SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
QUA TIẾT ĐỌC VĂN
I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Kỹ năng sống là yếu tố cần thiết trong mọi thời đại đặc biệt là trong thời
kì hội nhập. Xuất phát từ nhu cầu đó Bộ Giáo dục và Đào tạo lồng ghép
kỹ năng sống vào trong chương trình học của học sinh.
Kỹ năng sống là một trong ba cái đích (kiến thức, kỹ năng, thái độ) mà
mỗi môn học cần đạt được đặc biệt là môn Ngữ văn ở trường THPT
“Quan điểm giáo dục phát triển toàn diện được trình bày trong nhiều
văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước. Trong lĩnh vực giáo dục, điều
này khẳng định trong luật giáo dục năm 2005: Mục tiêu giáo dc là đào
tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện. Chiến lược phát triển giáo
dục Việt Nam giai đoạn 2009-2020 (Dự thảo làn thứ 14) nêu rõ: Giáo
dục và đào tạo có sứ mạng đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
diện góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến của đất nước trong bối
cảnh toàn cầu hóa, đồng thời tạo lập nền tảng và động lực công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Giáo dục và Đào tạo phải góp phần tạo nên
một thế hệ người lao động có tri thức, có đạo đức, có bản lĩnh trung
thực, có tư duy phê phán, sáng tạo, có kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết
vấn đề và kỹ năng nghề nghiệp để làm việc hiệu quả ở môi trưởng toàn
cầu hóa, vừa hợp tác vừa cạnh tranh. Có thể khẳng định, mục tiêu giáo
dục toàn diện không thể đạt được nếu không giáo dục kỹ năng sống.
Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh được xác định là một trong những
nội dung cơ bản của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực”
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên Tổ văn trường THPT Nhơn Trạch
chúng tôi đã lên kế hoạch tích hợp kỹ năng sống vào từng tiết học đặc
biệt là tiết đọc văn. Bước đầu thu được hiệu quả tương đối khả quan.
II.THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA
ĐỀ TÀI
1.Thuận lợi
Từ nhiều năm nay, vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới
phương pháp giảng dạy đã được ngành Giáo dục nói riêng và cả xã hội
quan tâm.
Việc dạy văn ở trường THPT Nhơn Trạch luôn được sự quan tâm của
Ban Giám Hiệu nhà trường. Nhơn Trạch là một vùng thôn quê nên đa số
học sinh ngoan, chất phác.
2. Khó khăn
Kỹ năng sống là kh năng để có hành vi thích ứng và tích cực, nhưng đa
số học sinh ở vùng thôn quê Nhơn Trạch khả năng thích ứng còn chậm.
Nhiều năm gần đây trường THPT Nhơn Trạch không tổ chức thi tuyển
10 nên môn Văn ở một số trường cấp II còn dạy theo lối thuộc vẹt, nặng
về lí thuyết, tạo một lổ hổng lớn về thực hành. Nên bước vào trường
THPT Nhơn Trạch GV bộ môn Văn chúng tôi phải tạo lập lại từ đầu:
khả năng chiếm lĩnh kiến thức, dùng từ, đặt câu, viết đoạn văn, cách
trình bày. Vì vậy việc tích hợp cũng như lồng ghép kỹ năng sống vào
giờ học gặp một số han chế nhất định.
III. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Phần 1: Cơ sở lí luận
Thuật ngữ kỹ năng sống (KNS) bắt đầu xuất hiện trong các nhà trường
phổ thông Việt Nam từ những năm 1995 1996, thông qua dự án “giáo
dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chng HIV/AIDS cho
thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do UNICEF phối hợp với
Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực
hiện. Giáo dụcphổ thông nước ta trong những năm vừa qua đã được đổi
mới cà về nội dung và phương pháp gắn với 4 trụ cột của giáo dục thế kỉ
XXI “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định
mình”, đây thực chất là một cách tiếp cận NKS. “Học để biết”(Learning
to know) gồm các kỹ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng
tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả…; “Học
để làm”(learing to be) gồm các kỹ năng cá nhân như: ứng phó với
những căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin…; “Học để
chung sống”(learning to live together) gồm các kĩ năng xã hội như: giao
tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện
sự cảm thông…; “Học để làm”(Learning to do) gồm các kỹ năng thực
hiện công việc và các nhiệm vụ như: kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận
trách nhiệm…Ý thức được tầm quan trọng của KNS trong thời đại hội
nhập, kết hợp với cơ sở lí luận trên đưa ra một số KNS được tích hợp
giáo dục trong tiết đọc văn.
Phần II: Nội dung, biện pháp thực hiện, giải pháp thay thế.
1. Nội dung.
Trong giáo dục chính quy của nước ta trong những năm vừa qua, KNS
thường được phân loại theo các mối quan hệ, bao gồm các nhóm sau:
Nhóm các kỹ năng nhận biết và sống với chính mình bao gồm các
KNS cụ thể như: tự nhận thức, xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng,
tìm kiếm sự hỗ trợ, tự trọng, tự tin…
Nhóm các kỹ năng tự nhận biết và sống với người khác bao gồm
các KNS cụ thể như: giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu thuẩn,
thương lượng, từ chối, bày tỏ sự cảm thông, hợp tác…
Nhóm các kỹ năng ra quyết định một cách hiệu quả, bao gồm các
kỹ năng cụ thể như:tìm kiếm và xử lí thông tin, tư duy phê phán và
duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề…
Có thể nói KNS chính là những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức
thành thái độ, hành vi, và thói quen tích cực, lành mạnh. Người có KNS
phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn thử thách; biết ứng
xử giải quyết vấn đề một cách tích cực phù hợp, họ thường thành công
hơn trong cuộc sống, luôn luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống cuộc sống
của chính mình.
Giáo dục KNS càng trở nên cấp thiết đối với học sinh THPTbởi vì: Các
em chính là những chủ nhân tương lai của đất nước, là những người sẽ
quyết định sự phát triển của đất nước. Nếu không có KNS các em không
thể thực hiện tốt được trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội.
Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách,
giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi khám phá song còn thiếu hiểu
biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, sức đề kháng chưa
cao nên dễ bị lôi cuốn kích động.
Việc giáo dục tích hợp KNS vào tiết dạy văn là một nhu cầu bức thiết:
Thứ nhất, trang bị cho học sinh một số KNS để bước vào đời.
Thứ hai, tiết học có lồng ghép giáo dục KNS bao giờ cũng thân
thiện, tích cực.
Tạo điều kiện cho học sinh thực hành và phát huy tối đa năng lực
của bản thân.
2. Biện pháp thực hiện, các giải pháp thay thế.
Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào phương pháp giảng dạy, quy
trình học tập cũng như môi trường đào to. Vì vậy, giáo dục KNS
phải đáp ứng nhu cầu của người học, nội dung giáo dục phải thiết
thực hiệu quả. Có nhiều biện pháp lồng ghép giáo dục KNS trong tiết
đọc văn. Sau đây tôi xin giới thiệu 3 giải pháp thay thế :
a ) Kỹ năng ứng phó với những căng thẳng.
Trong cuộc sống hàng ngày, con người thường gặp những tình
huống gây căng thẳng cho bản thân. Tuy nhiên có những tình huống
gây căng thẳng cho người này nhưng lại không gây căng thẳng cho
người khác và ngược lại. Khi bị căng thẳng mỗi ngưới có tâm trạng,
cảm xúc và hành động khác nhau. Cũng có khi là những cảm xúc
tích cực nhưng thường là cảm xúc- suy nghĩ theo hướng tiêu cực gây
ảnh hưởng không tốt đến thể chất tinh thần của con người.
Kỹ năng ứng phó căng thẳng là khả năng con ngươi bình tĩnh, tự
tin sẵn sàng ứng phó với những căng thẳng như là một phần tất yếu
của cuộc sống. Khi gặp những căng thẳng người có KNS sẽ xác định
được nguyên nhân,hậu quả, cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó
một cách tích cực.
Ví dụ khi dạy tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn
Nguyễn Minh Châu. GV đặt câu hỏi bằng cách đưa ra một đoạn văn:
“… Lão dàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong
người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như
những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng noi chẳng rằng lão
trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng, quất tới
tấp vào lưng người đàn bà. Lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm
răng nghiến ken két, rên rỉ đau đớn:”Mày chết đi cho ông nhờ.
Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”.
Người đàn bà với vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề chống trả
cũng không tìm cách chạy trốn…”