SKKN: Một số biện pháp rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng trong chương trình Toán lớp 5

Chia sẻ: Lê Thị Diễm Hương | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:16

0
595
lượt xem
173
download

SKKN: Một số biện pháp rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng trong chương trình Toán lớp 5

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sáng kiến “Một số biện pháp rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng trong chương trình Toán lớp 5” tìm ra những biện pháp rèn luyện kỹ năng giải các dạng toán về phép đại lượng cho học sinh. Đồng thời giúp các em học sinh khắc phục được những sai lầm khi giải dạng toán này. Mời quý thầy cô tham khảo sáng kiến trên.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Một số biện pháp rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng trong chương trình Toán lớp 5

  1. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG GIẢI CÁC DẠNG TOÁN VỀ PHÉP ĐO ĐẠI LƯỢNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH TOÁN LỚP 5
  2. I. MỞ ĐẦU: CHƯƠNG I 1/ LỜI MỞ ĐẦU: Sáng kiến kinh nghiệm đề tài: “ Một số biện pháp rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng trong chương trình Toán lớp 5” được nghiên cứu trình bày và thực hiện nhằm giúp bản thân và đồng nghiệp tìm ra những biện pháp rèn luyện kỹ năng giải các dạng toán về phép đại lượng cho học sinh. Đồng thời giúp các em học sinh khắc phục được những sai lầm khi giải dạng toán này.  Đề tài gồm có 2 chương: - Chương I: 1. Lời mở đầu. 2. Lý do chọn đề tài. 3. Mục đích nghiên cứu. 4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu. 6. Phương pháp nghiên cứu. 7. Giả thiết khoa học. Nội dung nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến đề tài: 1. Khái niệm liên quan. 2. Cơ sở lí luận 3. Cơ sở thực tiễn. -Chương II. I. Nguyên nhân, thực trạng và giải pháp II. Kết luận: Những vấn đề được đặt ra trong đề tài là những vấn đề tôi đã suy nghĩ, học hỏi và thể hiện trong quá trình giảng dạy môn Toán lớp 5 ở Trường Tiểu học Bình Thuận- Bình Sơn – Quảng Ngãi. Rất mong nhận được sự nhận xét, góp ý chân thành của đồng nghiệp để tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ của người giáo viên. 2. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: - Nội dung chương trình môn Toán lớp 5 có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình toán ở Tiểu học. Nội dung toán 5 chia thành 175 bài học, hoặc bài thực hành, luyện tập, ôn tập, kiểm tra. Đặc biệt Toán 5 giúp học sinh có cơ hội hình thành và phát triển các năng lực tư duy, trí tưởng tượng không gian, khả năng diễn đạt ( bằng ngôn ngữ nói và viết ở dạng khái quát và trừu tượng) sẽ
  3. nhiều hơn. Môn Toán 5 rất quan tâm đến ôn tập, củng cố, hệ thống hóa các kiến thức và kỹ năng cơ bản của chương trình môn Toán ở Tiểu học. Do đó, Toán 5 sẽ giúp học sinh đạt được những mục tiêu dạy học toán không chỉ ở Toán 5 mà toàn cấp Tiểu học. - Hình thành các kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải các bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống. - Trong chương trình của môn Toán 5 thì “ Đại lượng và đo đại lượng” là tuyến kiến thức khó dạy vì học sinh dễ nhầm lẫn trong quá trình luyện tập nên hiệu quả học tập chưa cao. Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy lớp 5 tại trường Tiểu học Bình Thuận huyện Bình Sơn, trước thực tế đó tôi mạnh dạn nghiên cứu, tìm giải pháp rèn luyện kỹ năng giải các dạng toán về đại lượng và đo đại lượng đồng thời khắc phục những sai lầm khi giải dạng toán này bởi đây là việc cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay để nâng cao chất lượng giáo dục. 3/ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: - Tìm hiểu phương pháp và nội dung dạy học rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng lớp 5. Những khó khăn khi triển khai nội dung dạy học: Rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng đối với đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu. - Tìm hiểu nguyên tắc dạy - học rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng và đề ra biện pháp để quan tâm tới các trình độ học sinh đặc biệt là học sinh trung bình, yếu giúp các em học tập tích cực, chủ động, phát huy được năng lực và kỹ năng giải toán về đại lượng. 4/ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU: a. Đối tượng nghiên cứu: - Sách giáo viên, sách giáo khoa, các tài liệu tham khảo về dạy đại lượng và đo đại lượng cho học sinh lớp 5. - Thực trạng dạy rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng ở địa phương ( lớp 5 Trường Tiểu học Bình Thuận - Bình Sơn - Quảng Ngãi). b. Phạm vi nghiên cứu: Phương pháp và nội dung dạy rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng lớp 5 trong việc dạy - học của giáo viên và học sinh lớp 5 thuộc tổ Năm trường Tiểu học Bình Thuận - Bình Sơn - Quảng Ngãi. 5/ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: Đề tài luôn tìm ra, chỉ ra cách thức tổ chức các hoạt động cho học sinh, đó là định hướng đổi mới phương pháp dạy học sâu sắc nhất ở tiểu học. Bên cạnh đó cũng định hướng cho giáo viên sao cho mọi học sinh đều tham gia hoạt động học, sao cho học sinh thấy mình tự phát hiện, tìm ra kiến thức mới. Giáo viên
  4. hướng dẫn học sinh sử dụng vốn hiểu biết của mình để hình thành kiến thức mới và bổ sung, hoàn thiện, khái quát và hệ thống các kiến thức về đại lượng và đo đại lượng đã học ở các lớp trước. Trong chương trình Toán ở Tiểu học, các kiến thức về phép đo đại lượng gắn bó chặt chẽ với các kiến thức số học và hình học. Khi dạy học hệ thống đơn vị đo của mỗi đại lượng đều phải nhằm củng cố các kiến thức về hệ ghi số. Vì thế tôi đã xác định được nhiệm vụ đặt ra cho mình khi nghiên cứu đề tài này là phải đưa ra một số biện pháp để giúp các em hiểu được bản chất của phép đo đại lượng, tìm cách để khắc phục những sai lầm mà các em thường mắc phải; giúp giáo viên phân tích, tìm nguyên nhân của những sai lầm của học sinh từ đó tìm ra các giải pháp và thao tác để hướng dẫn học sinh. 6/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng những phương pháp sau: - Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: Điều tra tình hình dạy và học của giáo viên và học sinh ở địa phương. - Phương pháp phân tích - Tổng hợp: Phân tích những vấn đề ( hiệu quả giảng dạy của từng giáo viên trong tổ, tình hình học tập của học sinh trong tổ, tổng hợp những ưu, nhược điểm). - Phương pháp thực nghiệm:n Thực hiện kiểm tra, tính khả thi ở việc áp dụng dạy học rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng lớp 5 phù hợp với trình độ học sinh giúp giáo viên và học sinh dạy - học có hiệu quả. 7/ GIẢ THUYẾT KHOA HỌC: - Quá trình thực hiện đề tài sẽ giúp cho các em nắm được các kỹ năng thực hành về đo đại lượng; Biết sử dụng các dụng cụ đo thích hợp, biết tiến hành các phép đo thực hành, các kỹ năng ước lượng số đo; nắm chắc đơn vị đo, hệ thống đơn vị đo; Biết biểu diễn số đo, thực hiện phép tính trên các số đo. - Hỗ trợ và củng cố các kiến thức liên quan trong môn toán, phát triển năng lực thực hành, năng lực tư duy của học sinh. - Các em có kỹ năng giải các dạng toán về đại lượng một cách thành thạo. - Đề tài này có thể vận dụng dạy tuyến kiến thức về đại lượng ở các khối lớp khác. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI: 1/ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN: Có thể hiểu: Một số biện pháp rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng trong chương trình toán lớp 5 như sau: - Hình thành kỹ năng giải các dạng về phép đo đại lượng cho học sinh lớp 5.
  5. - Dạy - học đại lượng và đo đại lượng cho học sing lớp 5 phù hợp với trình độ học sinh. - Kích thích sự hứng thú và niềm say mê học về đại lượng và đo đại lượng cho học sinh lớp 5. 2. CƠ SỞ LÍ LUẬN: Các kiến thức về đại lượng được sắp xếp đan xen với các mạch kiến thức khác, làm nổi rõ “ hạt nhân” số học phù hợp với sự phát triển theo từng giai đoạn học tập của học sinh. Bổ sung, hoàn thiện, khái quát và hệ thống các kiến thức về đại lượng và đo đại lượng đã học ở các lớp trước. Điều đó phù hợp với đặc điểm năm học cuối cấp tiểu học, năm kết thúc các kiến thức của cả cấp tiểu học. Bộ chính trị đã đưa ra nghị quyết về cải cách giáo dục đã nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển trí thông minh cho học sinh tiểu học. Nghị quyết đã chỉ rõ yêu cầu “ phát triển tư duy khoa học” và “ tăng cường ở các em ý thức, năng lực một cách thông minh những điều đã học.” Từ cơ sở đó giáo viên vận dụng những phương pháp dạy học mới ( coi trọng việc lấy học sinh làm trung tâm) trong quá trình giảng dạy nhằm đạt được hiệu quả cao nhất. Khi dạy các dạng toán này, giáo viên cần xác định rõ bài toán yêu cầu chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng hay thực hiện phép tính với số đo đại lượng …. Từ đó giúp học sinh tìm ra cách giải tương ứng với mỗi dạng bài. 3/ CƠ SỞ THỰC TIỄN: Từ cơ sở lí luận trên, trong quá trình rèn kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng tôi có phương pháp giải quyết vấn đề như sau: - Phải giúp học sinh hiểu được bản chất của phép đo đại lượng. Giáo viên cần thực hiện theo các quy trình sau: + Lựa chọn phép đo thích hợp: Phép đo trực tiếp ( khi có thể dùng trực tiếp dụng cụ để đo) và phép đo gián tiếp ( khi phép đo trực tiếp khó hoặc không thể thực hiện được trong thực tế) + Giới thiệu công cụ đo và hình thành khái niệm đơn vị đo. . Trong phép đo trực tiếp, việc giới thiệu công cụ đo thích hợp với nhiệm vụ đo tạo điều kiện cho học sinh thao tác với đồ vật cụ thể. Hơn nữa trên công cụ đo, đơn vị đo được cụ thể hóa, giúp học sinh có biểu tượng chính xác bước đầu về đơn vị đo. . Thông qua việc giới thiệu đơn vị đo giúp học sinh tái tạo đơn vị đo và nhận ra đơn vị đo trong quan hệ với giá trị của cả đại lượng được đo. + Thực hiện thao tác đo và biểu diễn kết quả đo. . Việc sử dụng mỗi công cụ đo, giáo viên hướng dẫn tỉ mỉ để học sinh biết thực hiện đúng thao tác, tránh được các sai sót. Chẳng hạn: Hướng dẫn cách đặt thước, chuyển thước, đọc kết quả khi đo độ dài đoạn thẳng; hướng dẫn cách cân, sử dụng quả cân khi đo khối lượng.
  6. . Cần hướng dẫn học sinh cách đọc và biểu diễn kết quả đo kèm theo tên đơn vị đo. + Dạy hệ thống đơn vị đo, cách chuyển đổi đơn vị đo. Giáo viên cần làm cho học sinh thấy được sự cần thiết của việc xây dựng hệ thống đơn vị đo, mối quan hệ giữa các đơn vị đo. + Dạy tính toán trên số đo và rèn luyện khả năng ước lượng số đo: Giáo viên cần cho học sinh thấy mỗi cách chọn đơn vị đo nhận được số đo khác nhau trên cùng một giá trị đại lượng. Do đó, trước khi thực hiện các phép tính học sinh phải kiểm tra các số đo có đơn vị đo có phù hợp hay không. - Cần dành thời gian để nghiên cứu bài dạy, lập kế hoạch và dự kiến những sai lầm học sinh thường mắc trong từng bài dạy. Phân tích, tìm nguyên nhân của những sai lầm đó để đề ra những biện pháp khắc phục kịp thời. CHƯƠNG II. NGUYÊN NHÂN, THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP. 1/ NGUYÊN NHÂN: Qua thực tế giảng dạy lớp 5 tại trường Tiểu học Bình Thuận – Bình Sơn tôi nhận thấy học sinh thường mắc phải sai lầm trong giải toán phép đo đại lượng là: Sử dụng thuật ngữ, suy luận, thực hành đo, so sánh, chuyển đổi đơn vị đo ….. Từ đó tôi xác định được một số nguyên nhân sau: * Đối với giáo viên: - Là tuyến kiến thức khó dạy nên không được một số giáo viên quan tâm. - Một số giáo viên chưa nắm bắt được nội dung và phương pháp dạy học mới, chưa đổi mới phương pháp dạy học. - Khi dạy các dạng toán này, giáo viên chưa xác định rõ cần rèn cho học sinh kĩ năng đo lường, kĩ năng chuyển đổi đơn vị đo. - Khi lập kế hoạch dạy học chưa dự kiến những sai lầm mà học sinh thường gặp. * Đối với học sinh: - Tiếp thu bài thụ động lười suy nghĩ, nắm bắt kiến thức hình thành kỹ năng chậm. - Học sinh còn những hạn chế trong việc nhận thức: Tri giác còn gắn với thực hành trên đồ vật, khó nhận biết được các hình khi chúng thay đổi vị trí, kích thước, khó phân biệt những đối tượng gần giống nhau. Chú ý của học sinh chủ yếu là chú ý không có chủ định nên hay để ý đến cái mới lạ, cái đập vào trước mắt hơn cái cần quan sát. Tư duy chủ yếu là tư duy cụ thể còn tư duy từu tượng
  7. dần dần hình thành nên học sinh rất khó hiểu được bản chất của phép đo đại lượng. - Một số đại lượng khó mô tả bằng trực quan nên học sinh khó nhận thức được. Phần lớn học sinh không thích học tuyến kiến thức này. - Trong thực hành còn hay nhầm lẫn do không nắm vững kiến thức mới. - Việc thực hiện các phép tính với đại lượng là số đo thời gian cần theo các “ quy tắc riêng” của các phép tính đó nên thường học sinh hay lúng túng. 2/ THỰC TRẠNG: - a. Thuận lợi: - Giáo viên được tập huấn chương trình thay sách giáo khoa đầy đủ. - Lớp học luôn nhận được nhận được sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường; giáo viên nhiệt tình trong công tác; học sinh chăm ngoan, ham thích học môn toán. - Nội dung, phương pháp dạy học có tính khả thi, phát huy được tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh. - Kiến thức , kỹ năng cơ bản, thiết thực phù hợp với trình độ và điều kiện học tập cho học sinh, quán triệtđược quan điểm phổ cập giáo dục tiểu học. - Thiết bị dạy học tương đối đầy đủ. b. Khó khăn: - Việc nắm bắt phương pháp dạy học mới của giáo viên còn khó khăn, còn phụ thuộc vào tài liệu hướng dẫn. - Khi hình thành biểu tượng về “ vận tốc”, “ quãng đường” ... cần dựa vào bài toán thực tế. Phần này giáo viên chưa suy luận đầy đủ, cụ thể khiến học sinh khó hình dung ra biểu tượng. - Thực hiện chuyển đổi đơn vị đo đại lượng, giáo vfiên chưa hướng dẫn các em nắm các kĩ năng khi thực hiện chuyển đổi đơn vị đo. - Trong dạy học một số giáo viên chưa chú ý, tập trung vào rèn kỹ năng cho học sinh. - Giáo viên không có hứng thú dạy tuyến kiến thức này. - Học sinh tiếp thu bài còn chậm hiệu quả chưa cao. - Đa số học sinh là con em nông dân nên việc nhắc nhở các em tự học còn nhiều hạn chế. 3/ GIẢI PHÁP: - Để hỗ trợ cho công tác giảng dạy, tìm hiểu học sinh là một cơ sở quan trọng nhằm giúp giáo viên thực hiện việc cá thể hóa việc dạy học, đáp ứng kịp thời với những tình huống xảy ra trong lớp. - Giáo viên yêu cầu học sinh phải nắm chắc ( thuộc) bảng hệ thống đơn vị đo, hiểu được mối quan hệ giữa các đơn vị đo. Quan tâm rèn kỹ năng thực hiện phép tính trên số tự nhiên và số đo đại lượng. - Phải nắm được các giải pháp và thao tác thường dùng trong chuyển đổi số đo. - Thực hiện các phép tính, sử dụng các hệ thống đơn vị đo.
  8. + Thao tác: Viết thêm hoặc xóa bớt chữ số 0. Chuyển dịch dấu phẩy sang trái hoặc sang phải 1,2,3, … chữ số. Có 2 dạng bài tập thường gặp về chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng: Dạng 1: ĐỔI SỐ ĐO ĐẠI LƯỢNG CÓ MỘT TÊN ĐƠN VỊ ĐO. + Đổi từ đơn vị lớn ra đơn vị bé. Ví dụ 1: Viết số thích hợp vào chỗ chấm: 1,7 m = ……….. cm. 0,5 m = ……….. cm Khi chuyển đổi từ đơn vị mét sang đơn vị cm thì số đo theo đơn vị mới phải gấp lên 100 lần so với số đo theo đơn vị cũ. Ta có: 1,7 x 100 = 170. Vậy: 1,7 m = 170 cm. + Đổi từ đơn vị bé ra đơn vị lớn: Ví dụ 2: Viết số thích hợp vào chỗ chấm: 2435 m = …………… km 62 cm = …………. m 9765 kg = …………. tấn. Khi chuyển đổi từ đơn vị cm thì số đo theo đơn vị mới phải giảm đi 100 lần so với số đo theo đơn vị cũ. Ta có: 62 : 100 = 0,62. Vậy 62 cm = 0,62 m. Trong thực tế khi chuyển đổi số đo đại lượng ( trừ số đo thời gian) học sinh có thể dùng cách chuyển dịch dấu phẩy: Cứ mỗi lần chuyển sang hàng đơn vị liền sau ( liền trước) thì ta dời dấu phẩy sang phải ( sang trái): . 1 chữ số đối với số đo độ dài và khối lượng. . 2 chữ số đối với số đo diện tích. . 3 chữ số đối với số đo thể tích. Ví dụ: a/ 13,4684 km = ………….. m Từ km đến m phải qua 3 lần chuyển sang đơn vị ( độ dài) liền sau (km – hm – dam – m ) nên ta dời dấu phẩy sang phải 3 chữ số. b. 2487 mm2 = 0,2487 dm2 Khi thực hành học sinh viết và nhẩm như sau: 87 mm2 ( chấm nhẹ đầu bút bên trái chữ số 8 tượng trưng cho dấu phẩy) 24 cm2 – chấm nhẹ đầu bút bên trái chữ số 2) 0 dm2 ( đánh dấu phẩy trước chữ số 0 viết thêm một chữ số 0 nữa trước dấu phẩy). c. 6793 dm3 = …………. m3 . Từ dm3 đổi ra m3 . Học sinh nhẩm: Xuất phát từ chữ số ở hàng đơn vị và dùng 3 chữ số để biểu thị một đơn vị đo. Ta có: 793 ( dm3) , 006 (m3) Vậy: 6793 dm3 = 6,793 m3. Dạng 2: ĐỔI SỐ ĐO ĐẠI LƯỢNG CÓ TÊN 2 ĐƠN VỊ ĐO. - Đổi từ số đo có 2 tên đơn vị sang số đo có 1 tên đơn vị đo. Ví dụ: Viết số thích hợp vào chỗ chấm: 6 kg 9 g = ………… g; 24 m2 63 dm2 = ………..m2 Học sinh có thể suy luận và tính toán: 6kg 9g = 6kg + 9g = 6000g + 9g = 6009g. Hoặc có thể nhẩm: 6 (kg) 0 (hg) 0 (dag) 9 ( g) Vậy 6 kg 9g = 6009 g. Tương tự học sinh có thể suy luận:
  9. 2 cm2 5 mm2 = 2 5 cm2 = 2,05cm2. 100 Riêng với số đo thời gian thường chỉ dùng cách tính toán: Ví dụ: Viết số thích hợp vào chỗ chấm: 2 ngày 26 giờ = …….. giờ. Ta có: 2 ngày 26 giờ = 2 ngày + 26 giờ = 24 giờ x 2 + 26 giờ = 74 giờ. - Đổi tư số đo có một tên đơn vị đo sang số đo có 2 tên đơn vị đo. Ví dụ: Viết số thích hợp vào chỗ trống: a. 6453 m = ……. Km ….. m Phân tích: 1m = 1 km. 1000 6453m = 6453 km = 6 453 km = 6 km 453 m. 1000 1000 Hoặc có thể nhẩm: Xuất phát từ chữ số ở hàng đơn vị. Ta có: 3 ( m) 5 (dam), 4 (hm) 6 (km) hay 6 km 453 m. Cách ghi: 6453 m = 6 km 453 m b. 3,4 giờ = …….. giờ ……. phút. Phân tích ( cách làm): 1 giờ = 60 phút. 5,2 giờ = 5,2 x 60 phút = 312 phút. Cách ghi: 5,2 giờ = 5 giờ 12 phút. Hoặc: 5,2 giờ = 5 2 giờ = 5 giờ + 2 giờ. 10 10 2 2 giờ = 60 phút x = 12 phút. 10 10 Cách ghi: 5,2 giờ = 5 giờ 12 phút.  Lưu ý học sinh: Cần chú ý đến quan hệ đến giữa các đơn vị đo của từng loại đại lượng để có thể chuyển đổi đúng các số đo đại lượng theo những đơn vị xác định, đặc biệt là trong những trường hợp phải thêm hay bớt chữ số 0. Đối với việc chuyển đổi số đo thời gian cần lưu ý học sinh nắm vững quan hệ giữa các đơn vị đo thời gian và kỹ năng thực hiện các phép tính với các số tự nhiên hoặc số thập phân trong việc giải các bài tập. Đối với học sinh đại trà không nên ra những bài tập về chuyển đổi đơn vị đo liên quan đến những đơn vị đo cách xa nhau hoặc xuất hiện tới 3 đơn vị đo cùng một lúc. Ví dụ: 5 ngày 8 giờ = …….. phút. * Dạng toán so sánh hai số đo: Giải pháp: Để giải bài toán so sánh hai số đo giáo viên cần hướng dẫn học sinh tiến hành các bước sau: Bước 1: Chuyển đổi hai số đo cần so sánh về cùng một đơn vị đo. Bước 2: Tiến hành so sánh 2 số như so sánh hai số tự nhiên hoặc phân số hoặc số thập phân.
  10. Bước 3 Kết luận. Thay cho bước 1 và bước 2 đã nêu, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh lập công thức tính các giá trị cần so sánh rồi so sánh các yếu tố trong công thức vừa lập. Trong bài toán tính tuổi lưu ý học sinh đôi khi cần chọn 1 thời điểm chung thì mới so sánh được. Ví dụ: Điều dấu thích hợp vào ô trống. a. 9 m2 5 dm2 □ 905 dm2 > < b. 9 km 15 dam □ 920 dam 2m = c. 6 kg 9 hg □ 9600 g Hướng dẫn giải: Bước 1: Chuyển đổi 2 số đo so sánh về cùng một đơn vị đo: a. 9 m2 5 dm2 = 905 dm2 b. 9 km 15 dam = 9150 m 920 dam 2m = 922 m c. 6kg 9hg = 6900 g. Bước 2: Tiến hành so sánh như so sánh hai số tự nhiên. a. 905 = 905 b. 9150 > 922 c. 6900 < 9600 Bước 3: kết luận: a/ Điền dấu = b/ Điền dấu > c/ Điền dấu < * Dạng toán thực hiện phép tính trên số đo đại lượng: Giải pháp: Để dạy học các phép tính trên số đo đại lượng trước hết giáo viên cần luyện tập cho học sinh thành thạo 4 phép tính: +, -, x , : trên tập hợp số tự nhiên và nắm chắc quy tắc chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng theo từng nhóm. - Nếu bài toán cho dưới dạng thực hiện phép tính trên số đo đại lượng thì ta tiến hành qua các bước sau: Bước :1 Đặt đúng phép tính ( nếu thấy cần thiết có thể chuyển đổi đơn vị đo). Riêng các phép cộng + , - phải lưu ý học sinh viết các số đo cùng đơn vị thẳng cột dọc với nhau. Bước 2: Tiến hành thực hiện các phép tính. Đối với các số đo độ dài, diện tích, thể tích, khối lượng, dung tích được thực hiện như trên các số tự nhiên; đối với các số đo thời gian các phép tính được thực hiện như trên số tự nhiên chỉ trong cùng một đơn vị đo vì số đo thời gian được ghi trong nhiều hệ.
  11. Bước 3: Chuyển đổi đơn vị ( nếu cần thiết) và kết luận. a/ 2 km 63 dam + 6 km 24 dam b/ 1 km2 6 hm2 – 24 hm2 Hướng dẫn: Bước 1: Đặt tính theo cột dọc( mỗi cột phải cùng tên đơn vị đo). Bước 2: Thực hiện tính như các số tự nhiên và giữ nguyên tên đơn vị đo ở từng cột. a. 2km 63 dam b. 1 km2 6hm2 0 km2 106 hm2 + - - 2 6km 24 dam 24hm 24hm2 8km 87dam 0 km2 82hm2 . Dạng dạy học về phép đo thời gian. Khi dạy học về các phép tính với số đo thời gian cần chú ý rèn luyện cho học sinh cách thực hiện các phép tính như sau: Cộng, trừ các số đo thời gian: * Lưu ý: + Đối với các số đo có 1 tên đơn vị đo: học sinh làm giống như đối với các số tự nhiên hoặc số thập phân. Ví dụ: 3 giờ + 14 giờ = 17 giờ. + Đối với các số đo có tên 2 đơn vị đo: học sinh có thể lần lượt tiến hành các thao tác như đã nêu ở trên. Để thực hiện phép tính nhân ( chia) 1 số đo thời gian với (cho) một số tự nhiên cần lưu ý học sinh cách trình bày, thực hiện tính và viết kết quả tính, nếu cần thiết có thể chuyển đổi đơn vị đo. Ví dụ: 2 ngày 20 giờ x 2 4 ngày 40 giờ = 5 ngày 16 giờ * Nếu bài toán không cho dưới dạng thực hiện các phép tính trên số đo đại lượng thì trước hết ta lập mối liên hệ giữa các yếu tố đã cho, giữa các yếu tố đã cho với các yếu tố chưa biết ( cần cho việc giải toán) hoặc các yếu tố cần tìm; sau đó đưa bài toán về dạng thực hiện các phép tính trên số đo đại lượng. * Dạng toán chuyển động đều. - Giải pháp: Khi dạy dạng toán chuyển động đều tôi đã hướng dẫn học sinh tìm tòi lời giải ( tìm hiểu bài toán và lập kế hoạch giải) theo các bước sau: Bước 1: Nhắc lại công thức tính hoặc các kiến thức cần thiết có liên quan. Bước 2: Liệt kê những dữ kiện đã cho phải tìm. Bước 3: Quan sát dữ kiện nào thay được vào công thức, còn dữ kiện nào phải tìm tiếp.
  12. Bước 4: Lập mối liên hệ giữa các yếu tố đã cho và các yếu tố phải tìm, có thể lập mối liên hệ giữa các yếu tố cần cho công thức hoặc cần cho những yếu tố phải tìm. Bước 5: Thay các yếu tố đã cho và các yếu tố tìm được vào công thức tính để tính theo yêu cầu bài toán. Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài toán, lập kế hoạch giải theo các bước trên tôi cho học sinh trình bày bài giải và kiểm tra đánh giá, khai thác lời giải. Song cần lưu ý: * Về trình bày bài giải: Cần phải xác định về mặt kiến thức và chính xác về phương diện suy luận. Mỗi phép toán cần có lời giải kèm theo. Cuối cùng phải ghi đáp số để trả lời câu hỏi đúng. * Về kiểm tra đánh giá và khai thác lời giải: - Kiểm tra nhằm phát hiện những sai sót nhầm lẫn trong quá trình tính toán hoặc suy luận. Thay các kết quả của bài toán vừa tìm được vào bài toán để tìm ngược lại các dữ kiện đã cho. - So sánh kết quả với thực tiễn. - Giải theo nhiều cách xem có cùng kết quả không. Đây là việc làm rất quan trọng, sau khi tiến hành xong 3 bước học sinh thường hay bỏ qua bước này. Vì thế nhiều em còn hay nhầm lẫn không biết chính xác bài làm đúng hay sai. Dạng toán chuyển động đều là một trong những dạng toán điển hình do đó giáo viên vừa rèn được kỹ năng giải dạng toán này vừa rèn được kỹ năng giải toán. Một số điểm cần lưu ý là phải chọn đơn vị đo ( thứ nguyên) thích hợp trong các công thức tính. Chẳng hạn nếu quãng đường chọn đo bằng km, thời gian đo bằng giờ thì vận tốc phải đo bằng km/giờ. Nếu thiếu chú ý điều này học sinh sẽ gặp khó khăn và sai lầm trong tính toán. * Một số biện pháp khắc phục những sai lầm thường gặp khi gải toán về phép đo đại lượng: Khi giải các bài toán về đại lượng và phép đo đại lượng học sinh thường nhầm lẫn và mắc một số sai lầm. Do đó, giáo viên cần phân tích, tìm biện pháp khắc phục dựa trên những hiểu biết sâu sắc và những kiến thức liên quan về toán học. 1.Sai lầm khi dùng thuật ngữ: a. Phân biệt khái niệm đại lượng và vật mang đại lượng. Ví dụ: Có học sinh cho rằng cái bút chì là độ dài, cái nền nhà là diện tích, cái can là dung tích …. - Nguyên nhân là do học sinh chưa nắm rõ bản chất khái niệm đại lượng, nhận thức của các em còn phụ thuộc hình dạng bên ngoài của đối tượng
  13. quan sát nên chưa tách được những thuộc tính riêng lẻ để giữ lại thuộc tính chung. - Biện pháp khắc phục: + Giáo viên nên đưa ra nhiều đối tượng khác nhau, nhưng có cùng một giá trị đại lượng để học sinh so sánh và nhận ra thuộc tính chung. Việc làm này cần tiến hành thường xuyên để uốn nắn cách nói, cách viết hàng ngày của học sinh. b.Phân biệt thời điểm và thời gian: Ví dụ: Có học sinh cho rằng: Thời gian em vào lớp là 7 giờ; thời gian tan trường là 10 giờ 30 phút. - Học sinh nói như vậy là không chính xác vì các em chưa phân biệt được thời điểm và thời gian. Vậy em cần nói đúng là: Em vào lớp lúc 7 giờ, em tan trường lúc 10 giờ 30 phút; thời điểm là lúc 7 giờ, lúc 10 giờ 30 phút; thời gian em học ở trường là 3 giờ 30 phút. - Biện pháp khắc phục: Để khắc phục những sai lầm trên, giáo viên cho học sinh hiểu rằng: thời gian là đại lượng vô hướng cộng lượng, còn thời điểm chỉ là đại lượng vô hướng. Vì vậy giáo viên phải biết gắn chuyển động với khoảng thời gian, gắn không gian với thời điểm. - Giáo viên cho học sinh nắm được cái mốc của mặt trời kết hợp với các đồ dùng dạy học như quả địa cầu, đồng hồ….. Từ đó học sinh sẽ hình thành được khái niệm khoảng thời gian trong một ngày. - Thời gian là đại lượng đo được, cộng được, so sánh được. Ví dụ: Một người đi xe đạp từ Bình Thuận đến Bình Đông hết 40 phút, vì mệt người đó nghỉ 10 phút rồi tiếp tục đi đến Bình Thới mất 60 phút. Hỏi thời gian người đó đi Bình Thuận đến Bình Thới hết bao nhiêu thời gian ( không tính thời gian nghỉ) Học sinh sẽ tính được thời gian người đó đi được từ Bình Thuận đến Bình Thới (không tính thời gian nghỉ) là: 40 + 60 -10 = 90 phút = 1,5 giờ. - Thời điểm là đại lượng vô hướng, so sánh được, nhưng không cộng được. ( chẳng hạn không thể cộng thứ Hai với thứ Ba để được thứ Năm). c.Phân biệt chu vi và diện tích: Ví dụ: Một hình vuông có cạnh dài 4 cm. Tính chu vi và diện tích hình vuông đó. . Học sinh giải như sau: Chu vi hình vuông: 4 x 4 = 16 Diện tích của hình vuông: 4 x 4 = 16 Học sinh kết luận hình vuông này có chu vi bằng diện tích (sai) -Nguyên nhân: Học sinh chưa nắm được chu vi là đại lượng độ dài, còn diện tích là đại lượng diện tích, hai đại lượng này không thể so sánh được với nhau. - Biện pháp khắc phục:
  14. + Giáo viên chỉ cho học sinh hiểu rõ chu vi là đại lượng độ dài, còn diện tích là đại lượng diện tích, hai đại lượng này không thể so sánh được với nhau. + Đối với ví dụ trên, giáo viên cần chỉ rõ: Để tính chu vi hình vuông ta lấy số đo một cạnh nhân với 4. Ta có phép tính: 4 x4 = 16 ( cm) Để tính diện tích hình vuông ta lấy số đo một cạnh nhân với chính nó. Ta có phép tính: 4 x 4 = 16 ( cm2) Từ đó ta khẳng định: “Không thể cho rằng hình vuông này có chu vi bằng diện tích”. 2.Sai lầm khi suy luận: Ví dụ: Trong giờ giải lao, học sinh đố với nhau: Hãy so sánh cần nặng 1 kg bông và 1 kg sắt. Rất nhieu học sinh cho rằng 1 kg sắt nặng hơn 1 kg bông vì cho rằng sắt nặng hơn bông. - Nguyên nhân: Học sinh chưa hiểu biết bản chất khái niệm đại lượng và phép đo đại lượng, sự nhận thức của các em còn nặng về cảm tính. - Biện pháp khắc phục: Giáo viên cho học sinh thực hành cân trực tiếp bằng cân đĩa. 3. Sai lầm khi đặt tính : Ví dụ: 2 ngày 8 giờ - 6 giờ 12 phút. Cách đặt phép tính như trên là sai vì các số đo ở mỗi cột dọc không cùng đơn vị. - Nguyên nhân là do học sinh không chú ý làm mẫu hoặc như nếu có cũng có thể không hiểu nghĩa của việc đặt tính đúng. - Biện pháp khắc phục: Giáo viên lưu ý học sinh: Phép cộng, phép trừ chỉ thực hiện được đối với hai đại lượng với số đo cùng đơn vị. ( giờ không thể cộng với giây) Đối với ví dụ trên cần thực hiện: 2 ngày 8 giờ 2 ngày 7 giờ 60 phút - - 6 giờ 12 phút 6 giờ 12 phút 2 ngày 1 giờ 48 phút III. KẾT LUẬN. Việc áp dụng một số biện pháp rèn luyện kỹ năng giải các dạng toán về phép đo đại lượng trong chương trình toán lớp 5, đối với lớp 5D – TrườngTiểu học Bình Thuận nói chung và một số em học yếu tuyến kiến thức này nói riêng tôi thấy rất hiệu quả và kết quả đạt được cụ thể như sau: - Trước hết đây là bảng thống kê chất lượng môn Toán qua lần khảo sát đầu năm: Sỹ số lớp: 31 học sinh.
  15. Số bài kiểm tra: 31 bài. Điểm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Số lượng 1 3 5 5 2 4 11 Trên TB: 27 Dưới TB: 4 Với sự giúp đỡ của lãnh đạo nhà trường, sự nổ lực cố gắng của mỗi học sinh sự rèn luyện, bồi dưỡng và khắc phục những sai lầm thường gặp đến nay nửa học kỳ I vừa qua kết quả của bài kiểm tra có nhiều tiến bộ, đạt kết quả sau đây. Điểm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Số lượng 2 2 2 7 18 Trên TB: 31 Dưới TB: 0 Bước đầu vận dụng giải pháp rèn luyện kỹ năng giải các dạng toán về đại lượng và đo đại lượng, tôi đã rút ra được nhiều bài học qua từng tiết dạy. Cho đến nay giờ học toán có nhiều chuyển biến, các em không còn nhầm lẫn, không còn trông chờ vào sự gợi mở của giáo viên mà luôn tạo cho mình thói quen chuẩn bị bài và độc lập suy nghĩ phát huy tích cực của mọi học sinh. - Với phương châm lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên đóng vai trò là người chỉ đạo, tổ chức hướng dẫn còn học sinh là người thực hiện triển khai công việc, tôi nghĩ trong giờ học toán, giáo viên nên tạo ra không khí vui tươi, thoải mái. Thông qua việc thực hiện giáo viên đã tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy của mình. + Nắm chắc quy trình dạy học đo đại lượng để giúp học sinh hiểu được bản chất của phép đo. Nắm chắc quy trình hình thành khái niệm đại lượng, phương pháp dạy học phép đo các đại lượng hình học ( đo độ dài, đo diện tích, đo thể tích) phép đo khối lượng, dung tích, phép đo thời gian. + Sử dụng triệt để những đồ dùng dạy học khi dạy toán để lôi cuốn, gây hứng thú cho học sinh đối với môn học khô khan này. + Luôn động viên, khuyến khích học sinh đào sâu suy nghĩ phát huy trí lực của học sinh. Tăng cường các hình thức dạy học(cá nhân, nhóm, tập thể, trò chơi học tập …) + Thường xuyên kiểm tra việc rèn luyện kỹ năng giải các dạng toán về đại lượng và phép đo đại lượng của học sinh để củng cố, khắc sâu cho các em kiến thức ở các giờ luyện tập, thi giải toán nhanh trong giờ sinh hoạt vui chơi. Trên đây là một số vấn đề tôi đã suy nghĩ, học hỏi và thể hiện trong quá trình giảng dạy ở môn Toán lớp 5 trường Tiểu học Bình Thuận huyện Bình Sơn. Hiện tại nội dung nghiên cứu này của bản thân tôn đã được đồng nghiệp tham khảo và nhiệt tình ủng hộ. Song do năng lực còn hạn chế, đề tài này là sự thể
  16. hiện lòng nhiệt tình trong giảng dạy của bản thân. Rất mong nhận được sự nhận xét góp ý chân thành của đồng nghiệp. Bình Thuận, ngày 25 tháng 10 năm 2010. Người viết Nguyễn Thị Kim Phượng

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản