intTypePromotion=1

Luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế: Quản lý thu BHXH bắt buộc ở Việt Nam

Chia sẻ: Thái Hp | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:105

0
147
lượt xem
70
download

Luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế: Quản lý thu BHXH bắt buộc ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trên cơ sở vận dụng lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý thu BHXH, luận văn phân tích thực trạng công tác quản lý thu BHXH bắt buộc từ năm 2009 đến năm 2013, qua đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý thu BHXH bắt buộc, đảm bảo thực hiện các quy định của Nhà nước về BHXH có hiệu quả và phát triển sự nghiệp BHXH một cách bền vững. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Quản lý kinh tế: Quản lý thu BHXH bắt buộc ở Việt Nam

  1. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, là trụ  cột trong hệ  thống ASXH được thực hiện  ở  nước ta ngay từ  những ngày  đầu thành lập nước. Ngày 01/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh   số  54/SL quy định điều kiện cho công chức, viên chức Nhà nước hưởng   chế  độ  hưu trí. Từ  đó đến nay, chính sách BHXH không ngừng được sửa   đổi, bổ sung phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước, góp phần   đảm bảo cuộc sống cho cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang  nhân dân, NLĐ. Tạo thành sức mạnh tổng hợp làm nên thắng lợi vĩ đại   trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp, chống Mỹ và trong xây  dựng bảo vệ tổ quốc, đưa đất nước vững bước đi lên trên con đường xây   dựng Chủ  nghĩa xã hội vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công  bằng, văn minh.  Trong công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế ­ xã hội, để  chính   sách BHXH phù hợp với tình hình thực tiễn và hội nhập quốc tế; Đại hội  đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã xác định quan điểm cần phải   giải quyết tốt việc "Thực hiện và hoàn thiện chế độ BHXH, bảo đảm đời   sống người nghỉ hưu được ổn định, từng bước cải thiện". Nghị quyết Đại  hội XI của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: "Thực hiện các chính sách xã hội   bảo đảm an toàn cuộc sống mọi thành viên cộng đồng, bao gồm BHXH  đối với NLĐ thuộc các thành phần kinh tế".  Tháng 01/2007 Luật BHXH có hiệu lực thi hành, các đối tượng  tham gia đóng, hưởng BHXH đã được thực hiện đến tất cả  lao động làm  việc trong các thành phần kinh tế và mở rộng loại hình BHXH tự nguyện,  
  2. 2 tạo nên sự  bình đẳng về  BHXH đối với mọi NLĐ. Từ  năm 2009 ­ 2013,  số  lao động tham gia BHXH tăng hàng năm bình quân khoảng 7%, số  thu   BHXH tăng bình quân khoảng 33% và hình thành quỹ  BHXH độc lập với  NSNN. Đây là bước chuyển đổi căn bản về  sự  nghiệp BHXH từ chế độ  bao cấp chủ yếu dựa vào NSNN sang cơ chế quỹ BHXH chủ yếu d ựa trên   nguồn thu do NLĐ, chủ sử dụng lao động đóng góp để chi trả  các chế  độ  BHXH, góp phần ổn định chính trị, xã hội thúc đẩy phát triển kinh tế ­ xã  hội của đất nước. Tuy nhiên, quá trình thực hiện chính sách BHXH thời gian qua còn  bộc lộ  những hạn chế, thiếu sót nhất là trong công tác thu BHXH đã và   đang đặt ra những vấn đề cần quan tâm giải quyết, đó là:  ­ Việc phát triển đối tượng tham gia BHXH bắt buộc còn nhiều hạn  chế; tình trạng trốn đóng, nợ  đọng BHXH, chưa tham gia hoặc tham gia   không đầy đủ  cho số  lao động làm việc tại đơn vị  còn xẩy ra phổ  biến  ở  các địa phương. Số  lao động tham gia BHXHchiếm  tỷ lệ  thấp so với lao   động trong diện tham  gia BHXH bắt buộc. Số  lao  động chưa tham gia  BHXH tập trung chủ  yếu  ở khối loại hình DN ngoài quốc doanh (công ty   trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ  phần tư nhân…), thậm chí có những DN   lạm dụng quỹ BHXH, chiếm dụng tiền đóng BHXH của NLĐ để sử dụng   làm vốn SXKD... Do đó, đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện chế  độ, chính sách BHXH đối với  NLĐ và kết quả thu BHXH. ­ Vấn đề quản lý lao động làm việc trong các thành phần kinh tế là   cơ sở để phát triển đối tượng tham gia BHXH của các cơ quan quản lý nhà   nước có thẩm quyền còn hạn chế. ­ Công tác tuyên truyền, phổ  biến pháp luật về  chính sách BHXH  của cơ quan BHXH và các đơn vị chưa được thường xuyên; công tác kiểm  
  3. 3 tra, xử  lý vi phạm pháp luật BHXH đối với các chủ  sử  dụng lao động cố  tình không đóng, đóng không đúng, không kịp thời, đầy đủ BHXH cho NLĐ  còn chưa thực sự quyết liệt; giải quyết nợ đọng BHXH là một trong những  vấn đề gây bức xúc hiện nay. ­ Thực hiện cải cách hành chính, đổi mới tác phong, phong cách phục  vụ  NLĐ của đội ngũ cán bộ  trực tiếp làm công tác thu BHXH và ứng dụng  công nghệ thông tin vào công tác thu, tạo thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân  tham gia BHXH. Trong tình hình phát triển và hội nhập kinh tế  quốc tế  hiện nay,   nhiều DN mới được thành lập và cũng có không ít DN không đủ khả  năng  cạnh tranh trên thị  trường, hoặc làm ăn thua lỗ  kéo dài phải giải thể, phá   sản. Dẫn đến những biến động tăng, giảm, di chuyển lao động rất phức   tạp và xảy ra thường xuyên, liên tục khó khăn cho công tác quản lý người  tham gia cũng như  thu BHXH. Do vậy hoạt động thu BHXH là rất khó  khăn. Thực trạng đặt ra đó đòi hỏi cần phải có những giải pháp nhằm hoàn  thiện quản lý thu BHXH làm cơ  sở  để  giải quyết chế  độ  chính sách cho  người tham gia, đảm bảo tăng trưởng quỹ  BHXH và thực hiện công bằng  xã hội.  Do đó, tôi lựa chọn đề  tài: “Quản lý thu BHXH bắt buộc  ở  Việt   Nam”  làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Trong những năm qua BHXH Việt Nam đã có một số  công trình  nghiên cứu của cán bộ lãnh đạo, quản lý, đề tài dưới góc độ khoa học cấp  bộ, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ đi sâu nghiên cứu những vấn đề chung,  cũng như từng lĩnh vực cụ thể về BHXH. Có thể nói tới các công trình như:
  4. 4 ­ Đề tài: “Thực trạng quản lý thu Bảo hiểm xã hội hiện nay và các  biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thu”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp   bộ   do   Tiến   sĩ   Nguyễn   Văn   Châu   làm   chủ   nhiệm   đề   tài   bảo   vệ   năm  1996.Trên cơ  sở  nghiên cứu kinh nghiệm quản lý thu BHXH của một số  nước trên thế giới và tổng kết hoạt động thực tiễn của quản lý thu BHXH  ở  Việt Nam trước năm 1995 và đến năm 1996, tác giả  làm rõ thực trạng  hoạt động BHXH, đặc biệt là công tác thu BHXH trong thời gian qua, nhằm   phân tích khả  năng thu BHXH để  bù đắp các chế  độ  BHXH được hưởng   nhằm thay thế dần các nguồn chi lấy từ Ngân sách Nhà nước, đồng thời đề  xuất kiến nghị một số vấn đề  cụ thể nhằm cải tiến công tác thu BHXH ở  Việt Nam ­ Đề  tài khoa học: “Cơ sở  khoa học hoàn thiện quy trình quản lý thu  BHXH” đề  tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ  do Tiến sĩ Dương Xuân Triệu,  Chủ nhiệm, bảo vệ năm 1999 do BHXH Việt Nam chủ trì. Đề tài đã đánh giá  việc tổ chức thực hiện quy trình thu và đề  xuất các giải pháp đổi mới, hoàn  thiện quy trình thu đem lại hiệu quả trong thực hiện ­ Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị  quốc gia Hồ  Chí  Minh, 2000: “Hoàn thiện quản lý thu BHXH khu vực DN ngoài Quốc doanh  ở Việt Nam”. Luận văn đã phân tích, tình hình thực hiện thu BHXH đối với   các đơn vị, doanh nghiệp ngoài nhà nước, đánh giá những thành công và tồn  tại hạn chế, từ  đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu  BHXH nói chung và khu vực DN ngoài quốc doanh nói riêng. ­ Luận án Tiến sĩ của tác giả  Đỗ  Văn Sinh (năm 2004) với đề  tài   “Hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam”: Luận án đã tập trung phân tích  tình hình tài chính quỹ BHXH qua các thời kỳ và đưa ra các giải pháp liên quan  đến quản lý và cân đối quỹ BHXH.
  5. 5 Nhìn chung các công trình, bài viết trên, dưới những góc độ tiếp cận  khác nhau đã đề  cập đến vấn đề  quản lý thu BHXH nói chung, trong đó   quản   lý   thu   BHXH   bắt   buộc.   Một   số   kết   quả   nghiên   cứu   về   quản   lý   thuBHXH bắt buộc  ở  từng địa phương cụ  thể. Tuy nhiên, chưa có nghiên  cứu cụ thể về quản lý  thu BHXH  bắt buộc và đề xuất các giải pháp nâng   cao hoạt động thu BHXH bắt buộc tại BHXH Việt Nam dưới góc độ quản  lý kinh tế. Do đó, đề tài có tính cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn  ­ Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở vận dụng lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về qu ản lý  thu BHXH, luận văn phân tích thực trạng công tác quản lý thu BHXH bắt   buộc từ  năm 2009 đến năm 2013, qua đó đề  xuất những giải pháp chủ  yếu nhằm hoàn thiện quản lý thu BHXH bắt buộc, đảm bảo thực hiện  các   quy   định   của   Nhà   nướ c   về   BHXH   có   hiệu   quả   và   phát   triển   sự  nghiệp BHXH một cách bền vững. ­ Nhiệm vụ nghiên cứu: ­ Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý thu BHXH  bắt buộc. ­ Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH  Việt Nam, chỉ ra những kết quả đã đạt được, những hạn chế và những vấn   đề  đang đặt ra hiện nay trong công tác thu BHXH bắt buộc tại BHXH Việt   Nam. ­ Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý thuBHXH   bắt buộc tại BHXH Việt Nam. ­ Kiến nghị với Nhà nước bổ sung sửa đổi chính sách liên quan đến  công tác thuBHXH bắt buộc.
  6. 6 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn  ­  Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu quản lý thu BHXH  bắt buộc tại BHXH Việt Nam trên 3 nội dung đối tượng tham gia BHXH,   tiền lương làm căn cứ  tính đóng BHXH và nguồn thu BHXH. Luận văn  không nghiên cứu thu BHXH tự nguyện, bảo hiểm y tế…   ­  Phạm vi nghiên cứu:  Đề  tài nghiên cứu về  công tác quản lý thu  BHXH bắt buộc tại Việt Nam từ  năm 2009 – 2013. Luận văn chỉ  nghiên  cứu quản lý thuBHXH bắt buộc trong phạm vi đối tượng dân sự, không  nghiên cứu đối tượng công an, quân đội, cơ yếu Chính phủ.  5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn  Luận văn thực hiện trên cơ  sở  lý luận của Chủ  nghĩa Mác ­ Lênin  và tư  tưởng Hồ  Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng được đề  ra trong  các kỳ  Đại hội, các số  liệu tổng hợp báo cáo về  thu BHXH bắt buộc  ở  Việt Nam. Tác giả  sử  dụng phương pháp hệ  thống và khái quát hóa, có minh  hoạ, đối chiếu, so sánh, kế thừa một số công trình đã công bố có liên quan  đến vấn đề nghiên cứu để đánh giá và làm sáng tỏ vấn đề cần quan tâm. 6. Những đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn của luận văn Đề tài của luận văn nghiên cứu về một trong những nhiệm vụ thư­ ờng xuyên của ngành, đã và đang có những vấn đề  đặt ra cần giải quyết,  tháo gỡ để góp phần phát triển bền vững sự nghiệp, đáp ứng được yêu cầu  hiện tại cũng như  thực hiện mục tiêu "BHXH  cho mọi NLĐ". Những giải  pháp được đề  xuất và những kiến nghị  với các cấp có thẩm quyền có thể  tham khảo, vận dụng vào thực tế công tác quản lý thu BHXH bắt buộc ở Việt   Nam. 7. Ý nghĩa của luận văn 
  7. 7 Luận văn tập trung phân tích chi tiết, tổng h ợp và đánh giá thực  trạng công tác quản lý thu BHXH b ắt buộc  ở Vi ệt Nam giai đoạn 2009 ­   2013, trên cơ sở đó đưa ra một số gi ải pháp thiết thực hiệu qu ả trong t ổ  chức thực hiện, đồng thời đề  xuất, kiến nghị  nhằm hoàn thiệ n hơn đố i  với   công   tác  quản   lý   thu  BHXH   bắt   bu ộc,  đáp   ứng   yêu   cầu  quản   lý  trong tình hình mới ở Việt Nam. Đề tài có thể tham khảo, vận dụng vào thực tế công tác quản lý thu  BHXH bắt buộc ở Việt Nam. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết   cấu của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết.
  8. 8 Chương1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN  VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XàHỘI BẮT BUỘC 1.1.   MỘT   SỐ   VẤN   ĐỀ   CƠ   BẢN   VỀ   THU   BẢO   HIỂM   Xà   HỘI   BẮT   BUỘC 1.1.1. Khái quát về bảo hiểm xã hội bắt buộc *  Khái niệm BHXH bắt buộc, các loại hình và chế  độ  BHXH bắt   buộc. ­ Khái niệm BHXH: Hệ  thống BHXH đầu tiên ra đời trên thế  giới vào giữa thế  kỷ  XIX  dưới thời Thủ tướng Bismark (1883­1889) với cơ chế ba bên (Nhà nước ­   giới chủ ­ giới thợ) cùng đóng góp nhằm bảo hiểm cho NLĐ trong một số  trường hợp họ gặp rủi ro. Chế độ  BHXH này bao gồm: Chế độ  bảo hiểm  ốm đau (1883); bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp (1884) và bảo hiểm tuổi già,  tàn tật (1889). Trước tác dụng tích cực của hệ  thống BHXH này nhiều   nước bắt đầu áp dụng hệ  thống BHXH. Trong những năm 30 của thế  kỷ  XX, một số  nước còn mở  rộng thêm những chế  độ  khác ngoài BHXH và  xuất hiện khái niệm mới: An sinh, an toàn xã hội (Social Security). Tổ chức   Lao động quốc tế (ILO) đã có Công ước số 102 năm 1952 về ASXH. Hiện   nay, trên thế  giới nói chung người ta coi BHXH là một bộ  phận cấu thành   của ASXH. Ở  nước ta, BHXH xuất hiện vào những năm 30 của thế  kỷ  XX,  một số chế độ được áp dụng khi đó là chế độ ốm đau, chế độ tai nạn, chế  độ  hưu trí và cũng chỉ  áp dụng cho một số  đối tượng làm việc, phục vụ  trong bộ  máy hành chính, quân đội của Pháp. Sau khi nước Việt Nam dân  chủ  cộng hòa ra đời, tại văn bản pháp luật cao nhất đã có những quy định 
  9. 9 về  BHXH, thể  hiện sự  quan tâm và nhận thức của Nhà nước về  vấn đề  này. Tuy nhiên, do tình hình chính trị  ­ xã hội phức tạp khi đó cũng như  những khó khăn về  quỹ, về  đối tượng tham gia và hưởng BHXH… mà  pháp luật BHXH chưa được áp dụng theo nghĩa đầy đủ  về  mặt nội dung   pháp lý cũng như xã hội của nó. Pháp luật BHXH được chính thức áp dụng rộng rãi kể từ khi Chính  phủ ban hành Nghị định số  218/CP ngày 27/12/1961 kèm theo Điều lệ tạm  thời về BHXH đối với công nhân, viên chức nhà nước. Văn bản pháp luật   này điều chỉnh tất cả các vấn đề  về BHXH ở nước ta trong suốt thời gian   dài, từ  khi được ban hành cho đến những năm 80 của thế  kỷ  XX. Sau đó,  với sự  thừa nhận và phát triển của nền kinh tế  thị  trường, pháp luật nói  chung và pháp luật BHXH nói riêng đã có sự  đổi mới về  chất. Điều 56   Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ  sung năm 2001) ghi nhận:  “Nhà   nước  quy   định…   chế   độ   BHXH   đối  với  viên   chức  nhà  nước  và   những   người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức BHXH   khác đối với NLĐ”. Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 43/CP  ngày 22/6/1993 quy định tạm thời chế  độ  BHXH. Sau một thời gian thực  hiện, trên cơ  sở  đúc rút kinh nghiệm và từ  yêu cầu của thực tế  đời sống,   pháp luật BHXH được xây dựng thành một chương độc lập (chương XII)  trong Bộ luật Lao động ngày 23/6/1994 đã tạo ra cơ sở pháp lý cho việc đổi   mới, cải cách chế độ BHXH. Để cụ thể hóa các quy định của Bộ luật Lao   động, Chính phủ  ban hành Nghị  định số  12/CP ngày 26/01/1995 kèm theo  Điều lệ BHXH; Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 về việc ban hành Điều  lệ  BHXH đối với sỹ  quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ  sỹ  quan, binh sỹ  quân   đội   nhân   dân   và   công   an   nhân   dân   và   Nghị   định   số   19/CP   ngày  16/02/1995 về  việc thành lập BHXH Việt Nam. Với sự  sửa đổi, bổ  sung  Bộ luật Lao động (tháng 4/2002) trong đó có các nội dung về BHXH, Nghị 
  10. 10 định của Chính phủ  số  01/2003/NĐ­CP ngày 09/01/2003 về  việc sửa đổi,  bổ  sung một số  điều của Điều lệ  BHXH ban hành kèm theo Nghị  định số  12/CP ngày 26/01/1995 được ban hành. Tiếp đó, trên cơ sở các cam kết của   Chính phủ Việt Nam trong việc gia nhập WTO về chính sách ASXH cùng   với sự  chín muồi về  nhận thức, về  điều kiện kinh tế  ­ xã hội đất nước,  nhu cầu của đời sống xã hội… ngày 29/6/2009 tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội   khóa   XI   nước   ta   đã   thông   qua   Luật   BHXH   và   có   hiệu   lực   từ   ngày  01/01/2007   (riêng   đối   với   BHXH   tự   nguyện   có   hiệu   lực   từ   ngày  01/01/2008; BHTN có hiệu lực từ  ngày 01/01/2009). Như  vậy, việc xây  dựng và phát triển pháp luật BHXH  ở nước ta luôn phản ánh và song hành  với các nhu cầu của đời sống trên cơ sở điều kiện kinh tế ­ xã hội cụ thể. Tuy nhiên, tùy theo góc độ  tiếp cận khác nhau mà có những quan  niệm khác nhau. Theo Từ điển tiếng Việt, BHXH là sự: “Bảo đảm những   quyền lợi vật chất cho công nhân, viên chức khi không làm việc được vì ốm   đau, sinh đẻ, già yếu, bị  tai nạn lao động…”[8,tr.36]. Theo TS. Đỗ  Văn  Sinh:  “BHXH là biện pháp Nhà nước sử  dụng để  đảm bảo thay   thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người tham gia bảo hiểm,   khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất   khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động, chết; gắn liền   với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi   các bên tham gia BHXH đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp   tài chính nhằm  ổn định đời sống cho họ  và gia đình họ, góp phần   đảm bảo an toàn xã hội” [20, tr.14].  Kể  từ  khi xuất hiện đến nay, BHXH luôn phát huy tác dụng trong  những lúc NLĐ gặp khó khăn hiểm nghèo do bị   ốm đau, thai sản, tai nạn   lao động, tuổi già… trên cơ sở những cam kết đóng góp của NLĐ và người  
  11. 11 SDLĐ cho một bên thứ ba (cơ quan bảo hiểm) trước khi xảy ra những biến   cố  đó. Tuy nhiên, BHXH không trực tiếp chữa bệnh cho người tham gia   BHXH khi họ ốm đau, tai nạn, sắp xếp việc làm cho người mất việc làm…  mà chỉ giúp họ giữ thăng bằng phần thu nhập bị giảm hay bị mất hoặc giúp  họ trang trải phần chi tiêu bị tăng cao đột xuất do gặp các rủi ro nói trên. Vì vậy,BHXH là phạm trù kinh tế  tổng hợp, là sự  đảm bảo thu   nhập nhằm đảm bảo cuộc sống cho NLĐ khi bị  giảm hoặc mất khả năng  lao động. Sở dĩ khái niệm BHXH được tiếp cận với những nội dung đa dạng  như trên bởi trước khi có Luật BHXH thì không có văn bản pháp lý nào quy   định một cách cụ thể và chính thức về vấn đề này, hơn nữa sự đa dạng đó  còn được giải thích bởi góc độ tiếp cận và nhu cầu nghiên cứu khác nhau.  Hiện nay, theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật BHXH thì BHXH được   định nghĩa như sau: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần   thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do  ốm đau, thai sản,   tai nạn lao động, bệnh nghề  nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc   chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”.[15, tr.2].  * Khái niệm BHXH bắt buộc BHXH bắt buộc là loại hình BHXH mà NLĐ và NSDLĐ phải tham  gia. Mặc dù là loại hình bắt buộc nhưng xét về  bản chất nội hàm hai ý  nghĩa: Một là, BHXH mang tính xã hội, tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc. Tính xã hội, tính nhân đạo và nhân văn trong các chế độ BHXH quy   định bản chất củaBHXH, đó là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên   của mnh thông qua m ́ ột loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại  những khó khăn về  kinh tế  và xã hội do bị  ngừng hoặc bị  giảm thu nhập,  
  12. 12 gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi   già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc và trợ  cấp cho các gia đình  đông con. Đối với các rủi ro như trên, nhiều khi từng cá nhân không đủ khả  năng tài chính để  khắc phục, do vậy Nhà nước ban hành các quy định để  huy động mọi người trong xã hội đóng góp một khoản nhất định cùng với  Nhà nước hình thành quỹ  BHXH để  chi trả  cho một số  người gặp rủi ro   cần khắc phục hay do điều kiện sinh học như  tuổi tác, môi trường sống,  điều kiện làm việc mà NLĐ phải nghỉ  làm việc, khi đó cần có một khoản  kinh phí để đảm bảo cuộc sống cho chính bản thân và gia đình họ. Mục tiêu của BHXH là tạo ra màng lưới an toàn gồm nhiều tầng,  nhiều lớp bảo vệ  cho tất cả  các thành viên của cộng đồng trong những   trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất  trong chi tiêu của gia đình do những biến cố hoặc những "rủi ro xã hội". Vì   vậy, để  tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp, BHXH phải dựa   trên nguyên tắc san sẻ  trách nhiệm và thực hiện công bằng xã hội, được  thực   hiện   bằng   nhiều   hình   thức,   phương   thức   và   các   biện   pháp   khác  nhau.Có thể thấy rõ bản chất của BHXH là nhằm che chắn, bảo vệ cho các   thành viên của xã hội trước mọi biến cố  xã hội bất lợi. BHXH thể  hiện   chủ  nghĩa nhân văn cao đẹp: mọi người trong xã hội với tư  cách là một  công dân, họ phải được đảm bảo mọi mặt để phát huy đầy đủ  những khả  năng của mình, không phân biệt địa vị xã hội, chủng tộc, tôn giáo...đều bình  đẳng về BHXH. Hai là, BHXH là một công cụ để quản lý xã hội, là sự bảo đảm của  Nhà nước để ổn định đời sống cho người tham gia BHXH và an toàn xã hội,  thúc đẩy sản xuất phát triển. Đồng thời đây là quá trình phân phối lại thu   nhập xã hội.
  13. 13   BHXH được coi là một chính sách xã hội quan trọng, song hành  cùng với chính sách kinh tế, nhằm bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần   cho mọi NLĐ, chống các tệ  nạn xã hội, góp phần tăng thu nhập, thúc đẩy  sản xuất phát triển. Với tư  cách là công cụ  để  quản lý xã hội, Nhà nước   quy định quyền và trách nhiệm giữa các bên tham gia BHXH, đặc biệt mối   quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ; yêu cầu NSDLĐ phải thực hiện những cam  kết, đảm bảo điều kiện làm việc, nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần  cho NLĐ, trong đó có nhu cầu cơ  bản về  tiền lương, tiền công, chăm sóc  sức   khoẻ   khi   bị   ốm   đau,   tai   nạn...   Đây   là   những   ràng   buộc   mang   tính  nguyên tắc và thông qua đó Nhà nước thực hiện quản lý nhà   nước  về  BHXH. BHXH dựa  trên sự   đóng góp của các bên tham gia, gồm NLĐ,   NSDLĐ và Nhà nước trong một số  trường hợp, thực chất quỹ  BHXH là   quỹ của NLĐ tiết kiệm được, bất luận trong hoàn cảnh nào Nhà nước phải  đứng sau hỗ  trợ, duy trì, bảo toàn để  thực hiện các chế  độ  trợ  cấp cho   NLĐ, nếu không thì xã hội sẽ  mất  ổn định, kinh tế  sẽ  trì trệ. Ngược lại,  nếu quỹ BHXH được hình thành và phát triển lớn mạnh sẽ có khoản nhàn   rỗi để đầu tư trở lại giúp cho sản xuất phát triển. BHXH là quá trình phân phối lại thu nhập xã hội. Đây là quá trình  phân phối lại theo hướng có lợi cho người tham gia BHXH khi gặp phải   rủi ro trong lao động sản xuất và đời sống xã hội, vì chính việc tổ chức thu,  chi BHXH là quá trình thực hiện phân phối lại thu nhập: Thu BHXH dựa   trên cơ sở mức tiền lương, tiền công do Nhà nước quy định và mỗi ng ười  tham   gia  có  một   mức   đóng  BHXH  khác  nhau   tương   ứng   với  mức  tiền  lương, tiền công đó; hằng năm Nhà nước còn trích một khoản nhất định từ  Ngân sách để hỗ  trợ  quỹ BHXH. Chi BHXH là việc trả  tiền cho người có  nhu cầu phát sinh về  BHXH dựa trên mức đóng và thời gian đóng BHXH  
  14. 14 trong chế  độ  dài hạn, nhưng trong chế  độ  ngắn hạn thì không dựa trên   nguyên tắc này mà có sự chia sẻ giữa người khoẻ cho người ốm, người trẻ  cho người già. * Các loại hình BHXH Hiện nay, có hai loại hình BHXH cơ bản:  ­ BHXH bắt buộc ­ BHXH tự nguyện * Các chế độ bảo hiểm xã hội Chế  độ  BHXH là sự  cụ  thể  hoá chính sách BHXH, là hệ  thống các  quy định cụ thể  và chi tiết, là sự  bố  trí, sắp xếp các phương tiện để  thực   hiện BHXH đối với NLĐ. Nói cách khác, đó là một hệ thống các quy định   được pháp luật hoá về  đối tượng hưởng, nghĩa vụ  và mức đóng góp cho  từng trường hợp BHXH cụ thể. Hiện nay, tồn tại 9 chế độ BHXH, song tuỳ theo điều kiện kinh tế ­   xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ, mà số lượng các chế độ được   thực hiện ở mỗi nước khác nhau. Ở nước ta, Điều 4 Luật BHXH quy định   rõ các chế độ BHXH, gồm: ­ BHXH bắt buộc bao gồm các chế độ sau đây: + Ốm đau; + Thai sản; + Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; + Hưu trí; + Tử tuất. ­ BHXH tự nguyện bao gồm các chế độ sau đây: + Hưu trí; + Tử tuất. ­ BHTN bao gồm các chế độ sau đây:
  15. 15 + Trợ cấp thất nghiệp; + Hỗ trợ học nghề; + Hỗ trợ tìm việc làm. Nội dung của các chế  độ  nêu trên được quy định thống nhất trong   Luật BHXH. Mỗi một chế độ được xây dựng đều căn cứ vào những cơ sở  như: điều kiện kinh tế ­ xã hội, môi trường lao động, điều kiện sinh học… 1.1.2. Khái niệm và đặc điểm thu bảo hiểm xã hội bắt buộc * Khái niệm thu BHXH bắt buộc: Khi nói đến thu BHXH là nói đến các mối quan hệ  khăng khít, bao  gồm quan hệ giữa Nhà nước, NSDLĐ, NLĐ và cơ quan BHXH. Trong mối   quan hệ này thì NLĐ, NSDLĐ là đối tượng quản lý; Nhà nước giao cho cơ  quan BHXH chủ  thể  quản lý; Nhà nước là chủ  thể  duy nhất điều tiết và  quản lý BHXH vì các bên tham gia có lợi ích khác nhau thậm chí trái ngược  nhau   (NLĐ   muốn   đóng   ít   nhưng   lại   muốn   được   hưởng   thụ   quyền   lợi  nhiều, NSDLĐ muốn đóng BHXH càng ít càng tốt để giảm chi phí sản xuất  nâng cao lợi nhuận). Nhà nước với hai tư  cách: một là, thông qua cơ  quan  lập pháp (Quốc hội) đề ra Luật BHXH, thông qua Chính phủ đề ra các quy   định về  BHXH; hai là, thông qua các cơ  quan nhà nước để  thực hiện nộp  BHXH cho NLĐ hưởng lương từ NSNN và thành lập cơ quan chuyên trách  (BHXH Việt Nam) thực hiện chính sách BHXH. Để  thực hiện thu BHXH   đảm bảo theo đúng các quy định của Nhà nước, cơ  quan BHXH phải xây  dựng biện pháp, kế  hoạch, tổ  chức các thao tác nghiệp vụ, phối hợp với   các đơn vị liên quan và hình thành hệ thống chuyên thu từ Trung ương đến   cấp huyện, thực hiện theo một quy trình chặt chẽ, khép kín. Như  vậy,  trong hoạt động thu BHXH, mối quan hệ  ba bên là NLĐ, NSDLĐ và cơ  quan BHXH được xác lập quyền và trách nhiệm của mỗi bên do pháp luật  về BHXH quy định, các quy định này là những căn cứ pháp lý mà mỗi bên phải 
  16. 16 tuân thủ, thực hiện nghiêm túc. Mặt khác để thu đúng, đủ, kịp thời, không để  thất thoát tiền thu, đòi hỏi cơ quan BHXH phải có phương pháp và biện pháp  hữu hiệu, kể các các biện pháp hỗ trợ. Thu BHXH là một khái niệm phức hợp,  bao gồm các định hướng, chủ  trương, phương pháp và biện pháp hữu hiệu  nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, chỉ đạo, khuyến khích đẩy mạnh công tác thu  BHXH.  Như vậy, thu BHXH bắt buộc là sự tác động của Nhà nước thông qua   các quy định mang tính pháp lý bắt buộc các bên tham gia BHXH phải tuân thủ  thực hiện; trong đó cơ  quan BHXH sử dụng các biện pháp nghiệp vụ  và các   phương pháp đặc thù tác động trực tiếp vào đối tượng đóng BHXH để  đạt  mục tiêu đề ra.  * Các đối tượng thu bảo hiểm xã hội  BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị giảm hoặc bị mất   đi do NLĐ bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm vì các nguyên  nhân như   ốm đau, tai nạn, già yếu… Chính vì vậy, đối tượng của BHXH  chính là thu nhập của NLĐ bị biến động giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc   mất khả năng lao động, mất việc làm của những NLĐ tham gia BHXH. Còn   đối tượng tham gia BHXH là NLĐ và người SDLĐ. Tuy vậy, tùy theo điều  kiện phát triển kinh tế ­ xã hội của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất   cả hoặc một bộ phận những NLĐ nào đó. Ở nước ta, Điều 2, Luật BHXH quy định đối tượng áp dụng như sau:  NLĐ tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm: ­ Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn,  hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên; ­ Cán bộ, công chức, viên chức; ­ Công nhân quốc phòng, công nhân công an; ­ Sĩ  quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ 
  17. 17 quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ  sĩ quan chuyên môn kỹ  thuật công an nhân dân;  người làm cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân  dân; ­ Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an   nhân dân phục vụ có thời hạn; ­ Người làm việc có thời hạn  ở  nước ngoài mà trước đó đã đóng  BHXH bắt buộc. Người SDLĐ tham gia BHXH bắt buộc bao gồm: Cơ quan nhà nước,  đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính   trị  ­ xã hội, tổ  chức chính trị  xã hội ­ nghề  nghiệp, tổ  chức xã hội ­ nghề  nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế  hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh  cá thể, tổ  hợp tác, tổ  chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử  dụng và trả  công cho NLĐ. * Chủ thể thu BHXH Theo Nghị  định số  19­CP ngày 16/02/1995 của Chính phủ  về  việc  thành lập BHXH Việt Nam trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH hiện nay   ở Trung ương và địa phương; Nghị định số 100/NĐ­CP ngày 06/12/2002 của   Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của   BHXH Việt Nam; Nghị  định số  94/2008/NĐ­CP ngày 22/8/2008 của Chính   phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH  Việt Nam, BHXH Việt nam có nhiệm vụ  tổ  chức thu BHXH theo quy định  của Chính phủ. BHXH Việt Nam được tổ  chức và quản lý theo hệ  thống dọc, tập  trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, gồm có: + Ở Trung ương là BHXH Việt Nam. + Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là BHXH tỉnh, thành phố trực 
  18. 18 thuộc Trung  ương (sau đây gọi chung là BHXH tỉnh) trực thuộc BHXH Việt   Nam.  + Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là BHXH huyện, quận,  thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là BHXH huyện) trực thuộc  BHXH tỉnh.  * Đặc điểm thu BHXH bắt buộc ­ Số  đối tượng phải thu rất lớn và gia tăng theo thời gian nên thu   BHXH rất khó khăn và phức tạp. Theo quy định của Luật BHXH, số  đối tượng tham gia BHXH bắt   buộc rất lớn. Do đó, quản lý thu BHXH phải đảm bảo để  tất cả  các đối  tượng thuộc diện phải tham gia BHXH đều phải tham gia BHXH nhằm bảo   đảm quyền lợi cho NLĐ. ­ Thu BHXH mang tính chất định kỳ, lặp đi lặp lại, do đó khối lượng   công việc rất lớn, đòi hỏi nguồn nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ cho thu   cũng phải tương ứng. Theo quy định, hàng tháng, khi có phát sinh tăng giảm lao động hoặc  tiền lương, chủ SDLĐ lập danh sách gửi cơ quan BHXH để được tăng, giảm  kịp thời. Số  đối tượng tham gia BHXH ngày càng tăng đòi hỏi nguồn nhân  lực, cơ sở vật chất phục vụ quản lý phải phù hợp. Chỉ có như vậy thì quản lý  thu BHXH mới đảm bảo kịp thời và chính xác. ­ Đối tượng thu là tiền nên dễ xảy ra sai phạm, vi phạm đạo đức và   lạm dụng quỹ BHXH. Theo quy định, chậm nhất đến ngày cuối cùng của tháng, đơn vị trích  tiền đóng BHXH bắt buộc trên quỹ  tiền lương, tiền công tháng của những  NLĐ tham gia BHXH bắt buộc, đồng thời trích từ tiền lương, tiền công tháng  đóng BHXH bắt buộc của từng NLĐ theo mức quy định, chuyển cùng một lúc 
  19. 19 vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại ngân hàng hoặc Kho bạc  nhà nước. Trong thực tế hiện nay, số đơn vị thực hiện theo đúng quy định này   không nhiều, một số đơn vị còn nộp chậm BHXH, do vậy đòi hỏi trong thu   BHXH phải sát sao, kịp thời. * Vai trò của thu BHXH bắt buộc Thứ nhất, vai trò của thu BHXH trong việc tạo lập quỹ BHXH và thực  hiện chính sách BHXH. Thu BHXH là hoạt động thường xuyên và đa dạng của ngành BHXH  nhằm đảm bảo nguồn quỹ tài chính BHXH đạt tập trung, thống nhất. Qua đó,  đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện và triển khai chính sách BHXH  nói chung và giữa những người tham gia BHXH nói riêng.  Thu BHXH ở hiện tại  ảnh hưởng trực tiếp đến chi và quá trình thực  hiện chính sách BHXH trong tương lai. BHXH cũng như  các loại hình bảo  hiểm khác đều dựa trên cơ sở nguyên tắc có đóng có hưởng BHXH đã đặt ra  yêu cầu đối với thu nộp BHXH. Nếu không thu được BHXH thì quỹ BHXH   không có nguồn để  chi trả  các chế  độ  BHXH cho NLĐ. Do đó, thu BHXH  đóng một vai trò quyết định, then chốt trong quá trình đảm bảo ổn định cuộc  sống cho NLĐ. Thứ  hai, vai trò của thu BHXH trong mối quan h ệ  gi ữa các bên  trong BHXH. Để thực hiện chính sách BHXH thuận lợi thì thu BHXH có vai trò như  một điều kiện cần và đủ. Bởi thu BHXH là đầu vào, là nguồn hình thành cơ  bản nhất trong quá trình tạo lập quỹ  BHXH. Đồng thời thu BHXH cũng là  một khâu bắt buộc đối với NLĐ và người SDLĐ tham gia BHXH.  Thứ ba, vai trò của thu BHXH trong vi ệc đảm bảo sự  công bằng   trong BHXH. BHXH không nhằm mục đích kinh doanh, không vì lợi nhuận, nhưng 
  20. 20 phân phối trong BHXH là sự  chuyển dịch thu nhập mang tính xã hội, là sự  phân phối lại thu nhập. BHXH dựa trên nguyên tắc NLĐ bình đẳng trong  nghĩa vụ đóng góp và hưởng quyền lợi BHXH thông qua hoạt động của mình.  BHXH tham gia vào phân phối và phân phối lại thu nhập xã hội giữa những  NLĐ thế  hệ  trước với thế  hệ  sau, giữa những ngành nghề  sản xuất, giữa  những người thu nhập cao và người có thu nhập thấp, giữa những người   khoẻ  mạnh, may mắn có việc làm  ổn định và những người  ốm, yếu, gặp  phải những biến cố  rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống. Vì  vậy, BHXH góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người  nghèo đồng thời góp phần thực hiện công bằng xã hội. Thu BHXH là khâu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để  BHXH thực  hiện được vai trò vừa nêu. Bởi lẽ, thu BHXH đảm bảo nguồn lực để thực thi   chính sách BHXH. Bên cạnh đó, ngoài việc đảm bảo cho quỹ BHXH tập trung  về một mối, thu BHXH còn đóng vai trò như  một công cụ thanh kiểm tra số  lượng người tham gia BHXH  ở từng cơ quan, đơn vị, địa phương hoặc trên  phạm vi toàn quốc. Bởi thu BHXH cũng được tổ chức tập trung, thống nhất, có  sự  ràng buộc chặt chẽ từ trên xuống dưới, đảm bảo an toàn tuyệt đối về  tài  chính, đảm bảo độ chính xác trong ghi chép kết quả đóng BHXH của từng cơ  quan đơn vị cũng như của từng NLĐ. Hơn nữa, hoạt động thu BHXH là hoạt  động có tính kế thừa, số thu BHXH một phần dựa trên số lượng người và số  tiền lương, tiền công tham BHXH để tạo lập lên quỹ BHXH ­ nguồn lực để  thực hiện chính sách BHXH.  1.2. QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XàHỘI BẮT BUỘC 1.2.1. Khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt  buộc * Khái niệm quản lý thu BHXH Xuất phát từ  khái niệm của quản lý: "Quản lý là sự  tác động có 

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản