
- 1 -
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BẾN TRE
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MỎ CÀY NAM
TÊN ĐỀ TÀI:
BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
HỌC SINH
Người thực hiện: Ngô Thị Phương Thảo
Nhiệm vụ: Giáo viên dạy lớp .
Đơn vị công tác: Trường THCS Thị Trấn 1
NĂM HỌC: 2011- 2012

- 2 -
A.PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1. Cơ sở lí luận:
Ông bà ta từ xưa đã có câu “Tiên học lễ, hậu học văn”, nên việc học lễ nghĩa
đạo đức là yếu tố để hình thành nhân cách tốt đẹp của con người, vì thế việc giáo dục
đạo đức học sinh là một nhiệm vụ rất quan trọng trong công tác giảng dạy của giáo
viên.
Trong lớp đạo đức học sinh sẽ quyết định nề nếp thi đua của lớp được nâng
cao, đẩy mạnh phong trào thi đua học tốt, chuyên cần, duy trì sỉ số. Còn đối với bộ
môn sẽ nâng cao chất lượng bộ môn, giúp người giáo viên hoàn thành sự nghiệp giáo
dục của mình.
Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước hiện nay, mỗi giáo
viên cần xác định nhiệm vụ chủ yếu đối với học sinh là giáo dục, giáo dưỡng. trong
quá trình giảng dạy chúng ta không nên coi nhẹ hai nhiệm vụ đó, bởi giáo dục và giáo
dưỡng mới đào tạo được một học sinh toàn diện theo yêu cầu của nền giáo dục mới.
2. Cơ sở thực tiễn:
a. Thuận lợi:
Trường THCS Thị trấn 1 là một trường chuẩn Quốc gia, Trường học văn hóa
và là trường nhiều năm liền đạt trường tiên tiến xuất sắc cấp tỉnh, trường có nhiều
thành tích và truyền thống tốt đẹp.
Được sự quan tâm của các cấp chính quyền ở địa phương, ban giám hiệu nhà
trường, sự nhiệt tình của hội phụ huynh, cùng tập thể giáo viên và công nhân viên
trong nhà trường.
Trường mằm trên địa bàn thị trấn thuận lợi cho việc đi lại và là địa bàn đã hoàn
thành phổ cập giáo dục THCS.
Tập thể giáo viên trong nhà trường có tinh thần tương thân, tương ái giúp đỡ
nhau trong công tac, đoàn kết tốt trong nội bộ.
b. Khó khăn:
Phần lớn học sinh đang ở lứa tuổi thay đổi về tâm sinh lí nên rất hiếu động.
Nhiều gia đình học sinh cha mẹ phải đi làm xa thường xuyên vắng nhà hoặc ở
với ông bà, chú, bác, cô, dì nên phần nào cũng ảnh hưởng đến việc học tập và rèn
luyện đạo đức của các em.
Một số ít học sinh đã tạo ra tiền, nên không coi trọng vấn đề đạo đức.
Trong xu thế phổ cập THCS, học sinh trong lứa tuổi này được xã hội ưu ái nên
các em thường có nhiều yêu sách đối với giáo viên khi bị nhắc nhở, gây khó khăn cho
việc giáo dục.
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự bùng nổ thông tin công nghệ đã nâng
cao chất lượng cuộc sống, đã gây ra những biến động về giá trị đạo đức: Tự do ngôn
luận,tính lễ phép, tính trung thực, tính chăm chỉ bị suy thoái trầm trọng…
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Ngày nay, khi đi đến đâu cũng nghe người lớn than phiền đạo đức của trẻ em
sao xuống cấp quá!, trẻ em ngày nay không ngoan bằng trẻ em ngày xưa, trẻ em ngày
nay hay ỷ lại, trẻ em ngày nay không chịu đựng được khó nhọc, kiên trì nhẫn nại
bằng trẻ em ngày xưa . v .v . . . tất cả những than phiền ấy có thật hay không? Nếu
thật sự như thế thì nguyên nhân do đâu, phải chăng chính người lớn chúng ta là tấm

- 3 -
gương để các em soi vào, tấm gương ấy có thật sự sáng hay mờ, người lớn chúng ta
đã gương mẫu chưa, những lời nói khi chúng ta thốt ra có thật sự đi đôi với việc làm
của mình chưa. Thật ra các em sinh ra và lớn hơn ảnh hưởng và chịu tác động rất
nhiều bởi gương sống làm việc, sinh họat, quan hệ của người lớn chúng ta. đầu tiên
trong cuộc đời các em chính là những thành viên trong chiếc nôi gia đình như anh,
chị, em, bố mẹ, nối tiếp là chiếc nôi thứ hai - trường học chính là thầy, cô, anh chị
phụ trách Đội TNTP, bạn bè, anh chị ở các lớp trên, đàn em ở các lớp nhỏ, bác bảo
vệ, chị nhân viên phục vụ . . .
Đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức học sinh ở lớp, ở trường thông qua đó,
tôi đề ra biện pháp giáo dục đạo đức học sinh một cách có hiệu quả.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu về công tác giáo dục đạo đức học sinh của giáo viên ở cấp THCS
và Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh.
IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Tìm hiểu thực trạng giáo dục đạo đức học sinh của giáo viên cấp THCS, phân
tích nguyên nhân, tìm ra những vấn đề liên quan đén công tác giáo dục đạo đức học
sinh, từ đó đề ra biện pháp giáo dục đạo đức học sinh trong công tác giáo dục học
sin.
V. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu thực trạng và biện pháp giáo dục đạo đức học sinh của giáo viên và
Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh
B. PHẦN NỘI DUNG:
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
-Đạo đức là những qui định, những chuẩn mực ứng xử của con người với
người khác, với công việc, với thiên nhiên và môi trường sống. Dưới mái trường
XHCN, học sinh được thầy cô giáo giáo dục, rèn luyện trở thành người có đạo đức
Cách mạng, đạo đức chuẩn mực.
-Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, của ý thức xã hội, đạo đức một mặt
quy định bởi cơ sở hạ tầng, của tồn tại xã hội; mặt khác nó cũng tác động tích cực trở
lại đối với cơ sở hạ tầng, tồn tại của xã hội đó. Vì vậy đạo đức có chức năng to lớn,
tác động theo hướng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của xã hội, nó có nhũng
chức năng sau:
+Chức năng giáo dục
+Chức năng điều chỉnh hành vi của cá nhân, của cộng đồng và là công cụ tự
điều chỉnh mối quan hệ giữa người và người trong xã hội.
+Chức năng phản ánh.
-Giáo dục đạo đức là một tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh
nhằm giúp cho nhân cách mỗi học sinh phát triển đúng đắn, giúp cho học sinh có
những hành vi, ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ: của cá nhân với xã hội, của
cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người xung quanh và của cá nhân với
chính mình.
-Trong tất cả các mặt giáo dục thì giáo dục đạo đức giữ một vị trí hết sức quan
trọng, Vì Hồ Chủ Tịch đã nêu: “ Dạy cũng như học, phải biết chú trọng cả tài lẫn đức.
Đức là đạo đức Cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng, nếu không có đạo đức Cách
mạng thì có tài cũng vô dụng”

- 4 -
-Giáo dục đạo đức có ý nghĩa lâu dài, được thực hiện thường xuyên và trong
mọi tình huống chứ không phải chỉ được thực hiện khi có tình hình phức tạp hoặc có
những đòi hỏi cấp bách.
-Trong nhà trường THCS, giáo dục đạo đức học sinh là mặt giáo dục phải được
đặc biệt coi trọng thì chất lượng giáo dục toàn diện sẽ được nâng lên vì đạo đức có
mối quan hệ mật thiết với các mặt giáo dục khác.
II. NHỮNG NHIỆM VỤ CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC HỌC SINH:
-Hình thành cho học sinh ý thức các hành vi ứng xử của bản thân phải phù hợp
với lợi ích xã hội; giúp học sinh lĩnh hội được một cách đúng mức các chuẩn mực
đạo đức được quy định
Biến kiến thức đạo đức thành niềm tin, nhu cầu của mỗi cá nhân để đảm bảo
hành vi cá nhân được thực hiện.
Bồi dưỡng tình cảm đạo đức, tính tích cực và bền vững, và các phẩm chất ý chí
để đảm bảo cho hành vi luôn theo đúng các yêu cầu đạo đức.
Rèn luyện thói quen hành vi đạo đức để trở thành bản tính tự nhiên của mỗi cá
nhân và duy trì lâu bền thói quen này.
-Về phía giáo viên chủ nhiệm cần có những yêu cầu sau:
+Có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng và trình độ giác ngộ cách mạng
cao.
+Có uy tín- đạo đức tốt.
+Có tầm hiểu biết rộng.
+Có tinh thần trách nhiệm cao, yêu nghề.
+Thương yêu và tôn trọng học sinh.
+Có năng lực tổ chức.
+Thực hiện tốt các qui định về công tác chủ nhiệm của ngành, của trường.
-Về phía giáo viên bộ môn cần có những yêu cầu sau:
+Có tráh nhiệm cao đối với chất lượng bộ môn.
+Thực hiện tốt các qui định về chuyên môn.
+Luôn có tinh thần tự học, tự rèn để nâng cao tay nghề.
+Nghiên cứu và ứng dụng kịp thời công nghệ thông tin vào giảng dạy để tạo
tính hứng thú, tính tích cực của học sinh trong học tập.
-Những biểu hiện thực trạng đạo đức của học sinh:
+Mặt tích cực:
Đa số học sinh có đạo đức tốt, biết nghe lời cha mẹ, thầy cô, nghiêm chỉnh
chấp hành các qui định của lớp, nội qui của trường, biết sống tốt và sống đẹp.
+Mặt tiêu cực:
Một bộ phận không ít có biểu hiện chán học, không thich học, thường xuyên
gây mất trật tự trong lớp, nói tục, vô lễ với thầy cô, nói dối thầy cô và bạn bè, giao
lưu với các đối tượng xấu bên ngoài, tổ chức băng nhóm đánh nhau, đam mê các trò
chơi Internet…
Nguyên nhân tiêu cực:
. Một số phụ huynh chưa thấy rõ mục đích giáo dục chung để phối hợp.
. Sự bất ổn của gia đình, cha mẹ đi làm xa các em phải ở với ông, bà hoặc ở với
cô, bác,chú, dì, cậu nên thiếu sự quan tâm.
. Cha mẹ giàu có, nuông chiều cho tiền nhiều, thiếu sự kiểm tra và giáo dục.

- 5 -
. Đời sống nhân dân còn khó khăn, tệ nạn xã hội nhiều, cha mẹ học sinh chưa ý
thức hết vai trò giáo dục của mình.
. Thú chơi điện tử đã ảnh hưởng nhiều đến kết quả học tập của học sinh, làm
cho các em vi phạm nhiều gây ra tình trạng nói dối.
. Ý thức đạo đức của học sinh chưa cao, kỹ năng vận dụng chuẩn mực đạo đức
còn thấp, chưa phân định được ranh giới giữa cái xấu và cái tốt nên khi bị phê bình
cứ ngỡ bị trù dập.
. Khả năng tự chủ chưa cao, khi vi phạm đạo đức sửa chữa chậm hoặc không
chụi sửa chữa.
III. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
1.Thầy giáo phải biết khen nhiều hơn chê:
Tạo cơ hội để các em được khen, để khen được, người thầy phải có nghệ thuật
tạo nhiều cơ hội để khen:
a) Xây dựng cho mỗi em có một quyển nhật ký ghi chép những việc làm tốt trong
tuần:
Đối với lứa tuổi của các em học sinh trung học cơ sở: đặc điểm tâm sinh lý của
các em phát triển ở mức độ tín hiệu III, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng,
các em cũng có tâm lý lứa tuổi cũng gần giống như các em học sinh tiểu học nhưng ở
mức độ cao hơn , các em nghĩ mình “người lớn” hơn, thích được khen, thích chứng tỏ
mình, khẳng định mình.
GVCN lập cho mỗi em một quyển nhật ký ghi chép những việc làm tốt trong
tuần. Sau đó giáo viên chủ nhiệm lớp sẽ sơ kết tuần xem em nào ghi được nhiều việc
làm tốt ta khen thưởng cho các em nêu tên trong chương trình “Người tốt việc tốt”
vào thứ hai tiết chào cờ đầu tuần. Lẽ tất nhiên khi ghi chép như thế thì các em thường
phải đắn đo, suy nghĩ là phải ghi trung thực.
Giáo viên có thể nêu ra các những việc làm tốt như :
- Giúp đỡ người già, khuyết tật, neo đơn
- Giúp đỡ các em nhỏ
- Nhặt của rơi trả lại cho người mất
- Giúp đỡ bạn bè trong sinh hoạt, học tập, trong cuộc sống.
- Phát hiện những bạn vi phạm nội quy nhắc bạn sửa chữa khuyết điểm.
- Tổ chức học nhóm, tổ để giúp đỡ
Ngoài khen thưởng về học lực của các em, chúng ta cũng cần có giải thưởng
dành riêng cho học sinh có hạnh kiểm xuất sắc (Danh hiệu này giáo viên chủ nhiệm
có thể sáng tạo riêng cho lớp mình), nhằm động viên khuyến khích các em ngày tiến
bộ bởi lẽ những mầm sống tốt, tích cực luôn được sinh sôi nẩy nở trong mảnh đất
màu mỡ những yêu thương.
b) Giáo viên phải biết giao việc từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó, bởi vì đối
tượng học sinh đối với trường THCS không chuyên thì thường số lượng đối tượng
học sinh từ trung bình trở xuống đến yếu, kém rất đông, rất nhiều. Điều này cũng lý
giải được nguyên nhân vì sao số lượng học sinh yếu kém ngày càng nhiều ở các
trường PT.
Sự tự ti mặc cảm ngay cả người lớn còn có huống gì ở lứa tuổi các em chính sự
tự ti mặc cảm sẽ thui chột đi sự tiến bộ của mỗi cá nhân, là thầy giáo phải biết khuyến
khích, nâng đỡ cho các em, tạo cho em có lòng tin nơi chính mình, xây dựng các em

