intTypePromotion=3

Khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng hoạt động phái sinh ngoại tệ tại Việt Nam và phương án phát triển

Chia sẻ: Dfg Dfg | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:99

0
88
lượt xem
37
download

Khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng hoạt động phái sinh ngoại tệ tại Việt Nam và phương án phát triển

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Lịch sử hình thành, vai trò của công cụ phái sinh tiền tệ. Quá trình phát triển, thực trạng thị trường phái sinh ngoại hối. Phương hướng phát triển hoạt động phái sinh trên thị trường ngoại hối Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng hoạt động phái sinh ngoại tệ tại Việt Nam và phương án phát triển

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TAI CHÍNH N G Â N H À N G C H U Y Ê N N G À N H TÀI CHÍNH QUỐC TÉ íoCQca KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP Đề tài: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÁI SINH NGOẠI TỆ TẠI VIỆT NAM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN Ị-MÙ VIỄN leo ị Sinh viên thực hiện Trần Thị Thu Phương Lớp Anh 6 Khóa 45B Giáo viên hướng dẫn ThS. Phan Trần Trung Dũng Hà Nội - 05/2010
  2. MỤC LỤC D A N H M Ụ C B Ả N G BIỂU LỜI M Ở Đ À U Ì C H Ư Ơ N G 1. C ơ SỎ L Ý L U Ậ N V È C Ô N G cụ P H Á I SINH N G O Ạ I T Ệ . 3 . 1.1. Lịch sử hình thành và phát triển thị trường tài chính phái sinh 3 1.2. Nghiệp vụ phái sinh ngoại hỘi 8 1.2.1. Khái niệm về công cụ phái sinh ngoại hối.e 8 1.2.2. Giới thiệu sơ lược các công cụ phái sinh ngoại hối 8 1.2.3. Cách thức thực hiện các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối 21 1.3. Vai trò của các công cụ phái sinh tiền tệ 32 1.3.1. Đ ố i v ớ i doanh nghiệp 32 1.3.2. Đ ố i với các tổ chức tài chính 33 1.3.3. Đ ố i với nền kinh tế 33 C H Ư Ơ N G 2: T H Ự C T R Ạ N G H O Ạ T Đ Ộ N G P H Á I SINH N G O Ạ I T Ệ T R Ê N THỊ T R Ư Ờ N G V I Ệ T N A M 34 2.1. Q u á trình phát triển của hoạt động phái sinh ngoại hỘi ở Việt Nam 34 2.1.1. Quá trình phát triển giao dịch ngoại tệ kỳ hạn và hoán đổi ngoại tệ. 35 2.1.2. Quá trình phát triển giao dịch ngoại tệ quyền chọn 41 2.2. Thực trạng hoạt động phái sinh trên thị trường ngoại hỘi Việt Nam 44 2.2.1. Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động phái sinh ngoại hối c a Việt Nam 44 2.2.2. Hoạt động phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng 49 2.2.3. Hoạt động phái sinh ngoại hối tại các doanh nghiệp 57
  3. 2.3. Đánh giá thực trạng hoạt động phái sinh trên thị trường ngoại hối Việt Nam 6 2 2.3.1. Thành tựu đã đạt được trong hoạt động ngoại hối phái sinh tại V i ệ t Nam 6 2 2.3.2. Những hạn chế của hoạt động ngoại hối phái sinh tại Việt Nam...64 C H Ư Ơ N G 3: P H Ư Ơ N G H Ư Ớ N G P H Á T T R I Ể N H O Ạ T Đ Ộ N G PHÁI SINH N G O Ạ I T Ệ T Ạ I V I Ệ T N A M 70 3.1. Triển vọng phát triển hoạt động phái sinh trên thị trường ngoại hối Việt Nam 70 3.1.1. Thuận lợi 70 3.1.2. Khó khăn 74 3.2. Giải pháp phát triển hoạt động phái sinh trên thị trường ngoại hối Việt Nam 77 3.2.1. Giải pháp ở tẩm quản lý vĩ m ô 77 3.2.2. Giải pháp ờ tầm v i m ô 81 KẾT LUẬN 91
  4. DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Tình hình cung cấp các công cụ quản lý rủi ro tỷ giá cho khách hàng 50 Bảng 2.2: Tình hình cung cấp các công cụ quản lý r ủ i ro tỷ giá của các NHTM 51 Bảng 2.3: Tỷ trọng của giao dịch kỳ hạn 52 Bảng 2.4: Doanh số thực hiện quyền chọn tiền tệ trong 2 năm 2006 và 2007 tại Eximbank 56 Bảng 2.5: Mức độ nhận thức về rủi ro tỷ giá của các doanh nghiệp 57 Bảng 2.6: Tỷ lệ doanh nghiệp có sử dụng ngoại tệ thưổng xuyên 58 Bảng 2.7: Doanh số các hoạt động sử dụng ngoại tệ quy ra U S D 59 Bảng 2.8: Nhận thức và thực hành sử dụng hợp đồng kỳ hạn 60 Bảng 2.9: Nhận thức và thực hành sử dụng hợp đồng hoán đổi 61 Bảng 2.10: Nhận thức và thực hành sử dụng hợp đồng tương lai 61 Bảng 2.11: Nhận thức và sử dụng hợp đồng quyền chọn 62
  5. LỜI MỞ ĐẦU Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế sâu rộng, đặc biệt là từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO, mở cửa thị trường là vấn đề tất yếu, trong đó có mở cửa thị trường tài chính. M ở cửa thị trường tài chính cũng đồng nghĩa v ớ i việc thị trường tài chính Việt Nam có sự tham gia cắa các yếu tố và các đối tác nước ngoai, Việt Nam phải chấp nhận luật chơi trên thị trường quốc tế và đối mặt v ớ i cạnh tranh từ các tổ chức kinh tế trên thế giới. Thị trường t i chính mở cửa chắc chắn sẽ tạo ra những cơ hội tiếp cận à các tiến bộ kỹ thuật, các sản phẩm tài chính tiên tiến cũng như những kinh nghiệm phát triển quý báu từ nước ngoai. Tuy nhiên, việc mở cửa thị trường tài chính cũng dẫn đến những mặt t á có thế gây tác hại nghiêm trọng. K h i dòng vốn được tự do luân chuyển ra ri vào nền kinh tế, lưu lượng vốn luân chuyển ra vào nền kinh tế sẽ lớn hơn. K h i đó, bất kỳ sự chảy vào hay rút ra đột ngột cắa dòng vốn này đều gây ra những rắi ro khôn lường cho thị trường tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung, m à rõ nhất là thiệt hại trên thị trường ngoại hối và thị trường chứng khoan. Do đó, vấn đề đặt ra là cần có những công cụ tài chính hữu hiệu để hạn chế đến mức thấp nhất rắi ro có thể xảy ra cho nền kinh tế và thị trường tài chính thúc đẩy sự phát triển mạnh m ê và bền vững cắa thị trường tài chính Việt Nam. Một trong những công cụ hữu hiệu nhất đang được thế giới ưa chuộng và sử dụng hiệu quà để phòng ngừa rắi ro và kinh doanh tìm kiểm l ợ i nhuận là các công cụ phái sinh ngoại tệ. Tuy các công cụ phái sinh ngoại tệ đã bát đầu phát triển ở Việt Nam từ đầu năm 2000, nhưng số lượng công cụ phái sinh ngoại tệ được các N H T M đưa vào cung cấp dịch vụ cho khách hang còn hạn chế, cơ chế hoạt động sơ khai, doanh số t ừ hoạt động này chiếm tỷ lệ khiêm tốn so v ớ i các hoạt động kinh doanh truyền thống. Thị trường công cụ Ì
  6. phái sinh ngoại tệ ờ Việt Nam còn í được biết đến và í được sử dụng. Do đó, t t vấn đề phát triển hoạt động phái sinh ngoại tệ tại Việt Nam là một nhu cầu bức thiết và cần được triển khai nhanh chóng, hiệu quả từ cấp quản lý vĩ m ô đèn cấp v i m ô đế thúc đấy sự phát triến của thị trường tài chính V i ệ t Nam và đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Chính vì vỊy, em đã đi đến quyết định tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn hoạt động này trên thị trường Việt Nam, và lựa chọn đề tài cho bài khóa luỊn là: "Thực trạng hoạt động phái sinh ngoại tệ trên thị trường Việt Nam và phương hướng phái triển". V ớ i đề tài này, em chia bài nghiên cứu ra 3 phần như sau: Chương Ị: C ơ sở lý luỊn về công cụ phái sinh ngoại tệ. Chương 2: Thực trạng hoạt động phái sinh ngoại tệ trên thị trường V i ệ t Nam. Chương 3: Phương hướng phát triển hoạt động phái sinh ngoại tệ trên thị trường Việt Nam. Em x i n chân thành cảm ơn thầy giáo - ThS. Phan Trần Trung Dũng đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành bài khóa luỊn tốt nghiệp này. Những nhỊn xét và đóng góp của thầy đã giúp cho bài khóa luỊn của em chặt chẽ và chính xác hơn nhiều. Tuy nhiên, do những hạn chế của bản thân em và thiếu thốn tài liệu, bài khóa luỊn chắc chắn còn chứa đựng nhiều sai sót. Em h i vọng sẽ nhỊn được những ý kiến đóng góp của thầy cô. Em x i n sẵn sàng lắng nghe và sửa chữa bổ sung để bài khóa luỊn hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! 2
  7. C H Ư Ơ N G 1. C ơ S Ở L Ý L U Ậ N V È C Ô N G C Ụ P H Á I SINH N G O Ạ I T Ệ 1.1. Lịch sử hình thành và phát triển thị trường tài chính phái sinh Sở giao dịch công cụ phái sinh ra đời đầu tiên trên thế giới là Sở giao dịch Hoàng gia (The Royal Exchange) ờ Luân Đôn, cho phép giao dịch họp đồng kỳ hạn vào đầu thế kỷ 17. Các họp đồng tương lai đầu tiên được tạo ra trên cơ sờ thị trường gạo Yodoya ở Osaka, Nhật Bản vào khoảng năm 1650. Những hợp đồng này khi đó được chuẩn hóa khá rõ ràng, gần giộng với họp đồng tương lai ngày nay, nhưng chưa được bù trù hàng ngày (marked to market daily) và không có bên uy tín bảo lãnh. Sự thành lập ủ y ban thương mại Chicago vào năm 1848 là một dấu mộc quan trọng. Vào thời điểm đó, v ớ i vị t í địa lý thuận lợi nằm trên hồ r Michigan, Chicago trở thành trung tâm kho chứa, buôn bán và phân phội ngũ cộc khu vực. Vì ngũ cộc có tính mùa vụ nên Chicago không đủ kho chứa vào mùa thu hoạch nhưng lại thừa kho vào mùa xuân nên giá giao ngay của ngũ cộc thay đổi mạnh. M ộ t nhóm các thương nhân ngũ cộc đã tạo ra một loại họp đồng có tên "to-arrive contract" cho phép người nông dân ấn định giá hợp đồng trước rồi giao ngũ cộc sau. Loại hợp đồng này đã chứng tỏ nó là công cụ hữu ích đế phòng ngừa rủi ro và đầu cơ dựa trên chênh lệch giá. Cả người nông dân và thương nhân đã sớm nhận ra rằng việc bán và phân phội ngũ cộc còn không quan trọng bằng việc di chuyển rủi ro về giá ngũ cộc. N g ũ cộc có thể được bán và phân phội đi bất cứ đâu vào bất cứ thời điểm nào. Những hợp đồng này cuội cùng đã được chuẩn hóa vào khoảng năm 1865 và đến năm 1925 thì trung tâm thanh toán bù trừ cho hợp đồng tương lai đầu tiên được thành lập. T ừ đó trở đi hình thái hợp đồng tương lai hoàn thiện gần như hợp đồng tương lai ngày nay. 3
  8. Vào khoảng giữa thế kỷ 19, nhà tài phiệt Hussell Sage ờ New York, đã tạo ra một khoản nợ tổng hợp sử dụng nguyên lý ngang giá quyền chọn - "put - call parity". Ông Sage mua cổ phiếu và một quyền bán (put) từ khách hàng của mình và bán cho khách hàng một quyền mua (call). Bằng cách xác định trưấc các quyền bán, quyền mua và mức giá thực hiện, ông Sage đã tạo ra một khoản cho vay vấi mức l i suất cao hơn nhiều so v ấ i quy định luật pháp ã bấy giờ. Hợp đồng tương lai/hợp đồng quyền chọn/giao dịch phái sinh đã nhiều lần bị cấm tại Châu Âu, Nhật Bản, thậm chí bị cấm cả ờ bang Illinois của M ỹ vào năm 1867 nhưng sấm bị bãi bỏ sau đó. N ă m 1874, Chicago thành lập thêm Sở giao dịch hàng hóa Chicago (The Chicago Produce Exchange), sau đó các sở giao dịch khác được thành lập trên khắp nưấc Mỹ. Đầu thế kỷ 20 là giai đoạn đen tối của hoạt động phái sinh do các công ty ma - "bucket shops" mọc lên như nấm. "Bucket shops" là các tố chức nhỏ hoạt động về họp đồng quyền chọn và chứng khoán tìm cách thu hút nhiều khách hàng tham gia giao dịch, rồi sau đó bỏ trốn vấi số tiền thu được. N ă m 1922, lần đầu tiên chính quyền liên bang quyết tâm tham gia điều tiết thị trường hợp đồng tương lai bằng bản Đạo luật hợp đồng tương lai ngũ cắc (The Grains Futures Act). N ă m 1936, hợp đồng quyền chọn về hợp đồng tương lai (options ôn íutures) bị cấm ở Mỹ. Suốt thời gian đó, họp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai và các loại họp đồng phái sinh khác thỉnh thoảng lại bị cấm ở các nưấc khác nhau. Thập niên 50 của thế kỷ 20 đánh dấu 2 sự kiện quan trọng trên thị trường tương lai. N ă m 1955, Tòa Á n T ố i Cao công nhận trường hợp phần l ợ i nhuận của công ty Com Products Refining Company kiếm được t ừ việc phòng ngừa rủi ro là thu nhập thông thường. Tiền lệ này tồn tại cho t ấ i k h i xảy ra trường hợp The Arkansas Best vào năm 1988, không cho phép trích khoản lỗ vốn khỏi thu nhập thông thường, do đó khiến việc phòng ngừa rủi ro 4
  9. chịu một khoản thiệt về thuế. Tuy nhiên, quy định này đã bị bãi bỏ vào năm 1993. Sự kiện còn lại là việc cấm các hợp đồng tương lai vê củ hành. Thực chất việc cấm hợp đồng tương lai vềsản phẩm hành không quan trọng. M à vấn đề là nhóm nông dân trồng hành Michigan đã hỗ trợ để nghị sĩ trẻ của họ, ông Gerald Ford, thành công trong việc cấm một loại hàng hóa đẫc biệt khỏi giao dịch tương lai. Cho đến nay, luật hiện hành tại M ỹ vẫn có quy định: có thể tạo ra họp đồng tương lai trên bất kỳ sản phẩm gì trừ hành. Hợp đồng tương lai tiền tệ được tạo ra đầu tiên tại Sờ giao dịch Chicago (The Chicago Mercantile Exchange - CME) vào năm 1972. Các hợp đồng này được tạo ra dưới sự hướng dẫn và quản lý của ngài Leo Melamed, Chủ tịch của Sở giao dịch Chicago lúc bấy giờ. Đây là hợp đồng tương lai đầu tiên m à tài sản cơ sở không phải là hàng hóa vật chất. Loại hợp đồng này ngày càng thể hiện ưu thế sau sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ Bretton Woods vào năm 1973. Hiệp định neo tỷ giá hối đoái thế giới theo vàng sụp đổ, dẫn đến tỷ giá các đồng tiền trên thê giới được thả nổi và dao động mạnh, đã khiến cho việc kinh doanh trở nên hết sức rủi ro. Các nhà kinh doanh tiền tệ, xuất nhập khẩu và đầu tư quốc tế phải tìm kiếm các biện pháp phòng chống r ủ i ro thông qua thị trường ngoại hôi. Chính vì thế, việc Sờ giao dịch Chicago tạo ra một thị trường tương lai khác, thị trường tương lai tiền tệ, đã mở rộng khả năng quản trị r ủ i ro v ố n trước đó chỉ dừng lại ở hợp đồng tương lai hàng hóa. Khái niệm "họp đồng tương lai tiền tệ" trên Sở Giao dịch Chicago mang tính cách mạng và được khẳng định uy tín bởi Giải Nobel kinh tế m à nhà kinh tế học M i l t o n Friedman giành được. Ngày nay, Sở Giao dịch Chicago cung cấp 41 loại hợp đồng tương lai ngoại hối và 31 loại hợp đồng quyền chọn dựa trên 19 đồng tiền khác nhau. Tất cả đề được giao dịch bằng điện tử trên sàn giao dịch toàn cầu u 5
  10. CME Globex. Đây là thị trường giao dịch ngoại hối có quản lý lớn nhất thế giới. N ă m 1975, ủ y ban Thương mại Chicago (The Chicago Board o f Trade - CBOT) đã tạo ra hợp đồng tương lai lãi suất dựa trên các khoản thế chấp Ginnie Mae (GNMA). Mặc dù hợp đồng tương lai lãi suất này đã có được thành công ban đầu nhưng cuối cùng lại thất bại. ủ y ban Thương mại Chicago đã nhiều lần phục hồi loại hợp đồng này, thay đổi cấu trúc hợp đồng nhưng vẫn không thành công. N ă m 1975, Sộ giao dịch Chicago bát đâu cho thực hiện hợp đồng tương lai về Tín phiếu kho bạc. Hợp đồng này là họp đồng tương lai l i suất thuần túy đầu tiên thành công. N ó là một minh chứng ã cho tính đòn bẩy của hợp đồng tương lai. Chỉ với 1.000 USD, bây g i ờ thậm chí còn í hơn, bạn có thể nắm g i ữ lượng Tín phiếu kho bạc trị giá 1.000.000 t USD. Vào năm 1977, ủ y ban Thương mại Chicago cho phép hoạt động hợp đồng tương lai về trái phiếu kho bạc (T-bond íuture contract), loại hợp đồng đã phát triển thành hợp đồng có giá trị giao dịch lớn nhất. N ă m 1977, Sộ giao dịch Chicago đã đưa vào hoạt đồng hợp đồng tương lai về Eurodollars, loại hợp đồng sau này đã vượt qua cả họp đồng tương lai t á phiếu kho bạc để trộ thành loại họp đồng tương lai có giao dịch mạnh ri nhất trên thị trường. N ă m 1982, ủ y ban Thương mại thành phố Kansas đã đưa ra hợp đồng tương lai về chỉ số chứng khoán đầu tiên (the stock index íìiture), the Value Line Index Futures. Tiếp bước thành công này, Sộ giao dịch Chicago đã đưa ra sản phẩm hợp đồng tương lai về chỉ số s & p 500. N ă m 1973 đánh dấu sự ra đời của Sộ giao dịch quyền chọn Chicago (The Chicago Board Options Exchange) và ấn phẩm công thức n ổ i tiếng nhất trong lĩnh vực tài chính - M ô hình định giá quyền chọn của Fischer Black và Myron Scholes. Những sự kiện này thực sự đã tạo ra những thay đổi cách 6
  11. mạng trong thế giới đầu tư. Từ khi được biết đến tới nay, m ô hình định giá quyền chọn Black - Scholes đã thiết lập nên một khung toán học làm cơ sở cho sự bùng nổ giao dịch các công cụ phái sinh. N ă m 1983, Sở giao dịch quyền chọn Chicago đã quyết định đưa vào hoạt động hợp đồng quyền chọn về một loại chỉ số chững khoán. M ớ i đầu chỉ số này có tên The CBOE 100 Index, rồi sau đó là Standard and Poor's và sau này là chỉ số s & p 100 n ố i tiếng. Hợp đồng quyền chọn chỉ số chững khoán này vẫn là loại hợp đồng quyền chọn niêm yết được giao dịch nhiều nhất thế giới. Những năm 80 của thế kỷ 20 đánh dấu kỷ nguyên của hợp đồng hoán đổi (swap) và các công cụ phái sinh phi tập trung khác (the over-the-counter derivatives). Mặc dù họp đồng quyền chọn và kỳ hạn phi tập trung đã có t ừ trước đó nhưng thế hệ các giám đốc tài chính tại các doanh nghiệp là những người đầu tiên tốt nghiệp các trường kinh doanh được tiếp cận công cụ phái sinh. Vì thế các doanh nghiệp đều sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro, trong một số trường hợp là để đầu cơ dựa trên thay đổi lãi suất, tỷ giá và rủi ro hàng hóa. Các sản phàm mới liên tục được tạo ra để phòng ngừa số lượng rủi ro đa dạng m à người ta có thể nhận thữc được. Vì hoạt động tài chính phái sinh ngày càng phữc tạp nên Phố Wall đã trọng dụng các nhân tài toán học và vật lý học. Các loại công cụ trở nên phữc hợp, được biết t ớ i là "exotic" (công cụ quyền chọn đặc biệt). Vào năm 1994, hoạt động phái sinh bị gặp khó khăn bởi những khoản lỗ lớn từ giao dịch phái sinh của các tập đoàn noi tiếng và giàu kinh nghiệm như Procter and Gamble và Metallgesellschaữ. M ộ t trong những nơi giàu có nhất nước Mỹ, quận Cam ở bang Caliíbrnia tuyên bố phá sản, nguyên nhân được cho là do hoạt động phái sinh, nhưng chính xác hơn là do việc sử dụng đòn bẩy tài chính trong danh mục đầu tư chững khoán kho bạc ngắn hạn. Ngân hàng Barings của A n h cũng tuyên bố phá sản do đầu tư vào hợp đồng 7
  12. tương lai bởi một nhân viên kế toán 28 tuổi tại chi nhánh ngân hàng ở Singapore. Những thiệt hại lớn này đã dẫn tới một cuộc tẩy chay rộng rãi các công cụ phái sinh cũng như các công ty bán ra chúng. N g ư ờ i ta chỉ tiến hành một vài thay đối nhỏ trong cách bán ra công cụ phái sinh nhưng phần lớn công ty cũng chỉ kiểm soát chảt chẽ và tiếp tục sử dụng công cụ phái sinh. V à hoạt động giao dịch phái sinh cho đến g i ờ đang ngày càng phát triển mạnh mẽ và đa dạng cả về số và lượng để đáp ứng nhu cầu thị trường thế giới. 1.2. Nghiệp vụ phái sinh ngoại hối 1.2.1. Khái niệm về công cụ phái sinh ngoại hổi. Công cụ phái sinh nói là các công cụ tài chính được phát hành dựa trên tài sản cơ sở (underlying assets) đã có từ trước. Tài sản cơ sở này ngày càng phong phú và đa dạng. Trong giai đoạn phát triến ban đầu thì tài sản cơ sở này là các hàng hóa vật chất, cao hơn là các công cụ tài chính. Người ta có thể tạo ra hợp đồng công cụ phái sinh về hầu hết các loại sản phẩm. Trong bài nghiên cứu này chỉ đề cập đến các công cụ phái sinh ngoại hối. Công cụ phái sinh ngoại hốilà các công cụ phái sinh có tài sản cơ sở là tiền tệ, được sử dụng để quản trị rủi ro hoảc kiếm lời t ừ những biến động tỷ giá hối đoái. 1.2.2. G i ớ i thiệu sơ lược các công cụ phái sinh ngoại hối Các công cụ phái sinh ngoại hối bao gồm hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tiên tệ tương lai, hợp đồng hoán đổi tiền tệ và hợp đồng quyền chọn tiền tệ. a. H ợ p đồng kỳ hạn (íorvvard) Giao dịch ngoại tệ kỳ hạn được thực hiện trên thị trường hối đoái kỳ hạn (forward market). Hợp đồng mua bán ngoại tệ kỳ hạn là một công cụ tài chính để mua hoảc bán một số lượng tiền nhất định, tại một tỷ giá nhất định vào một thời điểm xác định trong tương lai. 8
  13. Tỷ giá áp dụng trong mua bán kỳ hạn gọi là tỷ giá kỳ hạn (forward rate). Tỷ giá kỳ hạn là tỷ giá được thỏa thuận hôm nay làm cơ sở cho việc trao đôi tiền tệ tại một ngày xác định xa hơn ngày giá trị giao ngay. Vì tỷ giá biên động liên tục cho nên giữa tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn thường có một độ lệch nhất định. Độ lệch giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay gọi là điếm kỳ hạn (forwardpoints). P = F-S F = s+ P trong đó: P: điểm kỳ hạn S: tỷ giá giao ngay F: tỷ giá kỳ hạn Các giao dịch kỳ hạn không diớn ra trên sở giao dịch, m à giống như giao dịch giao ngay, đây là thị trường phi tập trung của ngân hàng và các nhà môi giới được liên kết với nhau bang điện thoại, telex, v i tính và hệ thống SWIFT. Bộ phận liên ngân hàng của thị trường hối đoái kỳ hạn hoạt động liên tục thông qua việc đấu giá mở hai chiều giữa các thành viên tham gia (continuous open - bid double auction), nghĩa là mỗi ngân hàng yết tỷ giá kỳ hạn mua vào (bid rate), bán ra (ask rate) liên tục cho các ngân hàng khác và ngược lại. Trên thị trường hối đoái nói chung có hai loại họp đồng hối đoái kỳ hạn: hợp đồng outright và hợp đồng swap. Hợp đồng outright là sự thỏa thuận giữa một ngân hàng và một khách hàng không phải là ngân hàng (non-bank customers) nhằm phòng ngừa rủi ro hối đoái cho khách hàng. về bản chất họp đồng này, trước họp đồng thực hiện thì không có bất cứ sự chuyển giao tiền tệ nào giữa các bên tham gia. Tuy nhiên ngân hàng có thể yêu cầu khách 9
  14. hàng ký quỹ với một mức tối thiếu nào đó hoặc thế chấp tài sản đê đảm bảo việc thực hiện hợp đồng. Tiền ký quỹ trong phạm v i tối thiểu không được hưởng lãi, nhưng có thể được hưởng l ợ i tức phát sinh từ tài sản thế chấp (nêu tài sản thế chấp là tài sản tài chính). Hợp đồng swap là hỏp đồng có kỳ hạn giữa hai ngân hàng, theo đó hai bên thỏa thuận hoán đổi một số lượng ngoại tệ nhất định vào một ngày xác định và sau đó hoán đổi ngược lại ở một ngày trong tương lai với tỷ giá khác tỷ giá hoán đổi ban đầu. Tỷ giá trên thị trường hối đoái có kỳ hạn thường được niêm yết theo bội số của 30 ngày và năm tài chính thường được xác định là 360 ngày. Vì thê, để thuận tiện cho việc sử dụng thời hạn của hỏp đồng kỳ hạn thường là Ì tháng, 2 tháng... Tuy nhiên trên thị trường liên ngân hàng có thể có những hợp đồng có kỳ hạn dưới Ì tháng. Ngoài ra, một số ít hợp đồng có thời hạn không phải là bội số 30 ngày.Ở Việt Nam, thị trường hối đoái có kỳ hạn chưa phát triển mạnh nên thời hạn giao dịch theo bội số 30 ngày chưa được áp dụng phố biến, m à thường theo thỏa thuận, nhưng nói chung không quá 180 ngày. b. Hợp đồng hoán đổi ngoại hối (íorex swap) Giao dịch hoán đối ngoại hối là việc đồng thời mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định, trong đó ngày giá trị mua vào và ngày giá trị bán ra là khác nhau. N h ư vậy, nghiệp vụ swap là việc hoán đổi một lượng cố định một đồng tiền này lấy một lượng biến đổi đồng tiền khác trong một thời gian xác định bằng cách ký cùng một lúc hai hợp đồng: hợp đồng mua bán giao ngay và hỏp đồng bán mua kỳ hạn tương ứng để phòng ngừa rủi ro tỷ giá xảy ra đối với một đồng tiền nào đó. Căn cứ vào đặc điểm ngày giá trị, giao dịch hoán đổi gồm 2 loại: spot- forward swap và forward-forward swap. Spot-fonvard swap bao gồm Ì giao dịch giao ngay và Ì giao dịch kỳ hạn. Ví dụ như hợp đồng hoán đổi giao 10
  15. ngay-kỳ hạn giữa V N D và USD: mua USD giao ngay tại thời điểm to và bán USD kỳ hạn tại thời điểm ti Forward-forward swap bao gồm 2 giao dịch kỳ hạn được ký cùng vào ngày hôm nay nhưng có ngày giá trị khác nhau. Ví dụ như hợp đồng hoán đối kỳ hạn-kỳ hạn giữa V N D và USD: tại thời điếm to ký kết 2 họp đồng, một hợp đồng mua USD kỳ hạn có ngày giá trị là ti và họp đồng bán USD kỳ hạn có ngày giá trị là t . 2 Hoán đổi ngoại hối có những đặc điểm cơ bản như sau: (1) là giao dịch bao gồm đồng thời cả vế mua và vế bán, (2) số lượng một trong hai đồng tiên mua bán là cố định, (3) tỷ giá spot áp dụng trong vế mua và bán là như nhau, (4) ngày giá trị cấa vế mua và vế bán là khác nhau, (5) trong thời gian có hiệu lực cấa hợp đồng, không có bất kỳ một luồng tiền nào xảy ra trừ hai luông tiền duy nhất xảy ra khi thực hiện vế mua và bán. Điều này có nghĩa là lãi suất phát sinh trong thời hạn hợp đồng được thanh toán một lần tại thời điếm họp đồng đáo hạn. Hoán đổi tiền tệ (currency swap) là loại hợp đồng có những đặc điếm tương tự như hợp đồng hoán đổi ngoại hối, tuy nhiên có một số khác biệt. Thời hạn cấa hợp đồng hoán đổi tiền tệ thường là dài hạn, vì vậy khoản lãi phát sinh được thanh toán (hoán đổi) định kỳ trong thời hạn có hiệu lực cấa hợp đồng, khoản gốc chi được hoán đổi khi hợp đồng đáo hạn. Vì thế, hợp đồng hoán đổi tiền tệ thuộc loại hợp đồng hoán đổi ngoại hổi có thời hạn dài và lãi suất được thạnh đoán định kỳ trong thời hạn có hiệu lực cấa hợp đồng. Tuy nhiên, điểm khác biệt căn bản giữa hai loại giao dịch này là: giao dịch hoán đổi ngoại hối được thực hiện trên thị trường ngoại hối (íòrex), còn giao dịch hoán đổi tiền tệ được thực hiện trên thị trường hoán đổi (swap markets). c. H ợ p đồng tiền tệ tương lai (Currency futures) Hợp đồng tương lai là một thỏa thuận về việc mua hoặc bán một tài sản trong tương lai, tại một mức giá nhất định (tức là giá cả được thỏa thuận ngày li
  16. hôm nay), nhưng việc giao nhận tài sản và thanh toán lại xảy ra tại thời điểm nhất định trong tương lai. Các hợp đồng tuông lai được giao dịch trên nhiều sở giao dịch khác nhau trên toàn cầu. Ngày 16/05/1972 Sở giao dịch Chicago (The Chicago Mercantile Exchange - CME) đã cho ra đời thị trường hối đoái mới thông qua việc thiết lập đầu tiên Thị trường tiền tệ quốc tế (International Monetary Market), bộ phận trực thuộc cỉa CME. Đây là thị trường hối đoái tương lai, một biến thể quan trọng cỉa thị trường hối đoái kỳ hạn. Các giao dịch tiền tệ tương lai được mở rộng và ngày càng phát triển tại CME. Vào năm 1978 chỉ có 2 triệu hợp đồng được giao dịch, nhưng đến năm 1994 đã có gần 30 triệu hợp đồng giao dịch. Thông thường các giao dịch trên CME được thực hiện trong khoảng từ 7:20 sáng đến 2:00 giờ chiều theo giờ Chicago. Trong khoảng thời gian từ 7:20 đến 7:35 sáng, các tỷ giá giao dịch được giới hạn trong một phạm vi nhất địn. Các giao dịch tăng cường được mở rộng trên thị truồng ngoại hối toàn cầu ( G L O B E X ) từ 14:30 đến 16:00 và sau đó tiếp tục giao dịch từ 18:00 đến 6:00 sáng hôm sau theo giờ Chicago. G L O B E X là hệ thống điện t ử quốc tế dành cho các giao dịch tuông lai và quyền chọn. Hệ thống này cho phép các sở giao dịch thành viên niêm yết các sản phẩm cỉa mình sau khi sở giao dịch CME đóng cửa. Vào năm 1985, CME và Singapore International Monetary Exchange (SIMEX) bắt đầu cung cấp các hợp đồng có thể trao đổi thay thế cho nhau và được chấp nhận trong giao dịch trên cả hai thị trường. Do chênh lệch về múi giờ, mối quan hệ phối hợp này đã giúp cho thời gian giao dịch được mở rộng và tính linh hoạt cỉa thị trường đối với những nhà đầu cơ và những nhà tự bảo hiểm được tăng cường. Tháng 7 năm 1086, H ộ i đồng thương mại Phỉladenphia (The Philadenphia Board o f Trade - P B O T ) - Chi nhánh cỉa Sở giao dịch cổ phiếu Philadenphia bắt đầu thực hiện giao dịch tiền tệ tuông lai. Ngoài ba sờ giao dịch kể trên thì giao dịch tiền tệ tương lai 12
  17. còn được thực hiện ở một số sở giao dịch khác: MidAmerica Commodities Exchange, The New Zealand Futures Exchange, The Tokyo International Financial Futures Exchange, The London International Financial Futures Exchange, The Stockholm Options Market. Khác với hợp đồng kỳ hạn là những họp đồng phi tập trung, các họp đồng tiền tệ tương lai là những hợp đồng được tiêu chuẩn hóa và được giao dịch trên các sờ giao dịch. Trong hợp đồng mua bán tiền tệ tương lai, người mua và người bán không có ý định thực sự giao trỗ tiền đã ghi trong họp đồng. Người mua họp đồng tiền tệ tương lai thường bán lại hợp đồng khi gần đáo hạn hợp đồng để kiếm lợi bù trù cho phần lỗ m à họ có thể gánh chịu t ừ biến động tỷ giá. Người bán hợp đồng tiền tệ tương lai thuồng mua lại hợp đồng đó khi gần đáo hạn cũng với mục đích tương tự. Những nghiệp vụ mua rồi lại bán, bán rồi lại mua các hợp đồng tiền tệ tương lai này được gọi là nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro biến động tỷ giá (hedging). Các công ty, cá nhân và cỗ các ngân hàng tạo thị trường gửi các lệnh đặt mua, đặt bán một số lượng cố định ngoại hối cho các nhà môi giới hay các thành viên của sờ giao dịch. Trên sở giao dịch, các lệnh đặt mua (long positions) được đối chiếu với các lệnh đặt bán (short positions). M ộ t công ty thanh toán bù trừ (clearing corporation) của sở giao dịch đỗm bỗo cho cỗ hai bên mua và bán rằng các lệnh đặt mua và đặt bán sau khi được đối chiếu và khép với nhau sẽ chắc chắn được thực hiện. Cung và cầu về các hợp đồng tương lai được thể hiện thông qua việc các đối tác sẵn sàng mua hoặc sẵn sàng bán các hợp đồng. Do đó, giá cỗ các hợp đồng biến động theo giá của các lệnh đặt mua, đặt bán. Giá cỗ biến động khiến cho các hợp đồng mua, bán có thể khớp với nhau. Trong trường hợp đặc biệt, các lệnh đặt mua và lệnh đặt bán cách xa nhau về mức giá, không có lệnh nào khép được v ớ i nhau, 13
  18. giao dịch trên thị trường không xảy ra; trường hợp này gọi là "hố ngầm trên sở giao dịch" (trading pit). Đe một thị trường trở thành thị trường của các hợp đồng tương lai thì trên thị trường chỉ tồn tại một số í ngày giá trị nhất định. Tại Sờ giao dịch t Chicago - CME chỉ có 4 ngày giá trị là: thứ 4 tuần thứ ba (third Wednesday) trong các tháng 3, 6, 9, 12. Nhằm tạo ra các điều kiỗn đồng nhất giữa các hợp đồng, hợp đồng tương lai đối với mỗi loại ngoại tỗ có một số lượng nhất định: 62 500 GBP/hợp đồng, 100 000 CAD/hợp đồng, 125 000 CHF/ hợp đồng, 100 000 AUD/ hợp đồng, 125 000 EUR/ hợp đồng. Điều bắt buộc trong giao dịch tương lai là người mua và người bán phải có tài khoản ký quỹ (margin) và phải trả phí giao dịch. Tiền đặt cọc thường tò mức 3 % đến 2 5 % tùy giá trị hợp đồng tùy theo lượng ngoại tỗ đặt mua, bán nhiều hay ít. Khoản ký quỹ ban đầu này phổ biến là 4 % giá trị hợp đồng và được chấp nhận bằng tiền mặt và trái phiếu chính phủ. Khoản ký quỹ này được duy trì trên tài khoản mở tại nhà môi giới, nhà môi giới lại phải ký quỹ tại nhà thanh toán bù trừ của sờ giao dịch. Nhà thanh toán bù trừ đối chiếu các lỗnh mua, lỗnh bán với nhau, tiến hành giao dịch các lỗnh khớp. Nếu số dư trên tài khoản ký quỹ giảm xuống dưới mức quy định, thông thường là 7 5 % mức ký quỹ ban đầu thì những người nắm giữ hợp đồng tương lai sẽ nhận được margin call - lỗnh yêu cầu nộp một khoản ký quỹ bố sung (maintenance margin). Ngược lại, nếu giá trị thị trường của hợp đồng tăng, phần tăng thêm được ghi có vào tài khoản ký quỹ, người nắm g i ữ hợp đồng tương lai có thể rút ra. Khoản ký quỹ được điều chỉnh hàng ngày (mark to the market). N ế u người nắm giữ họp đồng không thực hiỗn nghĩa vụ ký quỹ bổ sung thì nhà môi giới sẽ tự động thanh lý họp đồng. Đ ố i với mỗi họp đồng tương lai, viỗc thanh toán lãi l ỗ vào cuối m ỗ i ngày giống như viỗc tất toán trước hạn: tất toán hợp đồng kỳ hạn cũ có thời 14
  19. hạn (t + 1) để ký hợp đồng kỳ hạn mới có thời hạn (t) nhưng có cùng ngày giá trị với hợp đồng kỳ hạn cũ. Việc hàng ngày điều chỉnh giá trị hợp đồng tương lai theo giá thị trường có nghĩa là mọi khoản l i lỗ phát sinh đều được quyết ã toán hàng ngày. Hạn mức duy t ì (maintenance level) trên tài khoản ký quỹ đã r giảm rủi ro mặt khả năng thanh toán của nhà đầu tư. Ngoài ra, m ọ i hợp đồng tương lai với cả người mua và người bán đều được công t y thanh toán bù t r ừ của sờ giao dịch đảm bảo. Nếu có khả năng người mua hoặc người bán mặt khả năng thanh toán thì người có lợi vẫn được đảm bảo bởi công t y thanh toán bù trừ sẽ chịu trách nhiệm. Hợp đồng tương lai có thời hạn t ố i đa là 12 tháng trong k h i hợp đồng kỳ hạn có thể kéo dài tới 20 năm. Nhưng, các hợp đồng tương lai í được t thanh toán tại thời điểm đến hạn (theo thống kê thì chỉ khoảng 1 % hợp đồng tương lai được giữ đến khi đáo hạn). V à ngay cả k h i hợp đồng tương lai được thanh lý tại thời điểm đến hạn thì rủi ro điều chỉnh giá trị theo điều kiện thị trường (marking-to-market risk) vẫn tồn tại vì giữa khoản lãi (lỗ) trên tài khoản ký quỹ và sự biến động tỷ giá giao ngay trên thị trường không phải lúc nào cũng bù đắp cho nhau một cách hoàn hảo. d. H ợ p đồng hối đoái quyền chọn N ă m 1982 hợp đồng hối đoái quyền chọn lần đầu tiên xuặt hiện. Việc mua bán này có thể thực hiện tập trung tại sở giao dịch hoặc phi tập trang. Khác với các hợp đồng ra đời trước đó, họp đồng hối đoái quyền chọn cho phép người mua họp đồng có quyền, nhưng không có nghĩa vụ, mua hoặc bán một loại ngoại tệ nhặt định, tại một mức tỷ giá xác định thỏa thuận t ừ trước (tỷ giá quyền chọn) trong tương lai. Trong giao dịch quyền chọn, người mua quyền chọn có quyền lựa chọn: giao dịch theo tỷ giá đã thỏa thuận trong hợp đồng nếu thặy có lợi cho mình, hoặc để cho họp đồng t ự động hết hạn m à không thực hiện giao dịch nếu thặy làm như vậy có l ợ i hơn. T u y nhiên, người 15

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản