỜNG THPT NGHI LỘC 2 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đề tài: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP SUỐT ĐỜI GIÚP HỌC SINH ÔN LUYỆN KIẾN THỨC MÔN HÓA HỌC LỚP 10 THPT LĨNH VỰC: HÓA HỌC Tác giả : Nguyễn Thị Vân Anh Tổ : Khoa học tự nhiên Năm thực hiện : 2020 - 2021 Điện thoại : 0979 162 776
  2. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 1 CNTT Công nghệ thông tin 2 GV Giáo viên 3 HS Học sinh 4 THPT Trung học phổ thông 5 SĐTD Sơ đồ tư duy
  3. MỤC LỤC PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ ....................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài. ................................................................................................ 1 2. Mục đích nghiên cứu. ......................................................................................... 2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu....................................................................... 3 4. Giả thiết khoa học. ............................................................................................. 3 5. Đóng góp mới của đề tài. .................................................................................... 3 PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ................................................................ 4 1. Cơ sở lý luận. ..................................................................................................... 4 1.1. Khái niệm CNTT.............................................................................................. 4 1.2. Vai trò của CNTT trong dạy học Hóa học. ...................................................... 4 2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu. ..................................................................... 5 3. Hệ thống giải pháp. .......................................................................................... 11 3.1. Sử dụng CNTT, ứng dụng phần mềm iMindMap để khái quát nội dung môn Hóa học 10. .......................................................................................................... 11 3.2. Ứng dụng CNTT, phương pháp sử dụng hệ thống trò chơi trong việc củng cố kiến thức sau mỗi bài học môn Hóa học 10. .......................................................... 17 3.3. Sử dụng CNTT trong tra cứu tài liệu giảng dạy và học tập Hóa học 10. ....... 24 3.4. Ứng dụng CNTT để ra bài tập về nhà, đề test kiến thức, tự ôn tập kiến thức trong môn Hóa học 10. ......................................................................................... 29 3.5. Sử dụng Video để ôn tập kiến thức cho HS trong môn Hóa học 10. ............... 37 4. Kết quả ứng dụng CNTT vào dạy học, ôn tập củng cố kiến thức cho HS. ........ 41 4.1. Kết quả đạt được. .......................................................................................... 41 PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................... 45 1. Kết luận: ........................................................................................................... 45 2. Đề xuất, kiến nghị. ........................................................................................... 46 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................... 48
  4. PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lí do chọn đề tài. Đổi mới phương pháp dạy học đang là một vấn đề vô cùng quan trọng trong việc quyết định chất lượng giáo dục của mỗi quốc gia trong xu hướng phát triển giáo dục của thế giới. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học chủ động tự cập nhật và đổi mới tri thức nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn từ đó hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh. Thiết nghĩ để đạt được mục đích đó, giải pháp quan trọng để thực hiện các mục tiêu trên là sự vận hành, tương tác đồng bộ của các thành tố trong các phương pháp dạy học tích cực (người dạy – người học – học liệu – môi trường,…), khắc phục nhược điểm của phương pháp truyền thụ áp đặt một chiều; đồng thời kết hợp hài hoà giữa dạy kiến thức công cụ với kiến thức phương pháp, đặc biệt chú trọng dạy cách học, phương pháp tự học để người học có thể học tập suốt đời. Giáo dục trong thời đại tri thức không chỉ kéo dài 12 hay 16 năm, không chỉ trong tuổi thanh niên của họ, mà trong toàn thể cuộc đời họ, tiếp tục học và thành công trong thế giới luôn vận động không ngừng… Việc đổi mới phương pháp dạy học cần được thực hiện trên cơ sở phân hoá đối tượng, các căn cứ về điều kiện, loại hình năng lực và phẩm chất cần phát triển ở người học để từ đó lựa chọn các hình thức tổ chức dạy học phù hợp, tăng cường các hoạt động trải nghiệm sáng tạo và ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT). Trong giáo dục phổ thông mới, giáo viên có vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động, tạo môi trường học tập thân thiện và tạo những tình huống có vấn đề nhằm khuyến khích người học chủ động, tích cực tham gia các hoạt động học tập, tự khẳng định năng lực và nguyện vọng của bản thân, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và vận dụng hiệu quả những kiến thức, kĩ năng đã tích luỹ được để "phát triển con người toàn diện ở nền công nghiệp 4.0" Hơn nữa, đối với giáo dục và đào tạo, CNTT có tác dụng mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp dạy và học. CNTT là phương tiện để tiến tới “xã hội học tập”. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học. Ứng dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn, trong đó đặc biệt với bộ môn Hóa học, việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy càng phát huy được những hiệu quả đáng kể. Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, thí nghiệm hóa học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình Dạy - Học. Tuy nhiên, trong hóa học có nhiều khái niệm khó và trừu tượng, nhiều phản ứng diễn ra quá nhanh hoặc quá chậm, diễn tiến của các quá trình và hiện tượng rất khó quan sát, một số thí nghiệm lại 1
  5. độc hại, nguy hiểm, thực tế không phải thí nghiệm nào GV, HS cũng có thể tiến hành ở môi trường trung học phổ thông, nhiều thí nghiệm khó quan sát hiện tượng, kết quả không rõ ràng, từ đó ảnh hướng tới công tác dạy và học. Chính vì vậy, ứng dụng CNTT để mô phỏng hoặc sử dụng tư liệu về phim, ảnh, video trong dạy học Hóa học là hình thức hiệu quả để vừa ôn tập kiến thức cho các em, vừa hướng dẫn các em nhận biết được một cách cụ thể các quy trình, bước thực hành Hóa học vv.. Vì vậy rất cần có sự hỗ trợ của CNTT. Thực tế dạy học nói chung và môn Hóa học nói riêng cho thấy đã có nhiều giáo viên (GV) tích cực ứng dụng CNTT trong dạy học nhưng chưa chủ trọng về kỹ năng, nội dung, phương pháp chưa đa dạng. Với HS, bên cạnh một số em tự tìm được cho mình cách học hiệu quả, phần còn lại học tập một cách thụ động, cố gắng ghi nhớ kiến thức máy móc, chưa tự hệ thống được kiến thức, đa số kiến thức của các em chưa chuyên sâu. Từ đó, kết quả học tập cho thấy một thực tế đáng buồn. Đối với môn Hóa học, thực trạng đó đã ảnh hưởng không ít tới khả năng tiếp thu kiến thức, phát triển các kĩ năng cơ bản của môn học và nó đặt ra cho GV một câu hỏi lớn là làm thế nào để dạy học Hóa học tốt hơn, hệ thống kiến thức và tổ chức ôn tập cho HS một cách khoa học, hiệu quả hơn. Trước thực tế đó, việc đổi mới PPDH môn Hóa học nói chung và Hóa học lớp 10 nói riêng để nâng cao hiệu quả ôn tập kiến thức cho các em, tăng cường vận dụng tối đa phương tiện dạy học làm sao tạo được hứng thú, tránh sự nhàm chán, ép buộc, tạo thêm nhiều không gian, thời gian mở cho các em tự tìm tòi kiến thức từ đó hình thành và phát huy được phẩm chất năng lực và nâng cao kết quả học tập. Ứng dụng CNTT vào dạy học nói chung và dạy học Hóa học 10 nói riêng là một trong những phương pháp hữu hiệu góp phần khắc phục những hạn chế nêu trên và qua quá trình thực tế triển khai tại trường THPT Nghi Lộc 2 và một số trường trên địa bàn tôi thấy rất hiệu quả và đã nâng cao được chất lượng trình độ kiến thức hóa học của HS. Qua nhiều năm công tác tôi đã đúc kết được kinh nghiệm và đưa ra được giải pháp nhằm nâng cao dạy học Hóa học 10 tốt hơn, hệ thống kiến thức và tổ chức ôn tập cho HS một cách khoa học, hiệu quả hơn qua đề tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy và học tập suốt đời giúp học sinh ôn luyện kiến thức môn hóa học lớp 10 THPT”. 2. Mục đích nghiên cứu. Với nội dung sáng kiến này, mục đích của tôi hướng tới là trên cơ sở đánh giá thực trạng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học Hóa học lớp 10; Xác định nguyên nhân thực trạng và từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng môn học nói chung và giúp HS ôn luyện, củng cố kiến thức nói riêng. Qua đề tài đã giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, tự tìm tòi chiếm lĩnh tri thức một cách chủ động từ đó phát triển phẩm chất và năng lực. 2
  6. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Sáng kiến tập trung đưa ra những biện pháp ứng dụng CNTT giúp HS ôn luyện kiến thức trong môn hóa học lớp 10. Đề tài được áp dụng cho HS lớp 10A1, 10A5 (lớp thực nghiệm) còn 10A2 và 10A6 (lớp đối chứng) trường THPT Nghi Lộc 2 và một số trường trên địa bàn huyện Nghi Lộc. Thời gian nghiên cứu đề tài từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 1 năm 2021. 4. Giả thiết khoa học. Đối với việc nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa học 10, nhìn chung hầu hết các trường THPT trên cả nước đã có những biện pháp, hình thức nhằm bồi dưỡng, đào tạo năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho GV giảng dạy môn học này. Bước đầu hiệu quả mang lại là những tín hiệu đáng mừng. Song thực tế cho thấy, mặc dù có nhiều nỗ lực của cả ngành giáo dục, các trường THPT nhưng hiệu quả học tập, ôn luyện kiến thức trong môn Hóa học 10 chưa cao. Nguyên nhân là: Môi trường thực hành Hóa học cho HS còn hạn chế; Cơ sở vật chất, kĩ thuật, học liệu phục vụ trong dạy học chưa đáp ứng kịp nhu cầu đổi mới dạy học nói chung và Hóa học 10 nói riêng. Một số GV còn hạn chế về năng lực tin học nên việc ứng dụng CNTT vào dạy học còn nhiều khó khăn. Để góp phần khắc phục những tồn tại của thực tế dạy học nói chung và dạy học môn Hóa học 10 nói riêng, trong năm học qua tôi đã tiến hành tìm hiểu những nguyên nhân, thực trạng và tìm kiếm những biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa học cho HS lớp 10, đặc biệt là ôn tập kiến thức cho các em. 5. Đóng góp mới của đề tài. Đề tài đã nêu ra được một số biện pháp ứng dụng CNTT trong ôn luyện kiến thức hóa học 10 góp phần giải quyết vấn đề đổi mới phương pháp, hình thức, nội dung dạy học theo hướng tích cực hóa người học, lấy HS làm trung tâm như tổ chức nhiều hoạt động trải nghiệm, tạo thêm không gian mở, tích hợp trò chơi vào hoạt động dạy học, hệ thống kiến thức bằng sơ đồ tư duy, tự tra cứu tài liệu học tập, học tập thông qua video kênh youtube, kiểm tra đánh giá kiến thức thông qua phần mềm online … Từ đó làm tăng tính thực tiễn, sinh động, hấp dẫn, tiếp cận cộng nghệ 4.0 giúp HS hình thành phát triển phẩm chất và năng lực. Đề tài đã tạo được sự hứng thú học tập, nhận thức và kiến thức của HS được củng cố, ghi nhớ một cách sâu sắc, hiệu quả. Đặc biệt, kết quả học tập đã chuyển biến rõ rệt, HS tích cực tham gia các hoạt động dạy học, có thái độ, kỹ năng về học tập một cách khoa học hơn, tốt hơn. Đề tài cũng giúp đỡ GV nhìn nhận lại quá trình dạy học, cách lựa chọn phương pháp và việc áp dụng các biện pháp vào trong dạy học. Một trong những kết quả đáng ghi nhận là HS đã bắt đầu nhận thức được vai trò quan trọng của việc ứng dụng CNTT vào học tập môn Hóa học, hoàn thiện các kỹ năng cơ bản mà môn học yêu cầu. HS dần hình thành các thói quen về tinh thần trách nhiệm và có ý thức làm việc tập thể hơn. 3
  7. PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận. Hóa học là môn học quan trọng đối với HS ở mọi cấp học trong chương trình giáo dục phổ thông hiện nay ở nước ta. Dạy và học Hóa học không chỉ cho thấy mục tiêu và chiến lược của ngành giáo dục, mà đó còn là cách thức để HS tiếp cận với các nền văn minh tiến bộ trên thế giới. Nâng cao chất lượng giảng dạy nói chung và môn Hóa học nói riêng là một trong những yêu cầu cấp thiết đối với xu hướng giáo dục ở nước ta hiện nay nhằm thực hiện tốt chủ trương dạy học lấy người học làm trung tâm. Ứng dụng CNTT trong dạy học mang đến những lợi ích thiết thực: Cung cấp cho HS hệ thống các kiến thức logic và dễ nhớ hơn; Giúp GV truyền tải kiến thức dễ dàng, tăng khả năng tiếp thu cho HS; GV rút ngắn được thời gian, giải phóng được nhiều khối lượng công việc thủ công, đồng thời bao quát được quá trình làm việc; Dễ dàng tạo hứng thú, tạo được cảm tình và thu hút được sự chú ý của HS… 1.1. Khái niệm CNTT. Công nghệ thông tin (tiếng Anh: Information technology hay là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin. Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa trong Nghị quyết Chính phủ 49/CP ký ngày 4 tháng 8 năm 1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội". 1.2. Vai trò của CNTT trong dạy học Hóa học. Ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và dạy học Hóa học nói riêng là xu thế và cách thức tất yếu của phương pháp dạy học hiện đại. Ngoài việc khắc phục được những hạn chế của PPDH truyền thống, ứng dụng CNTT trong dạy học Hóa học còn có những vai trò cơ bản sau. 1.2.1. Thay đổi quan điểm về phương pháp dạy học. Nền giáo dục Việt Nam trước nay sử dụng mô hình truyền thụ kiến thức theo cách độc thoại giữa GV với HS. Sử dụng CNTT trong dạy học sẽ thay đổi hoàn toàn các quan điểm về dạy học truyền thống, đồng thời đặt ra cho người GV những yêu cầu đổi mới nhằm đáp ứng đòi hỏi, nhu cầu thực tế của HS, xã hội. 1.2.2. Thay đổi chất lượng dạy và học. Ứng dụng CNTT trong dạy học giúp GV trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Thầy cô có thể tương tác với HS ở mọi nơi có sự hiện diện của CNTT, không cần e ngại khoảng cách, các yếu tố khách quan khác. Bài giảng được soạn thảo đa dạng với nhiều hình ảnh và gói gọn vào các thiết bị, 4
  8. tránh đi sự cồng kềnh khi phải mang giáo án theo, hoặc khó chỉnh sửa các nội dung. Ngoài ra, ứng dụng CNTT trong dạy học còn giúp GV có thể chia sẻ bài giảng với nhiều đồng nghiệp khác, tiếp thu ý kiến đóng góp để nâng cao chất lượng giờ dạy. 1.2.3. Thay đổi hình thức dạy học. Ứng dụng CNTT trong dạy học phát triển đã mở ra triển vọng lớn trong việc đổi mới các hình thức dạy học. Nếu trước kia GV thường ưu tiên và tập trung nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng vận dụng của HS, thì với việc ứng dụng CNTT sẽ tạo tiền đề cho sự phát triển các kĩ năng và sự sáng tạo trong học tập của HS. 1.2.4. Thay đổi phương pháp kiểm tra đánh giá, quản lý chuyên môn. Kiểm tra, đánh giá có 3 chức năng là so sánh, phản hồi và dự đoán. Muốn thực hiện được những chức năng trên thì phải tìm những phương tiện kiểm tra đánh giá chính xác, đúng mức và tin cậy. Bởi kiểm tra đánh giá kết quả học tập được thực hiện ở tất cả các khâu của quá trình dạy học. Do đó các phương pháp kiểm tra đánh giá cũng là một phương pháp dạy học. Việc kết hợp thêm hình thức cho học sinh kiểm tra, đánh giá trực tuyến trên hệ thống máy tính, điện thoại là bước cải tiến giúp nâng cao chất lượng kiểm tra, đánh giá nói riêng cũng như cải thiện chất lượng giáo dục nói chung. 2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu. Trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, khoa học kĩ thuật phát triển nhanh chóng, nhà trường và GV không còn là nguồn cung cấp tri thức duy nhất để đáp ứng hết nhu cầu học tập của người học cũng như đòi hỏi ngày càng cao của đời sống xã hội. Bồi dưỡng năng lực tự học, tự ôn luyện kiến thức, tự tìm tòi nguồn tri thức của HS nói chung, HS THPT nói riêng là công việc rất quan trọng. Chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018 đã được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực của người học trong đó tự học là một trong những năng lực chung thuộc mục tiêu của giáo dục hiện đại. Để việc đổi mới giáo dục trong đó đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát huy tính tích cực nhận thức của HS và bồi dưỡng phương pháp học tập mà trọng tâm là lấy HS làm trung tâm để người học tự học suốt đời. Dạy học chủ yếu là dạy cách học, dạy cách tư duy, dạy phương pháp tự học. Để tự hoàn thiện bản thân, HS cấp THPT phải xác định được: - Nhiệm vụ học tập dựa trên kết quả đã đạt được; biết đặt mục tiêu học tập chi tiết, cụ thể, khắc phục những hạn chế. - Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; hình thành cách học riêng của bản thân; tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn được nguồn tài liệu phù hợp với mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau; ghi chép thông tin bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết. 5
  9. - Tự nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; biết tự điều chỉnh cách học. - Biết thường xuyên tu dưỡng theo mục tiêu phấn đấu cá nhân. Đối với việc nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa học 10, nhìn chung hầu hết các trường THPT trên cả nước đã có những biện pháp, hình thức nhằm bồi dưỡng, đào tạo năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho GV giảng dạy môn học này. Bước đầu hiệu quả mang lại là những tín hiệu đáng mừng. Song thực tế cho thấy, mặc dù có nhiều nỗ lực của cả ngành giáo dục, các trường THPT nhưng hiệu quả học tập, ôn luyện kiến thức trong môn Hóa học 10 chưa cao. Nguyên nhân, các yếu tố tác động làm cho quá trình dạy và học Hóa học 10 còn hạn chế là: Môi trường thực hành Hóa học cho HS còn hạn chế; Cơ sở vật chất, kĩ thuật, học liệu phục vụ trong dạy học chưa đáp ứng kịp nhu cầu đổi mới dạy học nói chung và Hóa học 10 nói riêng. Một số GV còn hạn chế về năng lực tin học nên việc ứng dụng tin học vào dạy học còn nhiều khó khăn. Năng lực tự học và năng lực tin học của HS vùng trường đóng thực sự còn nhiều hạn chế. Để góp phần khắc phục những tồn tại của thực tế dạy học nói chung và dạy học môn Hóa học 10 nói riêng, trong năm học qua tôi đã tiến hành tìm hiểu những nguyên nhân, thực trạng và tìm kiếm những biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa học cho HS lớp 10, đặc biệt là ôn tập kiến thức cho các em. Để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài và đánh giá chính xác hơn về thực trạng của vấn đề ứng dụng CNTT trọng dạy học, trong ôn tập củng cố kiến thức cho HS, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã làm khảo sát nhỏ: - Đối tượng: Học sinh và giáo viên trường THPT Nghi Lộc 2, THPT Nghi Lộc 5 - Nội dung khảo sát: Đối với học sinh: Khảo sát mức độ quan tâm và hứng thú của HS khi ứng dụng CNTT vào dạy học, ôn tập, củng cố kiến thức. Đối với giáo viên: Khảo sát nhận thức tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy và học cho HS ở trường THPT; Khảo sát mức độ ứng dụng CNTT vào việc hỗ trợ và đổi mới phương pháp ôn tập, củng cố, kiểm tra đánh giá HS của GV ở trường THPT; A. Đối với học sinh. Để thấy được sự hứng thú của học sinh đối với ứng dụng CNTT vào dạy học, ôn tập, củng cố kiến thức tôi làm khảo sát như sau: 6
  10. PHIẾU KHẢO SÁT SỐ 1 (Dùng cho HS) Khảo sát mức độ quan tâm và hứng thú của HS khi ứng dụng CNTT vào dạy học, ôn tập, củng cố kiến thức. Phần I : Thông tin cá nhân Họ và tên:…………………………….. Lớp: ……. Trường THPT Nghi Lộc 2 Phần II: Nội dung Em hãy vui lòng trả lời các câu hỏi sau bằng cách đánh dấu “x” vào ô tương ứng với phương án mình lựa chọn: Câu 1: Ở trường, lớp em đang học, GV có thường ứng dụng CNTT vào dạy học, ôn tập, củng cố, kiểm tra đánh giá không? A. Rất thường xuyên B. Thường xuyên C. Không thường xuyên Câu 2: Theo các em việc ứng dụng CNTT vào dạy học, ôn tập củng cố kiến thức và kiểm tra đánh giá là vấn đề: A. Rất cần thiết B. Cần thiết C. Không cần thiết Câu 3: Khi GV ứng dụng CNTT vào hoạt động dạy học, ôn tập, củng cố kiến thức và đánh giá, so với phương pháp học truyền thống, các em thấy việc ứng dụng CNTT là: A.Rất hứng thú B. Hứng thú C. Không hứng thú Bảng 1. Kết quả điều tra về mức độ quan tâm và hứng thú của HS trong việc ứng dụng CNTT vào dạy học, ôn tập, củng cố kiến thức và mức độ hứng thú của học sinh đối với các hoạt động trải nghiệm. Kết quả điều tra Tổng số học Câu hỏi 1 Câu hỏi 2 Câu hỏi 3 sinh Rất Thường Không Rất Cần Không Rất Hứng Không điều thường xuyên thường cần thiết cần hứng thú hứng tra xuyên xuyên thiết thiết thú thú 212 37 68 107 170 34 8 176 28 8 Tỉ 17,5 32,1 50,5 80,2 16,0 3,8 83,0 13,2 3,8 lệ(%) Như vậy qua khảo sát điều tra, tôi thấy rằng việc tăng cường ứng dụng CNTT đa dạng, phù hợp, chất lượng vào dạy học ở trường THPT nói chung và ứng dụng CNTT vào ôn tập, củng cố kiến thức chương trình Hóa Học 10 nói riêng là việc cần thiết, giúp phát huy tính tích cực, khả năng tự chủ và tự học của học sinh, giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức, từ đó hình thành phẩm chất năng lực cho bản thân các em. 7
  11. B. Đối với giáo viên Tôi tiến hành khảo sát 65 GV ở trường nơi tôi công tác với 2 nội dung: - Khảo sát nhận thức tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy và học cho HS ở trường THPT. - Khảo sát mức độ ứng dụng CNTT vào việc hỗ trợ và đổi mới phương pháp ôn tập, củng cố, tìm kiếm tài liệu phù hợp tự học, kiểm tra đánh giá HS của GV ở trường THPT. PHIẾU KHẢO SÁT SỐ 2 (Dùng cho giáo viên) Phần I: Thông tin cá nhân Họ và tên giáo viên....................... ................. Trường THPT Nghi Lộc 2 Phần II: Nội dung Thầy (cô) hãy vui lòng trả lời các câu hỏi sau bằng cách đánh dấu “x” vào ô tương ứng với phương án mình lựa chọn:  Khảo sát nhận thức tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy và học cho HS ở trường THPT. Số lượng GV được khảo sát: 65 GV Mức độ đánh giá (Số lượng/%) STT Nội dung câu hỏi Rất Không Quan Ít quan quan quan trọng trọng trọng trọng Ứng dụng CNTT trong hỗ trợ GV tìm kiếm 1 tài liệu dạy học Ứng dụng CNTT trong góp phần đổi mới 2 phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá Ứng dụng CNTT trong giúp GV tương tác, 3 trao đổi thông tin với HS, phụ huynh và đồng nghiệp Ứng dụng CNTT trong giúp GV tự bồi 4 dưỡng, nâng cao kiến thức Ứng dụng CNTT trong giúp HS chủ động, 5 tự học, tự ôn tập, củng cố kiến thức Ứng dụng CNTT trong việc giúp HS dễ 6 tiếp thu, tăng hứng thú trong học tập 8
  12.  Khảo sát mức độ ứng dụng CNTT vào việc hỗ trợ và đổi mới phương pháp ôn tập, củng cố, kiểm tra đánh giá HS của GV ở trường THPT. Mức độ đánh giá (Số lượng/%) STT Nội dung câu hỏi Rất Không Thường thường thường xuyên xuyên xuyên Ứng dụng CNTT trong việc thiết kế kế hoạch dạy 1 học, khai thác dữ liệu số Ứng dụng CNTT trong việc thực hiện dạy bài 2 giảng điện tử trực tiếp và online cho HS Ứng dụng CNTT trong việc định hướng HS tự 3 học, tự phát triển năng lực, nhận thức Ứng dụng CNTT trong việc kiểm tra, đánh giá, 4 chấm thi, quản lí đề thi Bảng 2: Kết quả khảo sát trên 65 GV về khảo sát 1, nhận thức tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy và học cho HS ở trường THPT. Mức độ đánh giá (Số lượng/%) STT Nội dung câu hỏi Rất Không Quan Ít quan quan quan trọng trọng trọng trọng 45 22 3 0 1 Hỗ trợ GV tìm kiếm tài liệu dạy học 69,2% 33,8% 3,0% 0% Góp phần đổi mới phương pháp dạy học và 32 28 5 0 2 kiểm tra đánh giá 49,2% 43,1% 7,7% 0% Giúp GV tương tác, trao đổi thông tin với 15 28 15 7 3 HS, phụ huynh và đồng nghiệp 23,1% 43,1% 23,1% 10,7% 27 18 15 5 4 Giúp GV tự bồi dưỡng, nâng cao kiến thức 41,5% 27,7% 23,1% 7,7% Giúp HS chủ động, tự học, tự ôn tập, củng 40 20 5 0 5 cố kiến thức (thông qua đánh giá của gv) 61,5% 30,8% 7,7% 0% Giúp HS dễ tiếp thu, tăng hứng thú (thông 34 21 10 0 6 qua đánh giá của GV) 52,3% 32,3% 15,4% 0% 9
  13. Qua khảo sát thực trạng nhận thức tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy và học cho HS ở trường THPT nhận thấy hầu hết GV đều đã nhận thức tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT vào dạy học là rất cần thiết cho cả GV và HS. Tuy nhiên do năng lực tin học của 1 số GV, điều kiện cơ sở vật chất và thời gian hạn chế, cộng với nhận thức chưa thực sự đổi mới, một vài bộ phận GV cho rằng ứng dụng CNTT chưa cần thiết, chưa quan trọng. Vì vậy cần làm tốt việc ứng dụng CNTT để mang lại chất lượng dạy học tốt hơn. Bảng 3: Kết quả khảo sát trên 65 GV về khảo sát 2, mức độ ứng dụng CNTT vào việc hỗ trợ và đổi mới phương pháp ôn tập, củng cố, kiểm tra đánh giá HS của GV ở trường THPT. Mức độ đánh giá (Số lượng/%) STT Nội dung câu hỏi Rất Không Thường thường thường xuyên xuyên xuyên Ứng dụng CNTT trong việc thiết kế kế hoạch dạy 23 38 4 1 học, khai thác dữ liệu số 35,4% 58,5% 6,1% Ứng dụng CNTT trong việc dạy bài giảng điện tử 20 25 20 2 trực tiếp, online cho HS 30,8% 38,5% 30,8% Ứng dụng CNTT trong việc định hướng HS củng 18 25 22 3 cố, ôn tập, tự học, tự phát triển năng lực, nhận thức 27,7% 38,5% 33,8% Ứng dụng CNTT trong việc kiểm tra, đánh giá, 2 23 42 4 chấm thi, quản lí đề thi 3,1% 35,4% 61,5% Qua kết quả điều tra về khảo sát mức độ ứng dụng CNTT vào việc hỗ trợ và đổi mới phương pháp ôn tập, củng cố, kiểm tra đánh giá HS của GV ở trường THPT, chúng ta nhận thấy hầu hết GV đều đã ứng dụng CNTT vào xây dựng các kế hoạch bài dạy, khai thác dữ liệu nhưng việc ứng dụng CNTT để định hướng HS ôn tập củng cố kiến thức, tự học, tự kiểm tra đánh giá chưa được quan tâm thường xuyên Do vậy, việc ứng dụng CNTT trong dạy học đặc biệt là trong việc ôn tập và củng cố kiến thức là rất cần thiết. Các hoạt động ứng dụng CNTT rất đa dạng, tùy vào điều kiện, hoàn cảnh của từng lớp, từng trường, từng địa phương, tùy vào khả năng của mỗi GV và HS để xây dựng các giải pháp, những hình thức cũng như nội dung ứng dụng CNTT phù hợp nhằm phát huy tính tự chủ, tự giác và phát huy phẩm chất năng lực của HS 10
  14. 3. Hệ thống giải pháp. 3.1. Sử dụng CNTT, ứng dụng phần mềm iMindMap để khái quát nội dung môn Hóa học 10. Khái quát nội dung môn học là hoạt động rất quan trọng, hoạt động này không chỉ giúp cho HS nắm được những nội dung chính, cơ bản của môn học mà bên cạnh đó còn cung cấp cho các em cái nhìn tổng quát nhất về kiến thức mà mình đã được học. Đối với GV, khi sử dụng CNTT để khái quát môn học cũng phần nào giúp GV dễ nắm bắt nội dung theo chuyên đề, theo từng chương hay phần cơ bản của môn học để tiến hành tổ chức dạy học một cách dễ dàng. Một trong những công cụ khái quát kiến thức môn học trong CNTT hiệu quả nhất hiện nay đó là thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy (SĐTD) trong dạy học. Đồng thời, GV cũng có thể sử dụng SĐTD nhằm khái quát nội dung một bài, một chương hay một phần của kiến thức môn học. Với cơ chế trực quan bằng việc kích thích các hoạt động của tư duy, SĐTD khi sử dụng để khái quát nội dung sẽ giúp HS có cách nhìn tổng quan về kiến thức và dễ ghi nhớ sâu sắc nội dung bài học. Đối với môn Hóa học 10, khi sử dụng SĐTD để tổng quan về môn học cho HS, GV cần nắm bắt được phân phối chương trình của môn học, thực hiện khái quát lại nội dung bằng các thao tác truyền thống. Từ đó, đánh giá những nội dung trọng tâm, quan trọng để xây dựng SĐTD một cách khoa học, hợp lí nhằm giúp HS nắm được những phần chính của môn học ngay từ những bài học đầu tiên. Trong chương trình môn Hóa học 10 ở bậc THPT, môn Hóa học được phân phối như sau: Cả năm: 37 tuần (70 tiết). Học kì I: 19 tuần (36 tiết) (2 tiết/tuần). Học kì II: 18 tuần (34 tiết) (2 tiết/tuần). Hiện nay, việc thiết kế và sử dụng SĐTD đã trở nên đơn giản, hiệu quả với phần mềm iMindMap mới nhất. Một trong những chương trình phần mềm bản đồ tư duy sáng tạo nhất hiện nay, là công cụ hoàn hảo giúp chúng ta thiết lập bản đồ hay sơ đồ các dạng một cách nhanh hơn và dễ dàng hơn bằng giao diện trực quan cùng hệ thống sắc màu sinh động. Thay vì chúng ta phải ngồi mấy tiếng đồng hồ tự vẽ sơ đồ tư duy trên giấy thì iMindMap cho phép chúng ta tạo một bản đồ tư duy bằng các công cụ trên máy tính. Là ứng dụng tốt nhất nhằm mục đích thúc đẩy, cải thiện và hoàn thiện tư duy kiến thức một cách trực quan, iMindMap mang đến những tính năng tuyệt vời, những sáng tạo vượt bậc cho người dùng. Phần mềm iMindMap rất dễ sử dụng, hoàn toàn phù hợp cho cả GV và HS. Sau khi tải và cài đặt phần mềm, ta chỉ cần xem hướng dẫn trong vòng khoảng 10 phút là có thể sử dụng phần mềm một cách linh hoạt. SĐTD được tạo từ iMindMap màu sắc rất sinh động, rõ ràng giúp cho học sinh dễ dàng ghi nhớ kiến thức hơn. Tạo cho HS tính tò mò, hứng thú, chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức. 11
  15. Hình 1: Giao diện làm việc của phần mềm iMindMap Hình 2: Sử dụng SĐTD để khái quát nội dung cơ bản của chương I 12
  16. Ví dụ: Để khái quát nội dung chương III: Liên kết hóa học, gồm 7 tiết (Từ tiết 22 đến tiết 28. Với khối lượng kiến thức lớn của chương này, để giúp HS nắm những kiến thức cơ bản của chương và những kiến thức cơ bản về liên kết hóa học, GV có thể thiết kế và sử dụng SĐTD để khái quát nội dung cho HS. Với Chương III trong Hóa học 10, GV có thể thiết kế SĐTD như sau: Hình 3: Sử dụng SĐTD để khái quát nội dung cơ bản của chương III. 13
  17. Hình 4: Sử dụng SĐTD để ôn tập củng cố kiến thức chương V 14
  18. Hình 5: Sử dụng SĐTD để ôn tập củng cố bài Lưu Huỳnh Hình 6: Sử dụng SĐTD để ôn tập củng cố bài Hạt nhân nguyên tử. Nguyên tố hóa học 15
  19. Hình 7: Sử dụng SĐTD để củng cố kiến thức bài Lưu huỳnh Hình 8: Sử dụng SĐTD để củng cố kiến thức bài Lưu huỳnh 16
  20. 3.2. Ứng dụng CNTT, phương pháp sử dụng hệ thống trò chơi trong việc củng cố kiến thức sau mỗi bài học môn Hóa học 10. Thế giới hôm nay đang chứng kiến biết bao điều kì diệu do con người tạo ra. Một trong những điều kì diệu ấy là sự góp mặt của CNTT. Có thể nói CNTT là một lĩnh vực đột phá có vai trò lớn trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Đối với lĩnh vực giáo dục đào tạo, CNTT có tác dụng làm thay đổi mạnh mẽ phương pháp, phương thức dạy – học nhất là khi nền giáo dục của nước ta bước sang thế kỉ 21, thế kỉ của CNTT. Và có lẽ chính vì vậy mà trong những năm gần đây việc ứng dụng CNTT vào dạy – học đã và đang trở thành một xu thế phát triển mạnh mẽ ở các trường học, cấp học. Là một GV đứng lớp, bản thân tôi luôn trăn trở với suy nghĩ làm thế nào để giờ dạy của mình thu hút được sự chú ý của HS, làm thế nào để tiết học sinh động hấp dẫn? Và sự xuất hiện của CNTT đã giúp tôi tháo gỡ những băn khoăn này. Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy ưu điểm nổi trội của việc ứng dụng CNTT trong dạy học giúp GV nâng cao tính sáng tạo và trở nên linh hoạt hơn trong quá trình giảng dạy của mình. Một trong những phương pháp dạy học tích cực chưa được đông đáo GV quan tâm đó là phương pháp sử dụng trò chơi trong dạy học. Việc sử dụng trò chơi trong dạy học là một phương pháp phù hợp với xu hướng đổi mới dạy học hiện đại. Ở các nước phát triển, nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy áp dụng trò chơi vào việc dạy học là cực kì hữu ích để thúc đẩy sự phát triển tư duy, sáng tạo, khả năng vận dụng kiến thức của HS. Học trong quá trình vui chơi, là quá trình lĩnh hội tri thức vốn sống một cách nhẹ nhàng, tự nhiên không gò bó phù hợp với đặc điểm tâm lí sinh học ở HS. Học tập bằng trò chơi sẽ khơi dậy hứng thú tự nguyện, làm giảm thiểu sự căng thẳng thần kinh ở các em. Trong lúc chơi tinh thần của HS thường rất thoải mái nên khả năng tiếp thu kiến thức trong lúc chơi sẽ tốt hơn, hoặc sau khi chơi cũng sẽ tốt hơn. Trò chơi dạy học giúp xua đi nỗi lo âu nặng nề của việc học cho HS. Trong quá trình chơi, HS huy động các giác quan để tiếp nhận thông tin. HS phải tự phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa làm cho các giác quan tinh nhạy hơn, ngôn ngữ mạch lạc hơn, các thao tác trí tuệ được hình thành. HS tiếp thu, lĩnh hội và khắc sâu được nhiều tri thức, nhiều khái niệm. Trò chơi dạy học cũng có thể hình thành nên cho học sinh những kĩ năng của môn học, HS không chỉ có cơ hội tìm hiểu kiến thức, ôn tập lại các kiến thức đã biết mà còn có thể có được kinh nghiệm, hành vi. Một số trò chơi dạy học còn giúp cho HS có khả năng tư duy, cách giải quyết vấn đề nhanh nhẹn không chỉ trong lĩnh vực mình chơi mà cả các lĩnh vực của cuộc sống… Trên cơ sở đó trò chơi dạy học có thể định hướng phát triển phẩm chất, năng lực cho HS. Thông qua các trò chơi HS phát huy được năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy, năng lực hợp tác, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn,.... Trò chơi dùng để dạy học dưới dạng củng cố kiến thức đã biết và rèn luyện tư duy 17
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2