intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận án tiến sĩ Khoa học cây trồng: Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật sản xuất khoai tây vụ đông tại tỉnh Thái Nguyên

Chia sẻ: Trần Văn Gan | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:203

33
lượt xem
5
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận án được nghiên cứu với mục tiêu nhằm xác định một số biện pháp kỹ thuật trồng khoai tây phù hợp trong điều kiện vụ đông tại tỉnh Thái Nguyên. Trên cơ sở đó bổ sung và hoàn chỉnh biện pháp kỹ thuật thâm canh khoai tây ở tỉnh Thái Nguyên góp phần mở rộng diện tích khoai tây trên đất ruộng hai vụ lúa.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận án tiến sĩ Khoa học cây trồng: Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật sản xuất khoai tây vụ đông tại tỉnh Thái Nguyên

  1. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ––––––––––––––––––––– HOÀNG THỊ MINH THU NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT  SẢN XUẤT KHOAI TÂY VỤ ĐÔNG  TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG THÁI NGUYÊN ­ 2019
  2. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ––––––––––––––––––––– HOÀNG THỊ MINH THU NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT  SẢN XUẤT KHOAI TÂY VỤ ĐÔNG  TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN Ngành: Khoa học cây trồng Mã số: 9.62.01.10 LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG Người hướng dẫn khoa học:                                          1. GS. TS. Trần Ngọc Ngoạn                                         2. PGS. TS.  Trần Văn Điền THÁI NGUYÊN ­ 2019
  3. 3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan tất cả  những kết qu ả nghiên cứu trong công trình này  là trung thực và chưa được công bố   ở  bất kỳ  công trình nào khác. Nếu sai tôi   xin chịu trách nhiệm hoàn toàn. Mọi trích dẫn trong luận án đều đã đượ c ghi  rõ nguồn gốc.  Nghiên cứu sinh Hoàng Thị Minh Thu
  4. 4 LỜI CẢM ƠN Để  hoàn thành luận án tôi luôn nhận được sự giúp đỡ  nhiệt tình của nhiều  cá nhân và cơ  quan nghiên cứu trong nước. Trước hết tôi xin được bày tỏ  lòng   cảm ơn sâu sắc nhất đến GS.TS. Trần Ngọc Ngoạn, PGS.TS Trần Văn Điền với  cương vị  là người hướng dẫn khoa học, đã có nhiều đóng góp trong nghiên cứu   và hoàn thành luận án.  Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái  Nguyên, Khoa Sau đại học, Khoa Nông học đã tạo điều kiện giúp đỡ  tôi trong   suốt quá trình thực hiện luận án. Tôi xin cảm  ơn sự  giúp đỡ  quý báu của các thầy cô giáo Khoa Nông học,  Viện Khoa học sự  sống, Trường  Đại học Nông lâm Thái Nguyên. Trung tâm  Nghiên cứu và phát triển cây có củ ­ Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, Bộ  môn Nghiên cứu khoai tây thuộc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây có củ.  Tôi xin cảm  ơn Sở  Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên,  Phòng Kinh tế  Thành Phố  Thái Nguyên, Phòng Nông nghiệp huyện Phú Lương  tỉnh Thái Nguyên đã giúp đỡ  tôi địa bàn tốt để  tiến hành các thí nghiệm và thực  hiện các mô hình nghiên cứu. Thái Nguyên, ngày 10/10/2018 Nghiên cứu sinh Hoàng Thị Minh Thu
  5. 5 MỤC LỤC
  6. 6 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT      Bộ NN&PTNT  : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cs : Cộng sự  CT : Công thức Đ/c : Đối chứng  DTTLCPĐ         : Diện tích tán lá che phủ đất FAO : Food and Agriculture Organization   H : Hữu cơ HX : Héo xanh KHKTNNVN : Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam  KL : Khối lượng MĐ : Mật độ MS : Mốc sương NSLT : Năng suất lý thuyết  NSTT : Năng suất thực thu PK : Phân khoáng PL                    : Phú Lương QCVN             : Quy chuẩn Việt Nam RCBD : Rendomized completed block design  (kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh). SAS        : SAS systemversion8.SAS Inst.,Cary, NC Sở KH&CN       : Sở khoa học và Công nghệ ST : Sinh trưởng T                       : Tưới TB                   : Trung bình  TCN                : Tiêu chuẩn ngành TGST               : Thời gian sinh trưởng TPTN                : Thành Phố Thái Nguyên TV : Thời vụ V : Vun
  7. 7 VR : Virút DANH MỤC CÁC BẢNG
  8. 8 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
  9. 9 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây khoai tây  (Solanum  tuberosum)  là cây lương thực của nhiều nước  châu Âu và  ở  một số  nước khoai tây là cây lương thực chủ  yếu (Đường Hồng   Dật, 2005)[7]. Củ  khoai tây chứa 20% lượng chất khô, trong đó có 80 ­ 85% là   tinh bột, 3 ­ 5% là protein và một số  vitamin khác (Nguyễn Văn Thắng và Bùi  Thị Mỳ, 1996) [38].  Khoai tây có tiềm năng năng suất khá cao tới 100 ­ 120 tấn/ha. Tuy nhiên  sự biến động về tiềm năng năng suất giữa các vụ và các vùng là khá lớn (Caldiz   et al.,  2001) [65]. Do khoai tây chịu tác động mạnh của những yếu tố  từ  bên  ngoài. Nhiệt độ thích hợp cho thân lá phát triển là 180C, củ phát triển là 16 ­ 17oC;  ánh sáng ngày dài thích hợp cho giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, giai đoạn củ  hình thành thì cây lại yêu cầu ánh sáng ngày ngắn. Yêu cầu về ẩm độ  cũng thay   đổi theo các thời kỳ sinh trưởng và phát triển, trước khi hình thành củ ẩm độ cần   là 60%, thời kỳ hình thành củ ẩm độ  đất phải đạt 80%. Để  đạt được năng suất  cao, khoai tây còn yêu cầu lớp đất mặt phải rất tơi xốp, đất thịt nhẹ, đất cát pha  thích hợp với cây khoai tây (Đường Hồng Dật, 2005) [7]. Thời gian sinh trưởng  ngắn nhưng khoai tây lại là cây cho hiệu quả kinh tế cao, 1 ha có thể thu nhập từ  30 ­ 40 triệu đồng. Theo Nguyễn Công Chức (2001) [2]. Khoai tây đóng góp từ 42  ­ 48% thu nhập từ trồng trọt, 4,5 ­ 22,5% trong tổng thu nhập c ủa hộ trồng khoai   tây. Ở  Việt Nam khoai tây là một trong nh ững cây thực phẩm quan tr ọng   và đặc biệt là cây hàng hóa có hiệu quả kinh t ế cao. Tuy nhiên hiện nay việc   sản xuất khoai tây chưa khai thác hết tiềm năng, năng suất cây khoai tây  ở  Việt Nam còn rất thấp, đạ t 73,74% (năm 2017) so với năng suất trung bình   của thế giới (FAOSTAT, 2019) [140]. Đồng bằng Bắc bộ có một mùa đông lạnh với nhiệt độ trung bình khoảng  16,6 ­ 25,50C, phù hợp cho cây khoai tây sinh trưởng, phát triển, chủ yếu đất phù   sa, đất cát pha, đất thịt nhẹ  lớn, hệ  thống thuỷ  nông hoàn chỉnh là điều kiện   thuận lợi cho phát triển và mở  rộng sản xuất khoai tây. Trong những năm gần   đây diện tích khoai tây cả nước dao động trong khoảng 35.000 ha, tập trung chủ  yếu ở  đồng bằng sông Hồng (Đào Huy Chiên, 2002) [1]. Có khả  năng thích hợp 
  10. 10 với nhiều vùng sinh thái, cho năng suất cao, củ  giàu dinh dưỡng nên khoai tây   được trồng rất phổ biến. Sản phẩm thu hoạch dễ tiêu thụ và dễ thương mại hoá.   Cây khoai tây nếu được đầu tư thâm canh sẽ có sản lượng cao và lượng hàng hóa   lớn, có giá trị xuất khẩu làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc thuộc vùng Đông Bắc   nước ta với diện tích đất tự  nhiên hơn 3562,82 km2 và dân số  khoảng 1,2 triệu  người (Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2017) [4]. Thị  trường tiêu thụ  khoai tây   tại Thái Nguyên rất lớn do dân số đông, có nhiều trường đại học, cao đẳng, trung  học chuyên nghiệp, đơn vị quân đội, Công ty Sam Sung đóng trên địa bàn; mặc dù  nhu cầu tiêu thụ khoai tây lớn, song hầu hết sản lượng tiêu thụ khoai tây của tỉnh  đều nhập từ  tỉnh ngoài và Trung Quốc, sản lượng khoai tây trong tỉnh còn thấp  chưa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân. Thời tiết khí hậu vụ đông tại Thái Nguyên rất phù hợp cho sinh trưởng và   phát triển của cây khoai tây, với nhiệt độ  bình quân từ 16,6 ­ 25,5 0C; lượng mưa  từ 0,3 ­ 322,5 mm; ẩm độ trung bình từ 72 ­ 75%. Trong những năm gần đây khoai  tây đã được đưa vào cơ cấu cây trồng vụ đông, tỉnh đã có nhiều chính sách để hỗ  trợ phát triển và mở rộng diện tích khoai tây, vì vậy khoai tây đã chiếm một vị trí   quan trọng trong phát triển cây vụ đông tại tỉnh Thái Nguyên, tiềm năng mở rộng  diện khoai tây vụ đông rất lớn. Tuy nhiên diện tích trồng khoai tây của tỉnh đang   giảm dần, nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế trên do thiếu nguồn giống chất  lượng người dân trồng khoai tây chủ  yếu trồng giống Trung Quốc chất lượng  kém, sâu bệnh nhiều, năng suất thấp chất lượng khoai tây chưa đảm bảo và đặc  biệt các biện pháp kỹ thuật canh tác như; thời vụ, mật độ, phân bón, tưới nước,   vun gốc chưa phù hợp. Do đó để  mở  rộng diện tích khoai tây vụ  đông tại Thái  Nguyên cần phải có nghiên cứu tổng hợp, sâu rộng về  kỹ  thuật tuyển chọn  giống đến các biện pháp kỹ  thuật. Xuất phát từ  hạn chế đó chúng tôi tiến hành   đề  tài  “Nghiên cứu các biện pháp kỹ  thuật sản xuất khoai tây vụ  đông tại   tỉnh Thái Nguyên” 2. Mục tiêu nghiên cứu ­  Đánh giá thực trạng sản xuất khoai tây nhằm xác định các yếu tố  hạn   chế năng suất khoai tây tại tỉnh Thái Nguyên. 
  11. 11 ­ Xác định giống khoai tây có năng suất cao, phẩm chất tốt phù hợp với  điều kiện vụ đông tại Thái Nguyên để đưa vào sản xuất. ­ Xác định một số biện pháp kỹ  thuật trồng khoai tây phù hợp trong điều  kiện vụ  đông tại tỉnh Thái Nguyên. Trên cơ  sở  đó bổ  sung và hoàn chỉnh biện  pháp kỹ  thuật thâm canh khoai tây  ở  tỉnh Thái Nguyên góp phần mở  rộng diện  tích khoai tây trên đất ruộng hai vụ lúa.  ­ Xây dựng mô hình sản xuất thâm canh khoai tây đạt năng suất và hiệu  quả kinh tế cao trên đất hai vụ lúa. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu ­ Giống khoai tây: Lựa chọn giống khoai tây có triển vọng gồm 8 giống   khoai tây nhập nội qua thí nghiệm nghiên cứu giống vụ đông trên đất ruộng 2 vụ  tại tỉnh Thái Nguyên. ­ Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật sản xuất khoai tây vụ đông gồm   mật độ, thời vụ, phân bón, tưới nước, vun. 3.2. Phạm vi nghiên cứu ­ Thí nghiệm nghiên cứu một số  đặc điểm của giống và biện pháp kỹ  thuật sản xuất khoai tây bố  trí tại xã Thịnh Đức Thành Phố  Thái Nguyên và xã  Phấn Mễ huyện Phú Lương. ­ Mô hình sản xuất thử  nghiệm tại xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, xã  Thịnh Đức Thành Phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. 4. Đóng góp mới của luận án ­ Đã xác định được giống khoai tây có triển vọng tốt là giống KT1  có thời  gian sinh trưởng trung bình, sinh trưởng phát triển tốt, nhiễm sâu bệnh nhẹ, năng   suất cao (31 ­ 32 tấn/ha), chất lượng tốt, phù hợp với nhu cầu ăn tươi và chế  biến. ­ Đã xác định được một số  biện pháp kỹ  thuật thích hợp đối với giống  khoai tây KT1 vụ  đông tại Thái Nguyên. Thời vụ  trồng tốt nhất từ ngày 01/11 ­   10/11. Đối với phân khoáng xác định được lượng phân bón 15 tấn phân chuồng +   180kg N + 180 kg P2O5 + 180 kg K2O/ha, với mật độ  trồng 5 khóm/m2 đạt năng 
  12. 12 suất và hiệu quả  kinh tế  cao. Phân kali đã xác định được công thức bón 15 tấn   phân chuồng + 150 kg N + 150 kg P 2O5   + 180 kg K2O/ha cho năng suất, hiệu quả  kinh tế cao nhất. Tưới nước bổ sung 3 lần (15 ngày  sau trồng, 45 ngày sau trồng,  75 ngày sau trồng). Vun luống 2 lần/vụ (15 ngày sau trồng và 45 ngày sau trồng). 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài ­ Kết quả thu được từ các thí nghiệm về xác định giống và các biện pháp  kỹ  thuật là căn cứ  khoa học để  bổ  sung hoàn thiện quy trình kỹ  thuật sản xuất  khoai tây tại tỉnh Thái Nguyên. ­ Kết quả  nghiên cứu có thể  dùng tham khảo trong giảng dạy và nghiên   cứu tuyển chọn giống khoai tây. 5.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài ­ Tuyển chọn được một số  giống khoai tây có triển vọng cho năng suất   cao và chất lượng tốt phục vụ sản xuất vụ đông trên đất ruộng hai vụ lúa. ­ Bổ sung luận cứ khoa học để lựa chọn giống khoai tây nhập nội phù hợp  và xây dựng quy trình sản xuất khoai tây trong điều kiện vụ  đông tại tỉnh Thái   Nguyên.
  13. 13 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Cơ sở khoa học của đề tài Tăng năng suất cây trồng là mục tiêu quan trọng nhất của mọi tiến bộ kỹ  thuật về giống và canh tác. Dân số  ngày càng tăng kéo theo nhu cầu lương thực  không ngừng tăng lên, trong khi đất canh tác bị  thu hẹp và để  ứng phó với biến   đổi khí hậu, chúng ta cần phải thường xuyên chọn tạo giống cây trồng phù hợp  với điều kiện ngoại cảnh luôn thay đổi, đồng thời áp dụng các biện pháp kỹ  thuật thâm canh tăng năng suất. Giống có vai trò rất quan trọng, góp phần nâng cao năng suất và sản lượng   cây trồng. Năng suất cây trồng có thể tăng lên một cách đáng kể nếu chọn được  giống có tiềm năng năng suất cao và ổn định. Hiện nay các giống khoai tây đang  phổ  biến trong sản xuất tại Việt Nam nói chung và Thái Nguyên nói riêng chủ  yếu là nhập nội. Do vậy trước khi đưa vào sản xuất ở một vùng nào đó cần đánh  giá khả  năng thích  ứng của giống với các điều kiện sinh thái khác nhau, đồng  thời áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp. Khi nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật cho khoai tây, nhiều tác giả đã kết   luận khoai tây trồng an toàn trong thời tiết vụ đông ở miền Bắc nước ta (từ 15/10   trở  đi) và có thể  trồng thêm khoai tây vụ  xuân. Tuy nhiên, việc xác định thời vụ  trồng khoai tây còn phụ thuộc vào yếu tố đất đai và khí hậu từng vùng (Trương  Văn Hộ, 1992) [15].  ́ ́ ̉ Cac kêt qua nghiên c ứu cho thây mât đô và khoang cach trông, sô thân trên ́ ̣ ̣ ̉ ́ ̀ ́   ̣ ơn vi diên tich co anh h môt đ ̣ ̣ ́ ́ ̉ ưởng rât ro rêt đên năng suât va chât l ́ ̃ ̣ ́ ́ ̀ ́ ượng  khoai   tây.   Khoai   tây   được   trồng   bằng   phương   pháp   làm   đất   tối   thiểu,   mật   độ   và  khoảng cách trồng được khuyến cáo như sau: Trồng 2 hàng cách mép luống 30 ­   35 cm, hàng cách hàng 35 ­ 40 cm; củ cách củ 30 cm, tương đương 5 ­ 6 vạn củ  giống/ha (Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 2013) [147]. Khoai tây là một trong những loại cây trồng cho năng suất cao, do đó đòi  hỏi nhiều chất dinh dưỡng cho quá trình sinh trưởng và phát triển. Lượng phân  ̣ ̣ ̣ ́ ̣ ̉ ̣ bon cho khoai tây phu thuôc vao loai đât, đô phi nhiêu cua đât, tinh trang luân canh ́ ̀ ̀ ́ ̀   ̀ ời gian sinh trưởng cua khoai tây, đô âm va mât đô trông va canh tac, giông va th ̀ ́ ́ ̉ ̣ ̉ ̀ ̣ ̣ ̀  
  14. 14 (Smith, 1987) [123]. Khi trồng khoai tây giống mới theo hướng thâm canh để  có  năng suất, hiệu quả cao nhất thiết phải bón phân. Cần thực hiện tưới rãnh nhẹ  để  khoai tây nhanh mọc trong trường hợp đất bị  khô. Thực hiện vun xới 2 lần  kết hợp bón thúc. Thường xuyên tưới nước giữ ẩm cho khoai tây, tốt nhất bằng   biện pháp tưới rãnh (Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 2015) [148]. Như  vậy, để  trồng khoai tây đạt hiệu quả  kinh tế  cao thì mỗi vùng sinh   thái cần nghiên cứu để tìm ra bộ giống tốt và biện pháp canh tác phù hợp. 1.2. Một số nghiên cứu về yêu cầu ngoại cảnh đối với cây khoai tây 1.2.1. Yêu cầu về nhiệt độ Nhiệt độ  là yếu tố  quan trọng  ảnh hưởng đến sự  phát triển của cây và  năng suất củ. Nhiệt độ  trong vụ trồng bình quân 16°C ­ 18°C là thích hợp và cho  năng suất cao nhất. Khi nhiệt độ cao, cây khoai tây bị giảm sự đồng hóa, tăng dị  hóa; nhiệt độ  ban đêm cao sẽ  làm giảm sản lượng chất khô của cây. Sự  phát  triển tối  ưu của cây khoai tây khi nhiệt độ  ban ngày 20°C, ban đêm 14°C. Nếu  nhiệt độ  ban ngày  ở  mức 21°C ­ 24°C, ban đêm 10°C hoặc thấp hơn một chút,  khoai tây cũng có năng suất cao. Nhưng khi nhiệt độ bình quân dưới 10°C sẽ làm   giảm sự sinh trưởng của cây, dưới 5°C cây ngừng sinh trưởng.  Cây khoai tây có ba giai đoạn: Giai đoạn phát triển thân lá, giai đoạn hình   thành củ và giai đoạn phình to củ. Mỗi giai đoạn có yêu cầu nhiệt độ khác nhau.  Từ mọc đến phát triển thân lá, cây khoai tây cần nhiệt độ tương đối cao, thay đổi  từ  16°C ­ 24°C,  ở  giai đoạn này thân lá phát triển đầy đủ  thì năng suất củ  mới   cao. Giai đoạn hình thành củ  cần nhiệt độ  thấp hơn. Rashid năm 1974 có nhận  xét, củ khoai tây hình thành nhanh nhất  ở nhiệt độ  ban ngày 20°C ­ 21°C và ban  đêm 14°C. Giai đoạn phình củ  cần nhiệt độ  thấp hơn kết hợp với ngày dài và  cường độ ánh sáng cao (Trương Văn Hộ, 2010) [17]. Nhiệt độ  không khí thích hợp nhất cho củ khoai tây phát triển từ  18­190C  và nhiệt độ đất 16­ 170C. nếu nhiệt độ từ 200C trở lên quá trình hình thành củ của  khoai tây bắt đầu bị kìm hãm. Nhiệt độ lên cao quá 25 0C sẽ trở ngại cho quá trình  hình thành và phát triển củ. Trong thời kỳ hình thành củ, nhiệt độ cao kéo dài gây   ra hiện tượng củ không được tích lũy chất khô một cách đầy đủ, dẫn đến năng  suất và chất lượng giống giảm rõ rệt ở các đời sau. (Trương Văn Hộ, 2010) [17].
  15. 15 Như vậy, cây khoai tây sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao trong  điều kiện nhiệt độ  thấp. Nhiệt độ  thích hợp cho thân lá phát triển là 18 ­ 20 0C,  thân củ phát triển là 18 ­ 190C. Tuy nhiên, nhiệt độ  quá thấp làm cây bị  chết rét,  còn nhiệt độ  cao thì củ hình thành kém, nhanh thoái hóa và bệnh virút phát triển  mạnh. Để  nâng cao năng suất và chất lượng củ khoai tây cần nghiên cứu để  có   thời vụ thích hợp với từng vùng. 1.2.2. Yêu cầu về ánh sáng Khoai tây là cây ưa sáng, năng suất khoai tây phụ thuộc vào khả năng hấp  thu và hiệu quả của việc sử dụng năng lượng ánh sáng để tổng hợp nên chất khô  của củ và chỉ số thu hoạch. Cường độ ánh sáng thích hợp cho sự hình thành củ và   năng suất khoai tây là 20.000 ­ 50.000 lux (Allen and Scott  .,1980) [50]. Trong  điều kiện khí hậu giống nhau, không thiếu nước hoặc dinh dưỡng và không xuất   hiện sâu bệnh hại thì sự khác nhau về sinh trưởng, phát triển và năng suất là do   khả năng hấp thu ánh sáng khác nhau giữa các giống (Spitter, 1987; Van der Zaag   and Doombos JH, 1987) [124], [132]. Độ  dài ngày  ảnh hưởng rất lớn đến sự  sinh trưởng phát triển của cây   khoai tây. Ở điều kiện ngày dài trên 14 giờ chiếu sáng/ngày của mùa xuân và mùa   hè ở các nước ôn đới, thời gian sinh trưởng của cây khoai tây dài tới hơn 4 tháng   gần 5 tháng, có thời gian phát triển thân lá dài, sau đó mới đến giai đoạn hình  thành củ  và phình to củ. Người ta thấy rằng cây khoai tây trong điều kiện dài  ngày có hàm lượng hoomon gibberellin cao, nên đã làm chậm sự  hình thành củ.   Do thời gian sinh trưởng dài nên năng suất khoai tây  ở  vùng ôn đới khá cao, về  tiềm năng nhiều nơi tới 100 ­ 120 tấn củ/ha, nhiều nước đạt năng suất bình quân   35 ­ 40 tấn/ha. Những nước vùng nhiệt đới trồng khoai tây trong điều kiện ngày ngắn,   dưới 12 giờ/ngày nên hình thành củ sớm ngay khi thân lá còn trong giai đoạn đang   phát triển. Vì vậy, thời gian sinh trưởng ngắn, chỉ  trên dưới 3 tháng, nên năng   suất củ thấp, tiềm năng năng suất không cao. Những giống khoai tây ở  vùng ôn  đới đem trồng  ở  Việt Nam sẽ  rút ngắn khoảng 30% thời gian trồng  ở  vùng ôn  đới (Trương Văn Hộ, 2010) [17]. Trong điều kiện ngày dài, cây khoai tây ra hoa, kết quả nhiều h ơn ngày  ngắn. Nếu  ở nhiệt độ  thấp trong điều kiện ngày dài hoặc ngắn, khoai tây đều  
  16. 16 ra củ  sớm. Về  cường độ  ánh sáng với khoai tây, ánh sáng có cườ ng độ  mạnh   sẽ  làm cho quá trình quang hợp tăng lên, cây phát triển thuận lợi. N ếu c ường   độ  ánh sáng yếu, trời nhiều mây âm u kéo dài, cây quang hợp kém, năng suất   khoai tây thấp. Mặt khác cườ ng độ  ánh sáng quá cao cũng gây ra tạo củ  sớm,   ra hoa nhanh dẫn đến thời gian sinh tr ưởng ng ắn, năng suất củ thấp.  1.2.3. Yêu cầu về nước Nước là một trong những yếu tố quyết định đến sự sinh trưởng, phát triển  của cây khoai tây, đến năng suất và chất lượng của củ khoai tây. Muốn cây khoai  tây có hiệu suất quang hợp cao, đất phải đủ ẩm để cho bộ rễ hút đủ lượng nước   cần thiết và chất khoáng để  điều tiết nhiệt độ  của cây. Nếu đất khô hạn, lá khô  sẽ bị héo, khí khổng khép lại, hiệu suất quang hợp của cây sẽ giảm sút. Nếu thiếu  nước kéo dài trầm trọng thì cây sẽ chết. Nếu quá nhiều nước sẽ gây nên yếm khí,  trong đất thiếu O2 sẽ làm cho bộ rễ bị chết, đồng thời những khí khổng trên vỏ củ  bị trương nước sẽ là nơi để vi khuẩn và nấm xâm nhập làm thối củ (Trương Văn   Hộ, 2010) [17].  Trong suốt thời gian sinh trưởng, phát triển cây khoai tây cần rất nhiều  nước. Theo một số  nghiên cứu, một héc ta khoai tây cho năng suất củ  từ  19­33  tấn/ha thì cần từ 2.800 ­ 2.900 m3 nước. Để tạo ra 100 kg củ khoai tây cần 12 ­ 15   m3 nước (Ngô Đức Thiệu và Nguyễn Văn Thắng, 1978) [41].   Nghiên cứu của Deblonde  et al., (1999) [70] chỉ  rõ, năng suất và yếu tố  cấu thành năng suất bị  tác động mạnh bởi tổng lượng nước tưới. Tuy nhiên tác  động  của  hạn  đến  cây  trồng phụ  thuộc  vào thời  gian,   giai  đoạn và   mức  độ  nghiêm trọng của khô hạn (Jefferies, 1995) [96]. Hạn thường tác động mạnh ở 3  giai đoạn: sinh trưởng, phình to củ và chín. Thiếu nước ở giai đoạn cuối của thời   gian sinh trưởng sinh dưỡng làm cho khoai tây có năng suất thấp nhất, thiếu  nước ở giai đoạn chín thì củ khoai tây lại to nhất (Fabeiro et al., 2001) [78]. Nghiên cứu của Iqbal et al., (1999) [94] cũng cho kết quả là, hạn xuất hiện   vào giai đoạn chín làm giảm năng suất ít nhất, xuất hiện sớm sẽ   ảnh hưởng  mạnh nhất đến năng suất, tiếp theo là giai đoạn hình thành củ. Điều đó được 
  17. 17 Kashyap et al., (2003) [99] giải thích rằng, hầu hết các giai đoạn nhạy cảm với   sự  thiếu nước là  ở  thời kỳ  sinh trưởng sinh dưỡng nên thiếu nước  ở  giai đoạn  này ảnh hưởng đến năng suất mạnh nhất. Như vậy, nước rất cần thiết cho sinh trưởng, phát triển và tạo năng suất   của cây khoai tây. Thiếu nước  ở  giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng  ảnh hưởng   nhiều nhất đến năng suất. Vì vậy trong điều kiện  ở  miền Bắc Việt Nam, vụ  đông thường có lượng mưa thấp và biến động giữa các vùng khá lớn nên cần   nghiên cứu chế độ tưới nước hợp lý cho khoai tây trong từng điều kiện cụ thể. 1.2.4. Yêu cầu về đất đai và dinh dưỡng của khoai tây Củ khoai tây khi phát triển có khả  năng dịch chuyển các phân tử  đất yếu  hơn so với nhiều loại rễ  củ khác nên đòi hỏi lớp đất mặt, là nơi khoai tây hình   thành củ  phải rất tơi xốp. Các loại đất cát pha, đất nhẹ, thậm chí là đất cát là   thích hợp với cây khoai tây. Các loại đất nặng và quá ẩm ướt, cây khoai tây phát  triển không tốt và thường bị bệnh thối ướt gây hại. Trên các loại đất nặng, hàm  lượng tinh bột trong củ giảm, củ cũng nhỏ đi nhiều. Mặt khác khoai tây còn sinh  trưởng, phát triển và cho năng suất giảm dần khi trồng liên tiếp từ  vụ này sang  vụ khác trong nhiều năm trên cùng một chân đất (Đường Hồng Dật, 2005) [7]. Đất trồng khoai tây thích hợp là đất phù sa nhẹ, đất cát pha, đất nhẹ  tơi   xốp có lượng mùn cao, lớp đất canh tác dày, giữ ẩm tốt, có điều kiện tưới nước   và thoát nước. Nếu trồng trên đất thịt nặng, củ sẽ phát triển không đều, bị  méo   mó, mã củ  xấu. Khoai tây có thể  phát triển được trên đất có độ  pH từ  4,8 ­ 7,1.  Do chịu được chua mặn nên  ở  Hà Lan đã dùng khoai tây là cây tiên phong trồng  trên đất mới lấn biển có độ chua cao. Tuy nhiên, độ pH lý tưởng với khoai tây là   5,2 ­ 6,4. Nếu đất có độ pH kiềm trên 7, khoai tây dễ bị nhiễm bệnh ghẻ củ. Đất  có hàm lượng clo cao sẽ  giảm hàm lượng chất khô của củ  (Trương Văn Hộ,   2010) [17]. Đất có tầng canh tác dày và tơi xốp khả năng giữ nước và thông khí tốt là   thích hợp nhất với khoai tây và sẽ  cho năng suất cao nhất. Đất có pH từ  5 ­ 7,   nhưng thích hợp nhất là 6 ­ 6,5.  Đất lý tưởng cho sự  phát triển của khoai tây là đất tiêu nước tốt, dễ  vỡ  vụn. Đất có hàm lượng sét cao cần được xử lý đặc biệt như luân canh cây trồng  thích hợp, trồng cây che phủ và các hoạt động cày xới đúng cách để duy trì năng  
  18. 18 suất trong một thời gian dài. Các loại đất có hữu cơ cao, nếu thoát nước đầy đủ,   cũng có thể sản xuất khoai tây chất lượng cao, đặc biệt cho thị trường ăn tươi.   Đất cát, có chứa ít đất sét hoặc ít chất hữu cơ  khi được tưới tiêu và bón phân  đúng cách, sẽ cho năng suất và chất lượng chế biến cao. Mặc dù, khoai tây chịu   được đất có tính axít nhưng sẽ có lợi khi nâng pH đất đến 6,0 ­ 6,5 giúp gia tăng   hấp thụ lượng P và K trong đất, làm tăng hoạt tính của vi sinh vật, tăng sự phân   huỷ của chất hữu cơ để giải phóng N và tăng khả năng trao đổi cation đất (Bohl   và Johnson, 2010) [61].  Đất trồng khoai tây có pH nằm trong khoảng 5,5 ­ 6,8. Ở pH này khoai tây   ít bị bệnh ghẻ hay sần lỗ vỏ. Ham l ̀ ượng tinh bôt cua khoai tây thu đ ̣ ̉ ược cao nhât́  ́ ̀ ́ ̣ khi trông trên đât kiêm yêu hoăc trung tinh. Tuy nhiên, nghiên c ̀ ́ ứu khác đã ghi  nhận ham l ̀ ượng tinh bôt cua cu  ̣ ̉ ̉ ở pH đât trông trong pham vi 5,4 ­ 6,05 cao h ́ ̀ ̣ ơn   cả. Khi trông  ̀ ở đât chua y ́ ếu co pH = 5 thi khoai tây chin s ́ ̀ ́ ơm h ́ ơn, điêu nay lam ̀ ̀ ̀   ̉ ̀ ượng chât khô cua cây. Đ giam ham l ́ ̉ ể  đạt năng suất cao nên duy trì độ   ẩm của   đất khoảng 65%. Tùy thuộc vào nhiệt độ ngày và giai đoạn phát triển của cây mà   lượng nước tưới được tính toán nhằm duy trì độ  ẩm của đất. Tưới sát ngày thu   hoạch làm giảm độ  cứng và gia tăng các vấn đề  trong lưu trữ  (Kader và Rolle,   2004) [97]. Khoai tây có thể  trồng được trên các loại đất: đất cát pha, đất thịt nhẹ, đất phù sa có tầng canh tác dày, nhiều mùn. Để  cây khoai tây sinh trưởng tốt,   năng suất cao thì cần bố  trí trồng trên các chân đất vàn, vào cao; đất có độ  tơi   xốp, thuận tiện trong việc tưới tiêu và thoát nước tốt. Khoai tây đông thường   được bố  trí trên chân đất 2 vụ  lúa (lúa đông xuân + lúa mùa + khoai tây đông).  Cày bừa, làm đất nhỏ vơ sạch cỏ dại, tàn dư cây trồng vụ trước. Lên luống càng   cao càng tốt, lên luống đơn, luống rộng 0,6 ­ 0,7 m (trồng 1 hàng) hoặc lên luống   kép, luống rộng 1,2 ­ 1,4 m (trồng 2 hàng). Rãnh luống rộng từ 30 ­ 40 cm, sâu từ  15 ­ 25 cm (Thái Hà và Đằng Mai, 2011; Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, 2015)  [12], [148]. Khoai tây yêu cầu một lượng dinh dưỡng lớn và đầy đủ  các nguyên tố đa  lượng và vi lượng. Trung bình một tấn củ  khoai tây (kể  cả  thân lá tương  ứng)   lấy đi từ đất là 5,68 kg N, 1,11 kg P2O5, 8,92 kg K2O. Với năng suất 15 tấn/ha cây  khoai tây đã lấy đi 88 kg N, 17 kg P2O5, 134 kg K2O, 19 kg CaO và 16 kg MgO.  Rasco và Aromin, (1994) [116] cũng kết luận rằng, năng suất khoai tây phụ thuộc  
  19. 19 nhiều vào dinh dưỡng đất và khả  năng cung cấp của con người. Trong hầu hết  các trường hợp có sự tương quan giữa khối lượng chất khô và nồng độ  N, P, K.  Tuy nhiên mỗi nguyên tố dinh dưỡng đều tác động đến sinh trưởng, phát triển và  năng suất khoai tây theo góc độ khác nhau. Khoai tây là một trong những loại cây trồng cho năng suất cao, do đó đòi  hỏi nhiều chất dinh dưỡng để  phục vụ quá trình sinh trưởng và phát triển. Nitơ  (N), phốt pho (P) và kali (K) là những yếu tố quan trọng nhất cần thiết cho việc   hình thành năng suất và sản lượng khoai tây.  Ở  nhiều khu vực sản xuất khoai   tây, lượng phân bón đạm và lân được sử dụng rộng rãi, trong khi kali thường bị  bỏ qua (Pervez et al., 2013) [111].  1.2.5. Yêu cầu vê đ ̀ ộ ẩm đất Kết quả  nghiên cứu cho thấy cac loai đât khac nhau co kh ́ ̣ ́ ́ ́ ả  năng giữ  nước,  giữ nhiệt, trao đổi dinh dưỡng khác nhau nên có anh h ̉ ưởng khác nhau đên s ́ ự sinh  trưởng cua khoai tây va qua đo anh h ̉ ̀ ́̉ ưởng đên ham l ́ ̀ ượng chât khô, hàm l ́ ượng tinh   bột trong củ. Loại đất hấp thụ nước tốt và thoáng khí là cần thiết cho sự phát triển  và hình thành củ (Brandenberger et al., 2012) [ 63].  ̣ ̉ ́ ́ ̉   Đô âm đât co anh h ưởng đên ham l ́ ̀ ượng chât khô cua khoai tây va chât ́ ̉ ̀ ́  lượng chê biên cua chung. Trong nh ́ ́ ̉ ́ ưng vung han hoăc ban han, biên phap t ̃ ̀ ̣ ̣ ́ ̣ ̣ ́ ưới là  ̉ không thê thiêu khi trông khoai tây.  ́ ̀ Ở  nhưng vung âm h ̃ ̀ ̉ ơn, ngoai viêc l ̀ ̣ ợi dung ̣   nươc tr ́ ơi qua m ̀ ưa cung cân phai bô sung môt l ̃ ̀ ̉ ̉ ̣ ượng nươc t ́ ươi nhât đinh. Điêu kiên ́ ́ ̣ ̀ ̣   ́ ̉ ̣ ̉ ̃ ̉ ̉ ̀ ̣ ̣ ̉   đât đu đô âm se đam bao khoai tây co năng suât cao, tôt nhât nên duy tri môt đô âm ́ ́ ́ ́ đông nhât trong đât trong suôt qua trinh sinh tr ̀ ́ ́ ́ ́ ̀ ưởng cua cây khoai tây. Viêc t ̉ ̣ ươi qua ́ ́  dư thưa n ̀ ươc hoăc khoang cach gi ́ ̣ ̉ ́ ưa hai lân t ̃ ̀ ươi qua xa co thê lam giam năng suât ́ ́ ́ ̉ ̀ ̉ ́  ̣ hoăc cây co sinh tr ́ ưởng lai hoăc lam n ̣ ̣ ̀ ưt cu. Đê thu đ ́ ̉ ̉ ược khoai tây co ham l ́ ̀ ượng chât́  ̀ ̉ ́ ươi qua muôn vao luc thu hoach. M khô cao cân phai tranh t ́ ́ ̣ ̀ ́ ̣ ưa qua nhiêu hoăc t ́ ̀ ̣ ươi qua ́ ́  ̣ ương lam giam năng suât va lam giam ty trong cua cu (Smith, 1987) [123 ]. muôn th ̀ ̀ ̉ ́ ̀ ̀ ̉ ̉ ̣ ̉ ̉ ̀ ̣ ́ ̃ ̉ Khoai tây la môt cây rât mân cam vơi s ́ ự thiêu hut n ́ ̣ ươc trong đât. Ngay ca ́ ́ ̉  khi được tươi, đôi khi khoai tây vân bi stress n ́ ̃ ̣ ươc, đăc biêt la nh ́ ̣ ̣ ̀ ững ngay năng va ̀ ́ ̀  nong. S ́ ự  thiêt hai do stress n ̣ ̣ ươc cua khoai tây phu thuôc vao th ́ ̉ ̣ ̣ ̀ ơi điêm bi thiêu ̀ ̉ ̣ ́  nươc, th ́ ơi gian va c ̀ ̀ ương đô stress (Costa và MacKerron, 2000) [68].  ̀ ̣ ̣ Tai Nam Phi, thi ếu nươc xay ra vao luc băt đâu hinh thanh cu cho đên luc ́ ̉ ̀ ́ ́ ̀ ̀ ̀ ̉ ́ ́  ̣ ̉ ̀ ̣ ́ ̉ tao cu la nhân tô quan trong nhât anh h ́ ưởng đên s ́ ự  hinh thanh sinh khôi  ̀ ̀ ́ va năng ̀  
  20. 20 ́ ̉ suât cu. Khi được tươi đây đu trong điêu kiên nay, cu cho năng suât cao nhât. Hiêu ̀ ̉ ̀ ̣ ̀ ̉ ́ ́ ̣   ́ ươi n suât t ́ ươc thay đôi tuy theo ph ́ ̉ ̀ ương phap t ́ ươi va th ́ ̀ ơi gian trông, hiêu qua t ̀ ̀ ̣ ̉ ươí  nươc vao vu thu cao h ́ ̀ ̣ ơn vu đông (Steyn  ̣ et al., 2007) [126]. Đa có nghiên c ̃ ưu vê anh h ́ ̀̉ ưởng cua t ̉ ươi đên chât l ́ ́ ́ ượng chê biên cua khoai ́ ́ ̉   ̣ tây, nhân thây  ́ ở công thưc khoai tây co t ́ ́ ươi, khoai tây ch ́ ưa thanh thuc vao luc thu ̀ ̣ ̀ ́   ̣ ̉ ́ ưa nhiêu đ hoach. Trong cu co ch ́ ̀ ường khử dân đên mau săc cua chip sau khi ran co ̃ ́ ̀ ́ ̉ ́ ́  ̀ ̣ mau đâm h ơn. Khi tươi ń ươc cho khoai tây  ́ ở  cac m ́ ưc đô âm đât đat 25, 50 và ́ ̣ ̉ ́ ̣   75% không gây anh h ̉ ưởng đên ty trong cua cu, trong khi đo  ́ ̉ ̣ ̉ ̉ ́ở đô âm cao h ̣ ̉ ơn gây   ra sự giam sut ham l ̉ ́ ̀ ượng tinh bôt. ̣ Điều kiện thời tiết bất thường có thể làm cho  khoai tây có củ có hình dạng bất thường hoặc nảy mầm, tạo củ thứ cấp, làm đen   thịt củ hoặc tim rỗng. Lượng mưa  ảnh hưởng đến hàm lượng nước và sự  nhạy   cảm của cây trồng đến các tổn thương cơ  học và thối hỏng. Thời tiết khô hạn,  rồi mưa có thể làm phát sinh vết nứt hoặc sinh trưởng thứ cấp ở khoai tây. Nhiệt   độ  đất cao, thiếu độ   ẩm tạm thời của đất và thiếu hay dư  thừa nitơ  gây hàm  lượng đường cao và tinh bột thấp ở phần cuống củ ở khoai tây chế biến làm nâu   thịt củ khi chế biến. Do thiếu nước gây ra những thay đổi trong hoạt động hoặc  các enzyme chuyển hóa cacbohidrat  chuyển từ chức năng tổng hợp tinh bột thành  chức năng huy động tinh bột (Thompson et al., 2008) [128]. 1.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ khoai tây trên thế giới và Việt Nam 1.3.1. Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới và Việt Nam 1.3.1.1. Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới Khoai tây được trồng rộng rãi ở 130 nước trên thế giới, từ 71 độ  vĩ tuyến  Bắc đến 40 độ  vĩ tuyến Nam. Tình hình sản xuất khoai tây trên thế  giới 5 năm  gần đây  được trình bày ở bảng 1.1.   Bảng 1.1. Tình hình sản xuất khoai tây trên thế giới giai đoạn 2013 ­ 2017 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) 2013 19,29 19,39 374,07 2014 18,88 20,14 380,26 2015 18,91 19,91 376,58 2016 19,08 19,62 374,25 2017 19,30 20,11 388,91
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2