Chuyên đề kinh tế “Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập”

Chia sẻ: Lê Thị Kim Cương Kim Cương | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:26

3
1.562
lượt xem
648
download

Chuyên đề kinh tế “Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập”

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sang thế kỷ XXI, thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ,cơ cấu kinh tế quốc dân chuyển dịch nhanh theo hướng tích cực nhưng tốc độ vẫn còn chậm. Năm 2000 - 2005, GDP bình quân mỗi năm đạt 7,5%.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chuyên đề kinh tế “Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập”

  1. BÁO CÁO TỐT NGHIỆP Chuyên đề kinh tế “Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập”
  2. MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 3 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: ......................................................................................... 3 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:................................................................................... 3 2.1 Mục tiêu chung:..................................................................................................... 3 3.1 Phương pháp thu thập số liệu:.............................................................................. 4 3.2 Phương pháp phân tích số liệu: ............................................................................ 4 4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU ...................................................................................... 4 4.2 Phạm vi về thời gian: từ năm 2007 đến năm 2009.................................................. 4 PHẦN NỘI DUNG ...................................................................................................... 5 1.1 Lí luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ....................................................... 5 1.2 Bối cảnh kinh tế quốc tế ........................................................................................ 6 1.2.1 Sự hình thành nền kinh tế tri thức trên cơ sở phát triển công nghệ kĩ thuật hiện đại ........................................................................................................................ 6 1.2.2 Đặc điểm mới của toàn cầu hóa kinh tế............................................................. 7 1.3 Bối cảnh kinh tế trong nước ................................................................................. 8 CHƯƠNG 2 ................................................................................................................. 9 2.1 Thực trạng cơ cấu kinh tế tại Việt Nam ............................................................. 10 Bảng 1 : Cơ cấu GDP theo ngành từ 1995-2004 ...................................................... 10 Đơn vị tính:% ............................................................................................................. 10 Bảng 2: Tỷ lệ đóng góp của từng ngành vào tốc độ tăng GDP(%) ......................... 11 Bảng 3: Tốc độ tăng trưởng GDP và các ngành kinh tế thời kỳ 2007-2009............ 12 Đơn vị tính: % ............................................................................................................ 12 Hình 1: Cơ cấu GDP Việt Nam phân theo nhóm ngành thời kỳ 1991-2008 ........... 12 Nguồn: Tổng cục thống kê .......................................................................................... 12 Hình 2:Biểu đồ tỷ trọng ngành trong cơ cấu GDP giai đoạn 2003-2008 ................. 13 2.2 Thực trạng đầu tư vào các ngành kinh tế .......................................................... 13 Hình 3: Biểu đồ đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn 2000-2008.......................... 14 Hình 4: Cơ cấu FDI năm 2007 .................................................................................. 15 Hình 5: Tăng trưởng GDP và tỷ lệ đầu tư/GDP giai đoạn 1997 – Q1/2009 ............ 16 Hình 4: Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội theo giá thực tế giai đoạn 2000-2008......... 16 2.3 Đánh giá những tác động .................................................................................... 17 2.4 Những hạn chế chủ yếu của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế........ 18 2.5 Thời cơ, thách thức đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam trong thời gian tới ............................................................................................ 18 2.5.1 Thời cơ ( thuận lợi)........................................................................................... 19 2.5.2 Thách thức ( khó khăn) .................................................................................... 20 CHƯƠNG 3 ............................................................................................................... 21 3.1 Quan điểm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ............................................... 22 3.1.1 Quan điểm cơ bản về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ................................ 22 Bảng 3: Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (% GDP) ................................ 22 3.2 Các giải pháp khắc phục khó khăn trong qúa trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ........................................................................................................................ 24 PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ....................................................................... 26
  3. PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhận thấy rằng đường lối, chiến lược phát triển kinh tế là yếu tố đầu tiên quyết định sự thành bại trong quá trình phát triển kinh tế của một đất nước. Trong đó, việc xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý là một trong những vấn đề hết sức quan trọng. Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, từ năm 1986 đến nay, rõ nhất là từ năm 1990 cơ cấu kinh tế nước ta đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực phù hợp với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn. Những chuyển biến đó đã góp phần tạo đà cho nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định. Tuy nhiên, những tiến bộ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế đó cũng mới chỉ là bước đầu và nhìn chung sự chuyển dịch cơ cấu còn chậm. Cho đến nay, nước ta vẫn là nước nông nghiệp, dân cư sống ở nông thôn và lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Để đạt được mục tiêu đến năm 2020: "Đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế ngành hợp lý với tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm dưới 10%, công nghiệp 35 - 40%, dịch vụ chiếm 50 - 60% trong tổng GDP" mà Đại hội VIII đã đề ra thì còn nhiều vấn đề phải được tiếp tục nghiên cứu và có giải pháp sát thực. Nhận thức được tầm quan trọng đó, em đã chọn đề tài “Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập” nhằm nghiên cứu tình hình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta trong thời gian qua và những giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành trong thời gian tới. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 2.1 Mục tiêu chung: Tìm hiểu thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam, từ đó đề ra những giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. 2.2 Mục tiêu cụ thể: - Đánh giá tình hình chuyển dịch cơ cấu ngành trong thời gian qua - Phân tích những nhân tố thuận lợi và bất lợi ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành
  4. - Những giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 3.1 Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập số liệu thứ cấp qua niên giám thống kê, tổng cục thống kê, các báo cáo, tìm hiểu thông tin trên sách, báo, tạp chí, truyền thông, mạng Internet. 3.2 Phương pháp phân tích số liệu: - Sử dụng phương pháp thống kê mô tả hiệu quả chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế - So sánh, phân tích, tổng hợp - Từ mô tả và phân tích trên, sử dụng các phương pháp suy luận, quy nạp để đưa ra các biện pháp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành. 4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4.1 Phạm vi về không gian: cả nước Việt Nam 4.2 Phạm vi về thời gian: từ năm 2007 đến năm 2009 4.3 Phạm vi về đối tượng nghiên cứu: Tốc độ tăng trưởng của các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ.
  5. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Lí luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Cơ cấu kinh tế là tập hợp các bộ phận hợp thành tổng thể nền kinh tế và mối tương quan tỷ lệ giữa các bộ phận hợp thành so với tổng thể. Cơ cấu kinh tế theo ngành: là cơ cấu kinh tế trong đó mỗi bộ phận hợp thành là một ngành hay một nhóm ngành kinh tế. Cơ cấu ngành kinh tế phản ánh phần nào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội của một quốc gia. Nếu đứng trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế để xem xét thì cơ cấu kinh tế ngành bao gồm ba nhóm ngành chính: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, còn trong phạm vi từng nhóm ngành có thể phân chia thành các ngành chuyên môn hóa ở những mức độ khác nhau. Cụ thể, nhóm ngành nông nghiệp có thể phân chia thành các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; nhóm ngành công nghiệp chia thành các ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến, công nghiệp sửa chữa xây dựng; nhóm ngành dịch vụ có thể chia thành các ngành thương mại, bưu chính viễn thông, giao thông vận tải, du lịch, tài chính, ngân hàng. Cơ cấu kinh tế theo ngành là tiêu chuẩn cơ bản phản ánh trình độ phát triển kinh tế cơ bản của một quốc gia. Vì vậy, trong quá trình phát triển các nước đang phát triển đặc biệt quan tâm đến xây dựng chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, coi đó là điều kiện tiền đề, cơ bản để tăng trưởng và phát triển kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với môi trường và điều kiện phát triển của nền kinh tế. Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mỗi quốc gia, hay mỗi một ngành kinh tế, hay mỗi vùng, địa phương có thể đưa vào cơ cấu kinh tế những ngành mới (sản phẩm, dịch vụ mới) hay có thể loại ra khỏi cơ cấu kinh tế những ngành (những sản phẩm) không còn phù hợp, hoặc có thể chuyển dịch theo hướng tăng hay giảm tỷ trọng của một ngành một (sản phẩm) nào đó. Đó là quá trình chuyển từ cơ cấu kinh tế lạc hậu, bất hợp lý sang cơ cấu kinh tế hợp lý; hoàn thện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành
  6. cơ cấu kinh tế mới hiện đại và phù hợp hơn. Sự thay đổi như vậy không đơn giản chỉ là sự thay đổi số lượng các ngành và tỷ trọng của mỗi ngành, mà còn bao gồm sự thay đội vị trí, tính chất mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành. Nội dung của cơ cấu kinh tế ngành được thể hiện là: -Đó là số lượng các ngành được hình thành. Số lượng này luôn luôn phát triển theo phân công lao động xã hội -Mối quan hệ về số lượng thể hiện ở tỷ trọng của mỗi ngành trong tổng thể. -Mối quan hệ về chất lượng phản ánh vị trí, tầm quan trọng từng ngành, các mối liên kết kinh tế - kỹ thuật, kinh tế xã hội và tính chất tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng. Nói chung, mối quan hệ của các ngành cả về số lượng và chất lượng đều thường xuyên biến đổi và ngày càng trở nên phức tạp hơn theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội trong nước và quốc tế. Chỉ tiêu kinh tế làm cơ sở để biểu hiện cơ cấu là GDP (tổng sản phẩm nội địa) 1.2 Bối cảnh kinh tế quốc tế 1.2.1 Sự hình thành nền kinh tế tri thức trên cơ sở phát triển công nghệ kĩ thuật hiện đại Sự phát triển có tính bùng nổ của lực lượng sản xuất những năm gần đây dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã làm biến đổi sâu sắc nền kinh tế thế giới, tạo ra một bước ngoặt mới trong lịch sử phát triển của loài người, hình thành nền kinh tế tri thức. Tri thức đã trở thành một dạng cơ bản của tư bản, tăng trưởng kinh tế được dẫn dắt bởi tích tụ tri thức. Ngày nay các nền kinh tế tiên tiến nhất về công nghệ đã hoàn toàn dựa trên tri thức. Nền kinh tế tri thức đã thực sự trở thành mục tiêu then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhiều quốc gia và cũng đang trở thành tiêu điểm quan tâm của quảng đại quần chúng. Kinh tế tri thức lấy công nghệ kĩ thuật cao làm lực lượng sản xuất thứ nhất, lấy trí lực ( năng lực trí tuệ) làm chỗ dựa chủ yếu. Công nghệ kĩ thuật cao cần tri thức, trí lực, nếu không có nhiều thông tin, tri thức, trí lực thì nó không phải là kĩ thuật cao. Tư tưởng chỉ đạo của phát minh kĩ thuật cao là lợi dụng nguồn tài nguyên hiện có một cách khoa học, hợp lý, tổng
  7. hợp và hiệu xuất cao. Đồng thời khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên chưa được khai thác để thay thế cho nguồn tài nguyên thiên nhiên khan hiếm đã gần cạn kiệt. Kinh tế tri thức là kinh tế thúc đẩy điều hòa giữa con người và thiên nhiên nên phát triển bền vững. Ngày nay ngoài các ngành truyền thống, trong nền kinh tế thế giới đang hình thành và phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp mới mà nguyên liệu đầu vào chủ yếu là thông tin và tri thức, với tốc độ tăng trưởng cao gấp nhiều lần so với phát triển kinh tế nói chung. Đã xuất hiện hiện tượng thần kỳ về phát triển kinh tế chưa từng thấy trong lịch sử, vượt xa sự phỏng đoán của hầu hết các chuyên gia tầm cỡ thế giới cũng như sức tưởng tượng và hình dung của con người dựa vào những kinh nghiệm trong quá khứ. Nền kinh tế thế giới đang chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, nền văn minh loài người chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ. Một nước có thể được gọi là nền kinh tế tri thức khi : - Có hơn 70% GDP đóng góp do ngành kinh tế tri thức - Cơ cấu giá trị gia tăng có trên 70% giá trị do lao động trí óc mang lại. - Cơ cấu lao động có hơn 70% là công nhân trí thức - Cơ cấu tư bản trên 70% là tư bản con người. 1.2.2 Đặc điểm mới của toàn cầu hóa kinh tế Ngày nay, toàn cầu hóa kinh tế là đặc trưng và xu hướng phát triển phổ biến của nền kinh tế thế giới, bất luận đó là nền kinh tế có quy mô và trình độ phát triển ra sao và thuộc chế độ chính trị - xã hội thế nào. Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh, vừa tạo ra những cơ hội cho sự phát triển nhưng cũng vừa có những thách thức đối với các quốc gia, nhất là các quốc gia đang ở trình độ kém phát triển Tác động tích cực của toàn cầu hóa: - Thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất - Mở rộng và phát triển thị trường ra khu vực và toàn cầu
  8. - Bổ sung và phân bổ lại nguồn lực - Thúc đẩy cải cách kinh tế và hợp tác phát triển - Tiền đề cho sự phát triển bền vững - Nâng cao đời sống nhân dân thông qua tăng trưởng kinh tế và tiếp cận của người dân với các sản phẩm và dịch vụ cao cấp quốc tế, cơ hội học tập và du lịch nước ngoài. Tác động tiêu cực của toàn cầu hóa: - Chịu hiệu ứng “lây lan” của những bất ổn khu vực và toàn cầu. - Làm trầm trọng thêm khoảng cách giàu nghèo trong một xã hội, giữa các nước và các khu vực. Như vậy, có thể nói rằng, toàn cầu hoá đang đặt ra hàng loạt những thách thức hết sức khó khăn cho tất cả các nước. Đó chính là những vấn đề toàn cầu mà nhân loại đang và sẽ phải đối mặt. Nhận thức cho được các vấn đề này và tìm ra đối sách để giải quyết chúng là nhiệm vụ không dễ dàng, nhưng đó lại là việc không thể không làm một cách tích cực, từng bước và làm một cách khoa học. Có vượt qua được những thách thức đó, chúng ta mới có cơ hội phát triển nhanh hơn trong tương lai. Vì vậy, "nắm bắt cơ hội: vượt qua thách thức, phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ mới, đó là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và nhân dân ta”. Rõ ràng bối cảnh quốc tế tạo cho chúng ta nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hội nhập quốc tế là phải vượt qua các thách thức đó, tranh thủ được các cơ hội để tạo lập một cơ cấu kinh tế mới phù hợp, tiến bộ và hiệu quả hơn. 1.3 Bối cảnh kinh tế trong nước Quá trình đổi mới hơn 20 năm qua, nhất là từ năm 1991, thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế khu vực, quốc tế, thế và lực phát triển của nền kinh tế Việt Nam đã có sự thay đổi lớn. Kinh tế tăng trưởng nhanh và tương đối ổn định, GDP năm sau cao hơn năm trước, tiềm lực kinh tế đã lớn mạnh hơn. Cơ cấu ngành nói riêng và cơ cấu
  9. kinh tế nói chung đã có bước chuyển dịch đáng kể theo hướng công nghiệp hóa và từng bước hiện đại hóa. Vừa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, vừa tiếp tục hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới, quan hệ kinh tế đối ngoại được tiếp tục củng cố và mở rộng. Khung khổ pháp lý cho hoạt động của các loại thị trường đã dần được bổ sung và hoàn thiện. Cơ chế quản lý mới hệ thống doanh nghiệp nhà nước đã được xác định; tổ chức triển khai sâu rộng Luật doanh nghiệp; sửa đổi bổ sung Luật thuế, Luật đất đai; thị trường hàng hóa sôi động và phát triển nhanh; thị trường lao động có bước phát triển, hệ thống thị trường tài chính tiền tệ đã phát triển và đạt được kết quả khả quan. Các yếu tố ngoại lực (vốn, kỹ thuật – công nghệ, tri thức, thị trường) đã trở thành lực lượng quan trọng và được kết hợp với yếu tố nội lực đã tạo thành sức mạnh tổng hợp thúc đẫy nền kinh tế phát triển. Những động lực phát triển mới đã xuất hiện: cạnh tranh theo nguyên tắc thị trường, các nhu cầu được mở rộng làm mở rộng các cơ hội phát triển, do đó, đã tạo nhiều khả năng lựa chọn các cơ hội phát triển cho xã hội Tóm lại, bước vào thời kỳ phát triển mới, nền kinh tế nước ta đã có sự thay đổi về thế và lực: cấu trúc kinh tế mới, tiềm lực mới, thế path triển mới, động lực mới và lực lượng chủ thể mới. CHƯƠNG 2 CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
  10. 2.1 Thực trạng cơ cấu kinh tế tại Việt Nam Sang thế kỷ XXI, thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ,cơ cấu kinh tế quốc dân chuyển dịch nhanh theo hướng tích cực nhưng tốc độ vẫn còn chậm. Năm 2000 - 2005, GDP bình quân mỗi năm đạt 7,5%. Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%, GDP theo giá hiện hành, đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người đạt trên 10 triệu đồng, tương đương với 640 USD. Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu 50 vạn - 1 triệu tấn lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Năm 2005, nước ta đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, thứ 2 về cà phê, thứ 4 về cao su, thứ 2 về hạt điều, thứ nhất về hạt tiêu. Về cơ cấu ngành, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần, năm 1988 là 46,3%, năm 2005 còn 20,9%. Trong nội bộ ngành nông nghiệp cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng các sản phẩm có năng suất và hiệu quả kinh tế cao, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu. Trong kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,5%/năm, giá trị tăng thêm bằng khoảng 3,89%/năm. Sản phẩm công nghiệp xuất khẩu ngày càng tăng, có chỗ đứng trong những thị trường lớn, giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng tăng 15,9%/năm, giá trị tăng thêm đạt 10,2%/năm. Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP đã tăng từ 33,1% năm 1988 lên 38,1% năm 2005. Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống. Bảng 1 : Cơ cấu GDP theo ngành từ 1995-2004 Đơn vị tính:%
  11. 1995 2000 2003 2004 Nông lâm thuỷ 27,18 24,53 22,54 21,76 sản Công nghiệp, xây 28,76 36,73 39,47 40,09 dựng Dịch vụ 44,06 38,74 37,99 38,165 Nguồn: tổng cục thống kê Bảng 2: Tỷ lệ đóng góp của từng ngành vào tốc độ tăng GDP(%) 2000 2001 2002 2003 2004 Nông, lâm nghiệp, thuỷ 1,10 0,69 0,91 0,72 0,80 sản Công nghiệp và xây 3,46 3,68 3,45 3,86 3,90 dựng Dịch vụ 2,23 2,52 2,68 2,68 3,00 Tổng GDP 6,79 6,89 7,04 7,26 7,60 Nguồn: Tổng cục thống kê Kết thúc kế hoạch 5 năm 2000-2005, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân theo GDP về cơ bản vẫn như những năm trước đó. Tỷ trọng nông nghiệp (nghĩa rộng) chiếm 22, l1%, công nghiệp và xây dựng chiếm 39,79% và dịch vụ chiếm 38, 10% GDP. Như vậy, mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế chỉ có 2 chỉ tiêu đạt được là nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng theo nghĩa rộng, còn dịch vụ không đạt được. Từ năm 2007 trở lại đây, chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu làm cho tình hình kinh tế thế giới và trong nước có nhiều biến động phức tạp, khó lường, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức, tuy nhiên cơ cấu kinh tế ngành và nội bộ ngành đã chuyển dịch tích cực. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 6,23% so với năm 2007, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,79%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,33%; khu vực dịch vụ tăng
  12. 7,2%. Năm 2009, GDP tăng 5,32%, bao gồm: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,83%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,52%; khu vực dịch vụ tăng 6,63%. Bảng 3: Tốc độ tăng trưởng GDP và các ngành kinh tế thời kỳ 2007-2009 Đơn vị tính: % 2007 2008 2009 Nông nghiệp 3,40 3,79 1,83 Công nghiệp 10,60 6,33 5,52 Dịch vụ 8,69 7,20 6,63 Tổng 8,48 6,23 5,32 Nguồn: Tổng cục thống kê Hình 1: Cơ cấu GDP Việt Nam phân theo nhóm ngành thời kỳ 1991-2008 Nguồn: Tổng cục thống kê + Cùng với sự thay đổi mạnh mẽ tỷ trọng, giá trị sản lượng của các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ cũng thay đổi mạnh,cụ thể mức tăng của khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2008 cao hơn mức tăng năm 2007 và 2006, chủ yếu do sản xuất nông nghiệp được mùa, sản lượng lúa cả năm tăng 2,7 triệu tấn so với năm 2007 và là mức tăng cao nhất trong vòng 11 năm trở lại đây. Tăng trưởng khu vực công nghiệp và xây dựng năm 2008 đạt mức thấp hơn mức tăng của năm 2007, chủ yếu do sản xuất của ngành công nghiệp khai thác giảm nhiều so với năm trước (giá trị tăng thêm giảm 3,8%); công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng 63,5% trong tổng giá trị tăng thêm công nghiệp nhưng giá trị tăng
  13. thêm chỉ tăng 10%, thấp hơn mức tăng 12,8% của năm 2007; đặc biệt giá trị tăng thêm của ngành xây dựng năm nay không tăng, trong khi năm 2007 ngành này tăng ở mức 12%. Hoạt động của khu vực dịch vụ tuy ổn định hơn so với khu vực công nghiệp và xây dựng nhưng giá trị tăng thêm vẫn tăng thấp hơn mức tăng 8,7% của năm trước. + GDP tính theo giá thực tế năm 2008 tăng cao; với mức tăng trưởng và tăng giá khác nhau ở ba khu vực nên cơ cấu kinh tế năm 2008 tăng ở khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản và giảm ở khu vực công nghiệp, xây dựng. Tuy nhiên, xu hướng này chỉ là tạm thời trong bối cảnh đặc biệt của năm 2008 với sự tăng chậm lại của khu vực công nghiệp, xây dựng và giá nông lâm thuỷ sản tăng cao. Tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 21,99% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 39,91%; khu vực dịch vụ chiếm 38,1%. Hình 2:Biểu đồ tỷ trọng ngành trong cơ cấu GDP giai đoạn 2003-2008 Nhìn chung, từ năm 2007 trở lại đây sự tăng nhanh tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành công nghiệp-xây dựng và dịch vụ, đồng thời giảm dần tỷ trọng trong GDP các ngành nông-lâm-ngư nghiệp đã khẳng định cơ cấu kinh tế nước ta đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 2.2 Thực trạng đầu tư vào các ngành kinh tế FDI ở Việt Nam là nguồn vốn đầu tư phát triển xã hội, đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng nền kinh tế. Theo đánh giá của Cục Đầu tư nước ngoài, vốn FDI đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đóng góp vào ngân sách và các cân đối vĩ mô, thúc đẩy cải cách thủ tục hành
  14. chính, tác động lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác. Trong năm 2008 có khoảng 1171 dự án với tổng vốn đăng ký 60,3 tỷ USD, giảm 24,2% về số dự án nhưng gấp 3,2 lần về vốn đăng ký so với năm 2007. Bình quân vốn đăng ký của một dự án năm nay đạt 51,5 triệu USD, tăng 39 triệu USD so với mức bình quân 12,5 triệu USD/dự án của năm 2007. Trong tổng số dự án được cấp phép mới trong năm 2008, các dự án thực hiện theo hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 75,3% về số dự án và 51,7% về vốn đăng ký. Nếu tính cả 3,7 tỷ USD vốn đăng ký tăng thêm của 311 dự án được cấp phép từ các năm trước thì năm 2008 cả nước đã thu hút được 64 tỷ USD vốn đăng ký, gấp gần 3 lần năm 2007, đạt mức cao nhất từ trước tới nay. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2008 đạt 11,5 tỷ USD, tăng 43,2% so với năm 2007. Vốn đầu tư nước ngoài trong các dự án được cấp giấy phép mới năm 2008 tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng với 32,6 tỷ USD, chiếm 54,1% tổng vốn đăng ký; dịch vụ 27,4 tỷ USD, chiếm 45,5%; nông, lâm nghiệp và thủy sản 252,1 triệu USD, chiếm 0,4%. Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài năm 2009 đạt thấp do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới. Tính đến ngày 15/12/2009, đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 21,5 tỷ USD, giảm 70% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm: Vốn đăng ký của 839 dự án được cấp phép mới đạt 16,3 tỷ USD (giảm 46,1% về số dự án và giảm 75,4% về vốn); vốn đăng ký bổ sung của 215 dự án được cấp phép từ các năm trước đạt 5,1 tỷ USD, giảm 1,7%. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2009 ước tính đạt 10 tỷ USD, giảm 13% so với năm 2008. Trong năm 2009, lĩnh vực kinh doanh bất động sản thu hút sự quan tâm lớn nhất của các nhà đầu tư nước ngoài với 7,4 tỷ USD vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới, chiếm 45,1% tổng vốn đăng ký mới; tiếp đến là lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống 5 tỷ USD, chiếm 30,5%; công nghiệp chế biến, chế tạo với 2,2 tỷ USD, chiếm 13,6%. Hình 3: Biểu đồ đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn 2000-2008
  15. Hình 4: Cơ cấu FDI năm 2007 Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, cơ cấu vốn FDI đã có sự thay đổi mạnh mẽ trong giai đoạn từ năm 2001 đến 2009. Nếu như những năm đầu của thế kỷ này, vốn FDI đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm 85%, thì tới năm 2009 vừa qua, khu vực này chỉ còn chiếm 22% tổng vốn đầu tư. Trong khi đó, vốn FDI vào lĩnh vực dịch vụ có xu hướng ngược chiều, khi tăng từ 7% lên 77%, cũng trong cùng giai đoạn với các con số thống kê kể trên. Với mục tiêu ưu tiên là ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, trong những năm qua Chính phủ đã tập trung thực hiện các gói kích cầu đầu tư và tiêu dùng; đồng thời chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án, công trình trọng điểm nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
  16. Nhờ vậy, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2008 theo giá thực tế ước tính đạt 637,3 nghìn tỷ đồng, bằng 43,1% GDP và tăng 22,2% so với năm 2007, bao gồm vốn khu vực Nhà nước 184,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 28,9% tổng vốn và giảm 11,4%; khu vực ngoài Nhà nước 263 nghìn tỷ đồng, chiếm 41,3% và tăng 42,7%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 189,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 29,8% và tăng 46,9%. Năm 2009 theo giá thực tế ước tính đạt 704,2 nghìn tỷ đồng, tăng 15,3% so với năm 2008 và bằng 42,8% GDP, bao gồm vốn khu vực Nhà nước 245 nghìn tỷ đồng, chiếm 34,8% tổng vốn và tăng 40,5%; khu vực ngoài Nhà nước 278 nghìn tỷ đồng, chiếm 39,5% và tăng 13,9%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 181,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,7% và giảm 5,8%. Đầu tư nhà nước chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng vốn đầu tư phát triển xã hội và đóng góp nhất định vào tăng trưởng kinh tế. Hình 5: Tăng trưởng GDP và tỷ lệ đầu tư/GDP giai đoạn 1997 – Q1/2009 Hình 4: Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội theo giá thực tế giai đoạn 2000-2008
  17. 2.3 Đánh giá những tác động -Tác động tích cực: Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những nguyên nhân quan trọng và cơ bản nhất đưa đến các kết quả, thành tựu tăng trưởng kinh tế khả quan, tạo ra những tiền đề vật chất trực tiếp để chúng ta giữ được các cân đối vĩ mô của nền kinh tế như thu chi ngân sách, vốn tích luỹ, cán cân thanh toán quốc tế…, góp phần bảo đảm ổn định và phát triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững. Các chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo, chương trình về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội cho các vùng khó khăn, các chương trình tín dụng cho người nghèo và chính sách hỗ trợ trực tiếp đã mang lại kết quả rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 17,2% năm 2006 xuống còn 14,7% năm 2007, và năm 2008 còn 13,1%. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Số lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên, trong khi số lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm đi. - Tác động tiêu cực: Những năm qua, cơ cấu ngành đạt được những bước tiến nhất định, dù chỉ ở trên phương diện tỷ trọng, trong khi đó cơ cấu lao động chuyển dịch quá chậm, đến mức có thể nói là không có chuyển dịch. Tỷ trọng lao động trong khu vực nông nghiệp - nông thôn giảm không đáng kể ; tỷ trọng lao động công nghiệp hầu như không tăng. Còn khu vực dịch vụ, tuy có tạo thêm khá nhiều việc làm mới nhờ sự phát triển bùng nổ của khu vực tư nhân sau khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực ban hành song cũng không có khả năng xoay chuyển tình hình một cách nhanh chóng và căn bản, điều đó làm tăng thêm áp lực việc làm - thất nghiệp vốn đã cực kỳ gay gắt.
  18. Rõ ràng, lao động nước ta dồi dào đến mức dư thừa, năm 2005 còn đến 5,3% lao động ở thành thị thất nghiệp, trong số này có không ít lao động trẻ khoẻ và không ít những cử nhân vừa qua đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng cũng tham gia đạo quân thất nghiệp. Ở khu vực nông thôn có tới 20% quỹ thời gian lao động chưa được sử dụng, số thất thoát thời gian lao động tương đương với 9 triệu lao động thất nghiệp hoàn toàn. Do vậy khu vực nông nghiệp - nông thôn trong nhiều năm qua trở thành nơi “chứa” lao động dư thừa, tuyệt đại đa số lao động mới đều tập trung ở đây. Về cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn, tỷ trọng lao động chưa qua đào tạo lên đến 76%, tỷ lệ lao động qua đào tạo là 24%, trong đó đặc biệt chú ý là tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề chỉ chiếm có 15%. Các số liệu này chứng tỏ nền kinh tế đang thiếu trầm trọng lao động có tay nghề, mất cân đối trong cơ cấu đào tạo nghề, với cơ cấu trình độ đào tạo như hiện nay, việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và kinh doanh còn rất nhiều khó khăn, không thể nào đáp ứng được yêu cầu nhân lực mà xã hội đang cần dẫn đến thất nghiệp cơ cấu ngày càng trầm trọng hơn. 2.4 Những hạn chế chủ yếu của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Thứ nhất, sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực còn rất chậm, cả về tỷ trọng lẫn chất lượng. Quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành còn chưa làm thay dịch căn bản về chất của cơ cấu ngành, chưa tạo được sự nhảy vọt trong cơ cấu, chưa tăng cường sự gắn kết chặt chẽ giữa các ngành công, nông nghiệp và dịch vụ, giữa các phân ngành, phân nhánh ngành của nội bộ các ngành đó. Thứ hai, hình thành một cơ cấu ngành khai thác nguồn lực kém hiệu quả, năng lực cạnh tranh kinh tế thấp cả trên thị trường trong nước và nước ngoài. Cơ cấu ngành hiện nay còn chưa sử dụng hết các nguồn lực, hơn nữa gây lãng phí. Thứ ba, cơ cấu ngành chưa tạo được tiềm lực cho phát triển nền kinh tế vững chắc lâu dài. 2.5 Thời cơ, thách thức đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam trong thời gian tới
  19. 2.5.1 Thời cơ ( thuận lợi) Sự phát triển kinh tế tri thức và chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn cầu cũng như khu vực tạo cơ hội cho quá trình rút ngắn công nghiệp hóa – hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nước ta. Điều này thể hiện ở một số nội dung sau đây: + Tri thức, khoa học, công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp cho phép các nước đi sau như Việt Nam có thể tiếp cận chúng ngay cả khi trình độ phát triển chưa cao. Nhờ tiếp thu từ các nước đi trước các tri thức, công nghệ, kỹ thuật, về nguồn vốn và thị trường ở trình độ cao và quy mô lớn, Việt Nam có thể thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa rút ngắn, thực hiện “hiện đại hóa cơ cấu ngành”, hình thành và phát triển cơ cấu ngành có năng lực cạnh tranh cao trên trường quốc tế. + Thông qua kết nối mạng thông tin, viễn thông toàn cầu, Việt Nam được chia sẽ nguồn lực thông tin và tri thức, có điều kiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cả về tri thức và kỹ năng sử dụng công nghệ cao. + Với hệ thống sản xuất toàn cầu, các doanh nghiệp Việt Nam có thể mở rộng quy mô sản xuất và bán sản phẩm trên phạm vi toàn thế giới để thu lợi ích nhiều nhất. Đây là tiềm năng to lớn cho Việt Nam cũng như các nước đi sau khác. + Toàn cầu hóa kinh tế làm cho nền kinh tế thế giới cũng như quốc gia trở nên năng động hơn, được liên kết chặt chẽ hơn, dòng vốn, hàng hóa, công nghệ di chuyển nhanh hơn tạo nên môi trường phát triển thuận lợi cho mọi nền kinh tế. + Việt Nam đã gia nhập vào WTO, ASEAN…, thực hiện các cam kết CEPT/AFTA, AICO, AIA, APEC, ASEM…từng bước hội nhập sâu hơn vào kinh tế khu vực và quốc tế. Nhờ đó Việt Nam sẽ có một thị trường rộng lớn, nhiều tiềm năng do những hàng rào thuế quan và phi thuế quan được dỡ bỏ, lưu thông hàng hóa, tiền tệ, lao động tự do, thuận lợi, chi phí lưu thông giảm; tiếp nhận nguồn vốn đầu tư, công ghệ và kĩ thuật cao; người tiêu dùng có cơ hội lựa chọn các mặt hàng thích hợp, chất lượng tốt và giá rẻ; có vị thế quốc tế trong đàm phán với các nước lớn, cùng với các nước đang phát triển bảo vệ quyền lợi quốc gia và khu vực. - Những thuận lợi trong nước:
  20. + Thuận lợi cơ bản của Việt Nam là sự ổn định chính trị - xã hội, đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước và sự ủng hộ, đoàn kết, nhất trí của toàn dân đối với công cuộc đổi mới, với quyết định chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. + Tiềm lực kinh tế và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đã được nâng lên. + Nền kinh tế được cơ cấu lại, tốc độ được cơ cấu lại, tốc độ tăng trưởng kinh tế có xu hướng tăng nhanh và ổn định; cơ cấu ngành kinh tế nói chung và nội bộ ngành nói riêng thay đổi tích cực theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đã đạt trình độ cao hơn hẳn trước thời kì đổi mới. + Chính sách “mở cửa” và hội nhập kinh tế quốc tế tao điều kiện thực hiện chiến lược cơ cấu ngành hướng vào tăng trưởng xuất khẩu, mở rộng thị trường đa phương, tăng cường thu hút FDI, ODA, các nguồn lực thông tin tri thức khác để phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành. + Vai trò của nhà nước trong điều hành kinh tế, thực hiện quá trình cơ cấu lại các ngành kinh tế được tăng cường. Đời sống của mọi tầng lớp nhân dân cải thiện từng bước, giảm bớt tỷ lệ đói nghèo. + Việt Nam có nhiều nguồn lực trong đó có những lợi thế so sánh làm cơ sở cho hoạch định chiến lược cơ cấu ngành, đảm bảo cho sự tăng trưởng nhanh, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở cửa hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế như: vị trí địa lí kinh tế - chính trị thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng; dân số trẻ và có học vấn tương đối khá; nguồn nhân lực có năng lực tiếp thu khoa học công nghệ mới để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế; nguồn lực về vốn được nâng lên do tích lũy vốn trong nội bộ nền kinh tế có tiến bộ và lượng vốn nhàn rỗi còn nhiều ở trong dân là yếu tố thuận lợi cho chuyển dịch cơ cấu ngành. 2.5.2 Thách thức ( khó khăn) Thách thức to lớn đối với Việt Nam cũng như các nước đi sau là tụt hậu, tức là không bắt nhịp được vào trình độ phát triển nhanh và cao của kinh tế toàn

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản