intTypePromotion=1
ADSENSE

Bản tin Canh tranh & người tiêu dùng Số 40 - 2013

Chia sẻ: Lavie Lavie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:32

46
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bản tin Canh tranh & người tiêu dùng Số 40 - 2013 tập trung làm rõ về việc giải quyết tranh chấp theo cơ chế giải quyết tranh chấp WTO đối với những nước đang phát triển, các quy định của pháp luật Mỹ về quảng cáo và tiếp thị trên Internet.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bản tin Canh tranh & người tiêu dùng Số 40 - 2013

CẠNH TRANH<br /> & NGƯỜI TIÊU DÙNG<br /> BẢN TIN<br /> <br /> SỐ 40 - 2013<br /> <br /> Giải quyết tranh chấp<br /> theo cơ chế giải quyết tranh chấp WTO<br /> đối với những nước đang phát triển<br /> <br /> Nhìn lại hai năm<br /> thực thi Luật Bảo vệ<br /> quyền lợi người tiêu dùng<br /> Các quy định<br /> của pháp luật Mỹ<br /> về quảng cáo<br /> và tiếp thị<br /> trên Internet<br /> <br /> BỘ CÔNG THƯƠNG<br /> CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH<br /> <br /> BỘ CÔNG THƯƠNG<br /> CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH<br /> <br /> BỘ CÔNG THƯƠNG<br /> <br /> CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH<br /> <br /> Cục Quản lý cạnh tranh là cơ quan do Chính phủ thành lập trong hệ thống tổ chức của Bộ Công Thương<br /> có nhiệm vụ thực thi Luật Cạnh tranh, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Pháp lệnh Chống bán phá giá,<br /> Pháp lệnh Chống trợ cấp và Pháp lệnh tự vệ.<br /> <br /> Với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại Quyết định số 848/QĐ-BCT ngày 05 tháng 2 năm<br /> 2013, Cục Quản lý cạnh tranh hoạt động nhằm mục tiêu thúc đẩy và duy trì môi trường cạnh tranh hiệu quả cho<br /> các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và người<br /> tiêu dùng.<br /> <br /> Lãnh đạo Cục Quản lý cạnh tranh gồm một Cục trưởng do Thủ tướng bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ<br /> trưởng Bộ Công Thương, và một số Phó Cục trưởng do Bộ trưởng Bộ Công Thương bổ nhiệm.<br /> <br /> BẢN TIN<br /> CẠNH TRANH & NGƯỜI TIÊU DÙNG<br /> Của Cục Quản lý cạnh tranh<br /> <br /> Mục lục<br /> <br /> 04<br /> <br /> CHUYÊN MỤC<br /> <br /> Giấy phép xuất bản số 06/GP-XBBT<br /> Cấp ngày 15/01/2013<br /> <br /> 18<br /> <br /> TIN TỨC - SỰ KIỆN<br /> <br /> Phát hành vào ngày 20 hàng tháng<br /> <br /> NGƯỜI CHỊU TRÁCH NHIỆM XUẤT BẢN<br /> BẠCH VĂN MỪNG<br /> Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công Thương<br /> BAN BIÊN TẬP<br /> NGUYỄN PHƯƠNG NAM, LÊ PHÚ CƯỜNG,<br /> PHẠM CHÂU GIANG, PHẠM HƯƠNG GIANG,<br /> CAO XUÂN QUẢNG, HỒ TÙNG BÁCH,<br /> BÙI NGUYỄN ANH TUẤN, PHAN ĐỨC QUẾ,<br /> PHÙNG VĂN THÀNH<br /> HỘI ĐỒNG CỐ VẤN<br /> TRƯƠNG ĐÌNH TUYỂN<br /> Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại<br /> PGS. TS. LÊ DANH VĨNH<br /> Nguyên Thứ trưởng Bộ Công Thương<br /> ÔNG TRẦN QUỐC KHÁNH<br /> Thứ trưởng Bộ Công Thương<br /> GS. TS. HOÀNG ĐỨC THÂN<br /> Đại học Kinh tế Quốc dân<br /> PGS. TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT<br /> Viện Nhà nước và Pháp luật<br /> TS. BÙI NGUYÊN KHÁNH<br /> Viện Nhà nước và Pháp luật<br /> Tổ chức sản xuất và phát hành<br /> TRUNG TÂM THÔNG TIN CẠNH TRANH (CCID)<br /> 25 Ngô Quyền - Hà Nội<br /> ĐT: (04) 2220 5305 * Fax: (04) 2220 5303<br /> Email: cncbulletin@moit.gov.vn<br /> Đại diện tại TP. Hồ Chí Minh<br /> Tầng 6, số 8 Nam Kỳ Khởi Nghĩa - TP. HCM<br /> <br /> 26<br /> 25<br /> <br /> HỎI ĐÁP<br /> <br /> 27<br /> 30<br /> <br /> VĂN BẢN PHÁP LUẬT MỚI<br /> BAN HÀNH<br /> <br /> NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI<br /> <br /> HOẠT ĐỘNG TRONG KỲ TỚI<br /> <br /> Phát hành tại<br /> Công ty phát hành báo chí Trung ương<br /> <br /> Ban Biên tập Bản tin Cạnh tranh và Người tiêu dùng xin trân trọng cảm ơn và nghiêm túc tiếp thu ý kiến đóng góp của độc giả nhằm nâng cao chất<br /> lượng của Bản tin. Mọi ý kiến đóng góp, thư từ, tin, bài xin gửi về:<br /> Ban Biên tập Bản tin Cạnh tranh và Người tiêu dùng<br /> 25 Ngô Quyền - Hoàn Kiếm - Hà Nội<br /> ĐT: (04) 2220 5009 * Fax: (04) 2220 5303 * Email: cncbulletin@moit.gov.vn<br /> <br /> Phòng vệ thương mại<br /> <br /> GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THEO CƠ CHẾ<br /> GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP WTO ĐỐI VỚI<br /> NHỮNG NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN<br /> <br /> tranh chấp bắt buộc phải tuân thủ các cam<br /> kết của họ theo các hiệp định liên quan.5<br /> Các khuyến nghị và phán quyết của Cơ<br /> quan giải quyết tranh chấp mang tính<br /> bắt buộc thực thi đối với các bên trong<br /> vụ tranh chấp.<br /> Mục tiêu của WTO trong việc thiết<br /> lập cơ chế này là “để đạt được một giải<br /> pháp tích cực cho các tranh chấp giữa<br /> các quốc gia thành viên” (Điều 3.7 của<br /> DSU). Thông qua cơ chế này, các thành<br /> viên WTO có thể đảm bảo rằng các quyền<br /> của họ theo các Hiệp định WTO được<br /> thực thi. Điều này tạo điều kiện cho mỗi<br /> thành viên có thể khởi kiện chống lại<br /> bất kỳ thành viên nào khác vi phạm các<br /> chính sách thương mại nhằm bắt buộc các<br /> thành viên đó phải tuân thủ những nghĩa<br /> vụ của mình theo các cam kết trong các<br /> hiệp định WTO. Theo cơ chế này, các<br /> thủ tục giải quyết tranh chấp sẽ bắt đầu<br /> bằng một cuộc tham vấn song phương<br /> và nếu tham vấn không thành công, các<br /> thành viên khiếu nại có thể yêu cầu DSB<br /> thành lập Ban Hội thẩm. Nếu các thành<br /> <br /> viên WTO có quan tâm đến tranh chấp,<br /> họ có thể tham gia như các bên thứ ba.<br /> Tính đến tháng 6 năm 2013, đã có tổng<br /> cộng 462 tranh chấp được giải quyết<br /> theo cơ chế giải quyết tranh chấp DSU<br /> của WTO, trong đó có đến 236 vụ tranh<br /> chấp liên quan đến chống bán phá giá,<br /> chống trợ cấp và thuế đối kháng, và các<br /> biện pháp tự vệ.<br /> Sự tham gia của các nước đang<br /> phát triển vào hệ thống giải quyết tranh<br /> chấp WTO<br /> Đến tháng 6 năm 2013, WTO đã<br /> có 159 thành viên, trong đó tỷ lệ của<br /> các thành viên đang phát triển lớn hơn<br /> tỷ lệ các thành viên phát triển, chiếm<br /> khoảng hai phần ba tổng số thành viên<br /> WTO. Tuy nhiên, sự tham gia của các<br /> thành viên đang phát triển vào hệ thống<br /> giải quyết tranh chấp của WTO vẫn còn<br /> thấp hơn nhiều so các nước phát triển.<br /> Chỉ có một số nước như Trung Quốc, Ấn<br /> Độ, Indonesia, Brazil, Argentina, Thái<br /> Lan tích cực trong việc tham gia các<br /> cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.<br /> Việt Nam cũng tham gia vào hệ thống<br /> giải quyết tranh chấp này với tư cách là<br /> nguyên đơn chống lại Hoa Kỳ trong hai<br /> vụ, DS404 và DS429, liên quan đến sản<br /> phẩm tôm nước ấm đông lạnh xuất xứ<br /> từ Việt Nam. Các nước đang phát triển<br /> ở châu Phi ít tham gia vào hệ thống giải<br /> quyết tranh chấp này do sự giao thương<br /> của các nước này với các thành viên khác<br /> của WTO thấp nên tranh chấp ít xảy ra.<br /> Về sự tham gia trong hệ thống giải quyết<br /> tranh chấp của WTO của các nước đang<br /> phát triển, George A.Bermnann và Peros<br /> C.Mavroidis cho rằng:6<br /> Một hệ thống giải quyết tranh chấp<br /> mà ở đó các nước đang phát triển được<br /> tiếp cận hoàn toàn, cho phép các quốc<br /> gia này không chỉ đơn thuần khẳng định<br /> quyền của mình theo các hiệp định của<br /> WTO mà còn giúp họ thực hiện các nghĩa<br /> vụ của mình theo các hiệp định đó với<br /> lòng tin rằng họ có thể bảo vệ một cách<br /> đầy đủ các lợi ích của mình trong bất kỳ<br /> tranh chấp nào liên quan đến sự tuân thủ<br /> những nghĩa vụ đó. Do đó, sự hiểu biết<br /> về hệ thống giải quyết tranh chấp và sự<br /> tham gia của các nước đang phát triển<br /> vào hệ thống này là sự đóng góp quan<br /> trọng đối với khả năng tổng thể của họ<br /> trong việc hưởng các lợi ích từ các quyền<br /> và nghĩa vụ của mình theo các Hiệp định<br /> của WTO.<br /> <br /> 5 Guohua Yang WTO Dispute Settlement<br /> Understanding: A detailed Interpretation<br /> Bryan. Mercurio, Yongjie Li (ed) (Kluwer Law<br /> International, 2005), trang 16.<br /> <br /> 6 George Bermann and PetrosC.Mavroidis<br /> Developing Countries in the WTO System<br /> (Cambridge University Press, 2007),trang 215.<br /> <br /> Nhằm đạt được một giải pháp tích cực cho các bên trong việc giải quyết<br /> các tranh chấp phát sinh từ việc áp dụng các Hiệp định của Tổ chức Thương<br /> mại thế giới (WTO), WTO cung cấp một cơ chế giải quyết tranh chấp cho<br /> các thành viên của mình thông qua Hiệp định về các Qui tắc và Thủ tục giải<br /> quyết tranh chấp (DSU). Cơ chế giải quyết tranh chấp này được cho là hiệu<br /> quả hơn so với cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT1947 vì đã đưa ra<br /> được một cơ chế thực thi tốt hơn và được xem như cơ chế giải quyết tranh<br /> chấp phát triển nhất trong bất kỳ hệ thống luật hiện hành nào. Thực tế cho<br /> thấy các nước phát triển có lợi thế hơn và vận dụng tốt hơn cơ chế giải quyết<br /> tranh chấp này so với các nước đang phát triển. Để tham gia một cách có<br /> hiệu quả trong hệ thống này, các thành viên đang phát triển phải đối mặt<br /> với những thách thức nhất định. Bài viết này đề cập đến những khó khăn và<br /> thách thức mà các nước thành viên đang phát triển thường gặp phải trong<br /> việc giải quyết các tranh chấp theo DSU. Các khó khăn và thách thức này<br /> bao gồm (i) hạn chế về nguồn lực pháp luật, (ii) hạn chế về mặt tài chính, (iii)<br /> vấn đề thực thi các phán quyết và khuyến nghị của Cơ quan giải quyết tranh<br /> chấp (DSB), (iv)vấn đề trả đũa và bị trả đũa lại, và (v)hiệu quả của các điều<br /> khoản về đối xử ưu đãi đặc biệt cho các nước đang phát triển trong DSU và<br /> trong các hiệp định WTO có liên quan. Cuối cùng, bài viết cũng đưa ra một<br /> số đề xuất về hướng giải quyết những khó khăn thách thức đó, nhằm đạt<br /> được kết quả khả quan hơn cho các nước đang phát triển trong việc tham<br /> gia vào hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO.<br /> <br /> C<br /> <br /> ơ chế giải quyết tranh chấp của<br /> WTO hiện nay được xem như cơ<br /> chế giải quyết tranh chấp hiệu quả<br /> nhất trong hệ thống luật pháp quốc tế.1 Cơ<br /> chế này không chỉ đóng vai trò như một<br /> cơ quan tư pháp mà còn như là một cơ<br /> chế phòng ngừa tranh chấp, giúp làm cân<br /> bằng giữa các quyền và nghĩa vụ của các<br /> thành viên WTO. Nó thực hiện ba chức<br /> năng chính: (i) đảm bảo hệ thống thương<br /> mại đa phương hoạt động một cách an<br /> toàn và dễ dự đoán bằng cách củng cố và<br /> tăng cường tính bắt buộc phải thi hành<br /> các quy định của pháp luật (rule of law);2<br /> đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của các<br /> thành viên WTO;3 và làm rõ quyền và<br /> nghĩa vụ này thông qua việc giải thích<br /> Hiệp định WTO phù hợp với các qui tắc<br /> có tính tập quán về giải thích công pháp<br /> quốc tế.4 Với các chức năng này, các bên<br /> 1 David Palmeter “The WTO as a Legal<br /> System” (2000) Fordham Internal Law Journal,Vol.<br /> 24 (1&2), trang 10.<br /> 2 A Handbook on the WTO Dispute<br /> Settlement System: A WTO Secretariat Publication<br /> prepared for publication by the Legal Affairs<br /> Division and the Appellate Body (Cambridge<br /> University Press, 2004), trang 2.<br /> 3 Điều 3.2 DSU<br /> 4 Điều 3.2 DSU<br /> <br /> 4<br /> <br /> C ạnh tr anh & Người tiêu dùng | Số. 40 - 2013<br /> <br /> V C A<br /> <br /> Phòng vệ thương mại<br /> Tranh chấp từ các nước đang phát triển chiếm khoảng 25% tổng số các vụ tranh<br /> chấp được khởi xướng mỗi năm theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Tính<br /> đến tháng 5 năm 2013, các nước đang phát triển đã đưa 195 tranh chấp trong tổng<br /> số 462 vụ ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO. Đặc biệt, trong năm 2010,<br /> phần lớn các vụ khởi xướng được đưa ra bởi các nước đang phát triển. Họ tham gia<br /> vào hệ thống không chỉ với tư cách nguyên đơn hoặc bị đơn mà còn với tư cách bên<br /> thứ ba. Trong số các nước đang phát triển, Trung Quốc, Ấn Độ, Argentina, Brazil<br /> và Thái Lan là những thành viên đang phát triển tham gia tích cực nhất. Trong đó<br /> Trung Quốc là quốc gia dẫn đầu trong việc tham gia vào hệ thống giải quyết tranh<br /> chấp này. Trong những năm gần đây Trung Quốc đã đi theo “chủ nghĩa pháp luật<br /> hiếu chiến”(‘aggressive legalism’), bằng cách sử dụng việc giải quyết tranh chấp đa<br /> phương vừa như một “lá chắn” (‘shield’) để kháng kiện vừa như một “thanh gươm”<br /> (‘sword’) để khởi kiện nhằm bảo vệ và phát triển các lợi ích thương mại của mình.7<br /> Bảng 1: So sánh sự tham gia vào hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO giữa<br /> các nước đang phát triển và các nước đang phát triển từ năm 1995 đến tháng 6<br /> năm 2013<br /> Đơn vị tính: Vụ<br /> <br /> Nguồn: WTO8<br /> Bảng 2: Sự tham gia của một số các nước đang phát triển tiêu biểu trong hệ<br /> thống giải quyết tranh chấp của WTO từ năm 1995 đến tháng 6 năm 20139<br /> Đơn vị tính: Vụ<br /> <br />  <br /> <br /> Nguồn: WTO9<br /> Khó khăn và thách thức mà nước đang phát triển thường phải đối mặt trong<br /> quá trình giải quyết tranh theo cơ chế giải quyết tranh chấp WTO<br /> Các nước đang phát triển gần đây đã chủ động hơn trong việc tham gia vào hệ<br /> thống giải quyết tranh chấp của WTO. Tuy nhiên, có ý kiến chuyên gia cho rằng, các<br /> 7 Bryan Mercurio and MitaliTyagi “China’s Evolving Role in WTO Dispute Settlement: Acceptance,<br /> Consolidation and Activation” (2012), trang 91.<br /> 8 WTO Dispute Settlement: The Disputes, Disputes by country/territory.<br /> 9 WTO Dispute Settlement: The Disputes, Disputes by country/territory.<br /> <br /> V C A<br /> <br /> nước đang phát triển đã lãng phí thời gian<br /> và tiền bạc khi sử dụng cơ chế giải quyết<br /> tranh chấp của WTO để chống lại các<br /> nước có ngành công nghiệp phát triển.10<br /> Trên thực tế, để tham gia vào hệ<br /> thống giải quyết tranh chấp này, các nước<br /> đang phát triển gặp phải một số thách<br /> thức sau:<br /> Thiếu các chuyên gia chuyên ngành<br /> về luật WTO và thủ tục giải quyết tranh<br /> chấp của DSU<br /> Các thành viên đang phát triển được<br /> cho là bị hạn chế về nguồn thông tin,<br /> nguồn lực pháp luật và công tác tổ chức<br /> hành pháp.11 Trong việc giải quyết tranh<br /> chấp theo cơ chế giải quyết tranh chấp<br /> của WTO, năng lực về mặt pháp luật của<br /> các bên được coi là một yếu tố quan trọng<br /> mang tính tiên đoán trong việc xác định<br /> bên nào sẽ giành thắng lợi trong tranh<br /> chấp. Nhiều nước đang phát triển thiếu<br /> các chuyên gia pháp lý và/hoặc các luật sư<br /> am hiểu lĩnh vực pháp luật WTO, không<br /> chỉ thiếu trong các cơ quan thuộc chính<br /> phủ mà còn trong các đoàn luật sư hay<br /> công ty luật tư nhân.<br /> Đáng chú ý, hầu hết các nước đang<br /> phát triển có rất ít hoặc không có luật sư<br /> để giải quyết các vấn đề liên quan đến<br /> WTO, rất ít hoặc không có luật sư trong<br /> công ty luật tư nhân có kinh nghiệm về<br /> luật WTO, và ít hoặc không có các công<br /> ty hoặc các hiệp hội thương mại có liên<br /> lạc thường xuyên với các cơ quan chính<br /> phủ về các vấn đề thương mại trong nước<br /> và quốc tế.12 Luật WTO chỉ đơn thuần<br /> được giới thiệu thông qua các cuộc hội<br /> thảo, hội nghị, hay khóa học ngắn hạn<br /> nhưng không được giảng dạy một cách<br /> hoàn chỉnh ở nhiều nước đang phát triển.<br /> Vì vậy, nhiều nước đang phát triển thiếu<br /> các chuyên gia pháp lý về WTO để giải<br /> quyết tranh chấp liên quan đến các hiệp<br /> định của WTO. Do đó, họ buộc phải trả<br /> một khoản lệ phí rất đắt cho các công ty<br /> luật quốc tế nhiều khi chỉ để thực hiện<br /> sự phòng vệ hay phản kháng trong một<br /> vụ tranh chấp.13<br /> 10 Robert E. Hudec “The Adequacy<br /> of WTO Dispute Settlement Remedies: A<br /> Developing Country Perspective” in Bernard<br /> Hoekman, AadityaMattoo, and Philip English (ed)<br /> Development, Trade and the WTO: A Handbook<br /> (World Bank, 2002), trang81.<br /> 11 Ge orge Be r m a n n a nd Pet rosC.<br /> MavroidisDeveloping Countries in the WTO<br /> System (Cambridge University Press, 2007),trang<br /> 221.<br /> 12 Gregory Shaffer “How to Make the WTO<br /> Dispute Settlement System Work for Developing<br /> Countries”(2003)ICTSD Resource Paper, trang 27.<br /> 13 Alejandro Sánchez – Arriaga “Dispute<br /> Settlement Understanding of the WTO: Implication<br /> <br /> C ạnh tr anh & Người tiêu dùng | Số. 40 - 2013<br /> <br /> 5<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2