intTypePromotion=3

Bài giảng An toàn lao động và bảo vệ môi trường

Chia sẻ: YUHT Nguyễn | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:35

0
174
lượt xem
61
download

Bài giảng An toàn lao động và bảo vệ môi trường

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài giảng "An toàn lao động và bảo vệ môi trường" giới thiệu đến các bạn những kiến thức về những khái niệm chung về an toàn lao động, vệ sinh lao động,... Tham khảo nội dung bài giảng để nắm bắt đầy đủ nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài giảng An toàn lao động và bảo vệ môi trường

  1. Bài giảng. AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Chương 1. NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG 1.1. Khái niệm về bảo hộ lao động ­ Bảo hộ lao động là môn khoa học nghiên cứu các vấn đề hệ thống các văn bản pháp  luật, các biện pháp về tổ chức kinh tế ­ xã hội và khoa học công nghệ để cải tiến điều  kiện lao động nhằm:  + Bảo vệ sức khoẻ, tính mạng con người trong lao động.  + Nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.  + Bảo vệ môi trường lao động nói riêng và môi trường sinh thái nói chung.  + Góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động.  ­ Nói 1 cách ngắn gọn hơn: Bảo hộ lao động là hệ  thống các giải pháp về  pháp luật,  khoa học kỹ thuật, kinh tế ­ xã hội nhằm đảm bảo an toàn và sức khỏe của con người   trong quá trình lao động sản xuất.  ­ Từ  khái niệm trên có thể  thấy rõ tính pháp lý, tính khoa học, tính quần chúng của  công tác bảo hộ lao động luôn gắn bó mật thiết với nhau và nội dung của công tác bảo  hộ lao động nhất thiết phải thể hiện đầy đủ các tính chất trên.  1.2. Mục đích bảo hộ lao động:   ­ Mục đích:  + Bảo đảm cho mọi người lao động những điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh, thuận   lợi và tiện nghi nhất.  + Không ngừng nâng cao năng suất lao động, tạo nên cuộc sống hạnh phúc cho người  lao động.  + Góp phần vào việc bảo vệ và phát triển bền vững nguồn nhân lực lao động.  + Nhằm thoả  mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người mà trước hết là của chính  người lao động.  ­ Đây cũng là chính sách đầu tư  cho chiến lược phát triển kinh tế, xã hội trong sự  nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.  ­ Chính sách bảo hộ lao động chính là những chủ trương, quyết định, quy định, hướng   dẫn nhằm thể chế hóa, cụ thể hóa quan điểm, đường lối về công tác bảo hộ lao động.   Thực tiễn hiện nay đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết trong việc đổi mới chính  sách bao hộ lao động cho phù hợp với yêu cầu nền kinh tế hiện nay.   1.3. Ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động:    ­Ý nghĩa về mặt chính trị: 
  2. + Làm tốt công tác bảo hộ lao động sẽ góp phần vào việc cũng cố lực lượng sản xuất  và phát triển quan hệ sản xuất.  + Chăm lo đến sức khoẻ, tính mạng, đời sống của người lao động.  + Xây dựng đội ngũ công nhân lao động vững mạnh cả về số lượng và thể chất.  ­ Ý nghĩa về mặt pháp lý:  + Bảo hộ lao động mang tính pháp lý vì mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà   nước, các giải pháp khoa học công nghệ, các biện pháp tổ  chức xã hội đều được thể  chế hoá bằng các quy định luật pháp.  + Nó bắt buộc mọi tổ  chức, mọi người sử  dụng lao động cũng như  người lao động   thực hiện.  → Trên thế giới quyền được bảo hộ lao động đã được thừa nhận vỡ trở thành 1 trong  những mục tiêu đấu tranh của người lao động.  ­ Ý nghĩa về mặt khoa học:  + Được thể hiện ở các giải pháp khoa học kỹ thuật để loại trừ các yếu tố nguy hiểm   vỡ có hại thông qua việc điều tra, khảo sát, phân tích vỡ đánh giá điều kiện lao động,  biện pháp kỹ thuật an toàn, phòng cháy chữa cháy, kỹ thuật vệ sinh, xử lý ô nhiễm môi  trường lao động, phương tiện bảo vệ cá nhân,...  + Việc  ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, khoa học công nghệ  tiên tiến để  phòng ngừa,   hạn chế tai nạn lao động xảy ra.  + Nó còn liên quan trực tiếp đến bảo vệ  môi trường sinh thái, vì thế  hoạt động khoa  học về  bảo hộ  lao động góp phần quyết định trong việc giữ  gìn môi trường trong   sạch.  ­ Ý nghĩa về tính quần chúng:  + Nó mang tính quần chúng vì đó là công việc của đông đảo những người trực tiếp   tham gia vào quá trình sản xuất. Họ là người có khả năng phát hiện và đề xuất loại bỏ  các yếu tố có hại và nguy hiểm ngay chỗ làm việc.  + Không chỉ người lao động mỡ mọi cán bộ quản lý, khoa học kỹ thuật... đều có trách   nhiệm tham gia vỡo việc thực hiện các nhiệm vụ của công tác bảo hộ lao động.  + Ngoài ra các hoạt động quần chúng như phong trào thi đua, tuyên truyền, hội thi, hội   thao, giao lưu liên quan đến an toàn lao động đều góp phần quan trọng vào việc cải   thiện không ngừng điều kiện làm việc, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.  Tóm lại,  ở  đâu có sản xuất, công tác, có con người làm việc thì  ở  đó phải tiến hành  công tác bảo hộ  lao động. Bảo hộ  lao động trước hết là phạm trù của sản xuất, gắn  liền với sản xuất nhằm bảo vệ  yếu tố  năng động nhất của lực lượng sản xuất là  người lao động; đồng thời nhờ chăm lo sức khỏe cho người lao động, mang lại hạnh   phúc cho bản thân và gia đình họ mỡ công tác bảo hộ lao động có 1 hệ quả xã hội vỡ  nhân đạo rất to lớn. 
  3. 1.4. Nội dung của bảo hộ lao động:  Bảo hộ lao động gồm 4 phần:  ­ Luật pháp bảo hộ lao động: là những quy định về  chế độ, thể lệ bảo hộ lao động  như:  • Giờ giấc làm việc và nghỉ ngơi.  • Bảo vệ và bồi dưỡng sức khoẻ cho công nhân.  • Chế độ lao động đối với nữ công nhân viên chức.  • Tiêu chuẩn quy phạm về kỹ thuật an toà và vệ sinh lao động.  → Luật lệ bảo hộ lao động được xây dựng trên cơ sở yêu cầu thực tế của quần chúng  lao động, căn cư  vào trình độ  phát triển kinh tế, trình độ  khoa học được sửa đổi, bổ  sung dần dần thích hợp với hoàn cảnh sản xuất trong từng thời kỳ  kinh tế  của đất   nước.  ­ Vệ sinh lao động: nhiệm vụ của vệ sinh lao động là:  • Nghiên cứu  ảnh hưởng của môi trường và điều kiện lao động sản xuất lên cơ  thể  con người.  • Đề ra những biện pháp về y tế vệ sinh nhằm loại trừ và hạn chế ảnh hưởng của các  nhân tố phát sinh những nguyên nhân gây bệnh nghề nghiệp trong sản xuất.  ­ Kỹ thuật an toàn lao động:  • Nghiên cứu phân tích các nguyên nhân chấn thương, sự phòng tránh tai nạn lao động   trong sản xuất, nhằm bảo đảm an toàn sản xuất và bảo hộ lao động cho công nhân.  • Đề  ra và áp dụng các biện pháp tổ  chức và kỹ  thuật cần thiết nhằm tạo điều kiện   làm việc an toàn cho người lao động để đạt hiệu quả cao nhất.  ­ Kỹ thuật phòng cháy chữa cháy:  • Nghiên cứu phân tích các nguyên nhân cháy, nổ trên công trường.  • Tìm ra biện pháp phòng cháy, chữa cháy có hiệu quả nhất.  • Hạn chế sự thiệt hại thấp nhất do hoả hoạn gây ra.  1.5. Những quan điểm trong công tác bảo hộ lao động: Bảo hộ  lao động là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Các quan điểm  cơ   bản   đã   được   thể   hiện   trong   sắc   lệnh   29/SL   ngày   13/03/1947   và   77/SL   ngày  25/05/1950 về an toàn­ vệ sinh lao động và thời gian lao động­ nghỉ ngơi; trong điều lệ  tạm thời về  bảo hộ  lao động tại Nghị  định số  181/CP ngày 18/12/1964; trong Hiến   pháp năm 1958; trong Pháp lệnh bảo hộ lao động/ trong Hiến pháp năm 1992. Bộ luật  lao động ban hành năm 1994 và gần đây trong Bộ luật lao động sửa đổi bổ  sung năm   2003. Cụ thể là:
  4. ­ Con người là vốn quý nhất của xã hội: Người lao động vừa là động lực, vừa là  mục tiêu phát triển xã hội. Bảo hộ lao động là một phần quan trọng, là bộ phận không   thể tách rời của chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Lao động là động lực chính của   sự tiến bộ con người.  ­ Bảo hộ lao động phải thực hiện đồng thời với quá trình sản xuất: Khi nào và ở  đâu có hoạt động lao động sản xuất thì khi đó và ở đó có tổ chức công tác bảo hộ lao  động theo đúng phương châm “Bảo đảm an toàn để sản xuất, sản xuất phải bảo đảm  an toàn lao động”. ­ Công tác bảo hộ lao động phải thể hiện đầy đủ  ba tính chất: khoa học kỹ thuật,  luật pháp và quần chúng mới đạt hiệu quả. ­ Người sử dụng lao động chịu trách nhiệm chính trong việc bảo hộ lao động cho   người lao động: Nhà nước bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cả  hai chủ  thể  trong quan hệ  lao động mới nâng cao được nghĩa vụ  của mỗi bên trong công tác bảo  đảm an toàn và sức khỏe người lao động. 1.6. Hệ thống pháp luật bảo hộ lao động 1.6.1. Nội dung chủ yếu của pháp luật bảo hộ lao động Hệ thống các văn bản bao gồm: + Tiêu chuẩn, quy phạm kỹ thuật an toàn. + Tiêu chuẩn vệ sinh lao động + Quy phạm quản lý và các chế độ cụ thể 1.6.2. Mục tiêu của pháp luật bảo hộ lao động Mục tiêu công tác bảo hộ lao động là đảm bảo cho người lao động không bị ốm   đau, bệnh tật, tai nạn do tác động của các yếu tố nguy hiểm, có hại trong lao động sản  xuất thông qua hệ thống pháp luật, chính sách và các giải pháp về khoa học kỹ thuật,   kinh tế, xã hội, tuyên truyển giao dục, tổ  chức lao động và sự  tuân thủ  nội quy, quy   trình, quy phạm an toàn và vệ sinh lao động của người sử dụng lao động và của người   lao động. 1.6.3. Phạm vi đối tượng của công tác bảo hộ lao động:  a/Người lao động:  ­Là phải kể cả người học nghề, tập nghề, thử việc được làm trong điều kiện an toàn,   vệ    sinh, không bị  tai nạn lao động, không bị  bệnh nghề  nghiệp; không phân biệt  người lao động trong cơ  quan, doanh nghiệp của Nhà nước hay trong các thành phần  kinh tế khác; không phân biệt người Việt Nam hay người nước ngoài.  b/Người sử dụng lao động: 
  5. ­Ở các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch   vụ  thuộc các thành phần kinh tế  khác, các cá nhân có sử  dụng lao động để  tiến hành  các hoạt động sản xuất, kinh doanh.  ­ Các doanh nghiệp có vốn đầu tư  nước ngoài, các đơn vị  xí nghiệp, sản xuất kinh   doanh, dịch vụ, các cơ  quan hành chính sự  nghiệp, tổ  chức chính trị  xã hội, đoàn thể  nhân dân, các doanh nghiệp thuộc lực lượng Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân,  các cơ  quan tổ  chức nước ngoài hoặc quốc tế  tại Việt Nam có sử  dụng lao động là  người Việt Nam.  Như vậy, người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật về bảo   hộ lao động trong đơn vị mình.  1.6.4. Các quy định về kỹ thuật an toàn và vệ sinh lao động:  ­ Nhà nước ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động, quy phạm quản lý  đối với từng loại máy, thiết bị, công trình, kho tàng, hoá chất nơi làm việc. Người sử  dụng lao động phải căn cứ  để  xây dựng nội quy, quy trình làm việc an toàn. Tiêu  chuẩn  an toàn vệ sinh là tiêu chuẩn bắt buộc thực hiện.   ­ Khi lập luận chứng kinh sở  sản xuất; sử  dụng, bảo quản, l ưu gi ữ các loại  máy, thiết bị, ngặt về an toàn vệ sinh lao động thì chủ đầu tư phải bảo vệ và lập luận   chứng về  an toàn và vệ  sinh lao động. Cơ  quan thanh tra an toàn và vệ  sinh lao động  tham gia đánh giá tính khả thi của nó. Danh mục các cơ sở, máy móc, thiết bị, vật tư,   các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn và vệ  sinh lao động do Bộ  Lđ­TB và XH  vỡ Bộ Y tế ban hành.  ­ Khi triển khai thực hiện các dự  án, chủ  đầu tư phải thực hiện đúng các luận chứng   về  an toàn và vệ  sinh lao động trong dự án đã được Hội đồng thẩm định dự  án chấp   thuận.  ­ Người sử  dụng lao động phải định kỳ  kiểm định, bảo dưỡng, sửa chữa máy móc,  thiết bị, nhà xưởng và định kỳ đo đạc các yếu tố vệ sinh lao động tại nơi làm việc và  thực hiện các biện pháp bảo đảm người lao động luôn luôn được làm việc trong điều  kiện an toàn và vệ sinh lao động theo tiêu chuẩn đã nêu ở điểm a). Các máy móc có yêu  cầ nghiêm ngặt về  an toàn và vệ  sinh lao động đều phải được đăng ký, kiểm định và   được cấp giấy phép trước khi đưa và sử dụng.  ­ Tại những nơi làm việc có yếu tố nguy hiểm, có hại dễ gây tai nạn lao động, sự  cố  sản xuất đe doạ  đến tính mạng, sức khoẻ  của người lao động, người sử  dụng lao  động phải  lập phương   án xử  lý sự  cố  trong trường  hợp khẩn cấp; phải trang bị  phương tiện cấp cứu kỹ thuật, cấp cứu y tế đảm bảo ứng cứu kịp thời, có hiệu quả.  Các trang thiết bị này phải được định kỳ  kiểm tra về  số  lượng, chất lượng và thuận   tiện khi sử dụng. 
  6. ­ Các cơ quan đơn vị, doanh nghiệp hoặc thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm   ngặt về an toàn lao động đều phải thông qua cơ  quan thanh tra an toàn thuộc Bộ  LĐ­ TB và XH thẩm định về  mặt an toàn trước khi xin Bộ  Thương mại cấp giấy phép  nhập khẩu. ­ Người sử dụng lao động phải trang thiết bị cho người lao động (không thu tiền) các  loại thiết bị bảo vệ cá nhân để  ngăn ngừa tác hại của các yếu tố  nguy hiểm do công   việc mỡ các biện pháp kỹ thuật chưa loại trừ.  1.6.5. Quyền và nghĩa vụ của người lao động 1. Đối với người sử dụng lao động: a/Nghĩa vụ:  ­ Hàng năm phải lập kế hoạch, biện pháp an toàn, vệ sinh lao động và cải thiện điều  kiện lao động. Người sử  dụng lao động phải đảm bảo các điều kiện về  an toàn lao  động, vệ  sinh lao động. Những điều kiện này phải được thể  hiện dầy đủ  và cụ  thể  trong hợp đồng lao động và trong thỏa  ước lao động tập thể  giữa người lao động và  người sử dụng lao động ­ Phải trang bị  đầy đủ  và đúng chủng loại các phương tiện bảo vệ  cá nhân đạt tiêu  chuẩn về chất lượng, quy cách theo quy định cho người lao động. Thực hiện các quy  định về  gời làm việc, nghỉ ngơi, chế độ  bồi dưàng, chế  độ  phụ  cấp dộc hại, chế  độ  đối với lao động  nữ  lao động chưa thành niên, lao động đặ  thù,...đối với người lao  động theo quy định của Nhà nước. ­Thành lập Hội đồng bảo hộ lao động cơ sở. Phân  công trách nhiệm về  bảo hộ  lao động và việc thực hiện các quy định, nội quy, biện  pháp an toàn lao động trong doanh nghiệp. Tự kiểm tra tình hình thực hiện các công tác   bảo hộ lao động tại cơ sở.  ­ Có kế hoạch giám sát việc thực hiện các quy định, nội quy, biên pháp an toàn, vệ sinh  lao động. Phối hợp với công đoàn cơ  sở  xây dựng và duy trì sự  hoạt động của mạng  lưới an toàn viên và vệ sinh viên.  ­ Xây dựng mới, bổ  sung và hoàn thiện các nội quy an toàn ­ vệ  sinh lao động,  quy  trình  vận hành phù hợp với từng loại máy, thiết bị, vật  ưt, dây chuyền công nghệ.   Định kỳ  kiểm tra, kiểm định độ  an toàn của máy, thiết bị  theo tiêu chuẩn quy định,   đồng thời có biện pháp khắc phục kịp thời  những thiếu sót được phát hiện ngay sau  khi kiểm tra, kiểm định.  b/Quyền hạn  ­ Buộc người lao động phải tuân thủ  các quy định, nội dung, biện pháp an toàn, vệ  sinh lao động.  ­ Khen thưởng người lao động chấp hành tốt và kỷ  luật người vi phạm thực hiện an  toàn, vệ sinh lao động. ­ Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của thanh tra viên an toàn lao động  nhưng phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định đó. 
  7. 2. Đối với người lao động:  a/Nghĩa vụ:  ­ Chấp hành các quy định về  an toàn, vệ  sinh lao động có liên quan đến công việc và   nhiệm vụ được giao.  ­ Phải sử  dụng và bảo quản các  phương tiện bảo vệ  cá nhân đã được trang bị  cấp  phát,  các thiết bị  an toàn,  vệ  sinh nơi làm việc, nếu làm mất mác hoặc hư  hỏng thì   phải bồi thường.  ­ Phải báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ gây tại nạn lao  động, bênh nghề  nghiệp hoặc các sự  cố  nguy hiểm, tham gia cấp cứu và khắc phục   hậu quả tai nạn lao động.  b/ Quyền hạn ­Yêu cầu bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, vệ  sinh, cải thiện điều kiện lao động  cũng như được cấp các thiết bị cá nhân, được huấn luyện biện pháp an toàn lao động.  ­Từ chối các công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ nguy cơ xảy ra tai nạn lao  động, đe dọa nghiờm trọng đến tính mạng, sức khoẻ  của mình và phải báo ngay với  người phụ  trách trực tiếp; sẽ  không tiếp tục làm việc nếu như  thấy nguy cơ  đó vẫn  chưa được khắc phục.  ­ Khiếu nại hoặc tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi sử dụng lao động vi   phạm quy định của Nhà nước hoặc không thực hiện các giao kết về  an toàn, vệ  sinh   lao động trong hợp đồng hoặc thoả ước lao động tập thể.  1.6.6. Những vấn đề khác trong pháp luật bảo hộ lao động 1. Quy định về thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi a/ Thời gian làm việc: ­ Thời gian làm việc không quá 8 giờ  trong một ngày hoặc 40 giờ  trong một tuần.  Người sử  dụng lao động có quyền quy định thời giờ  làm việc theo ngày hoặc tuần,  nhưng phải thông báo trước cho người lao động biết.  ­ Thời giờ làm việc hàng ngày được rút ngắn từ một đến 2 giờ  đối với những người   làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.  ­ Người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả  thuận làm thêm giờ, nhưng   không được quá 4 giờ/ngày, 200giờ/năm.  ­ Thời giờ làm việc ban đêm tính từ 22 đến 6 giờ sáng (từ Thừa thiên ­ Huế trở ra phía  Bắc) hoặc từ 21 đến 5 giờ sáng (từ Đà nẵng trở vào phía Nam). b/ Thời gian nghỉ ngơi:   ­ Người lao động làm việc 8 giờ  liên tục thì được nghỉ  ít nhất nửa giờ, tính vào giờ  làm việc.  ­ Người làm ca đêm được nghỉ giữa ca ít nhất 45 phút, tính vào giờ làm việc. 
  8. ­ Người làm việc theo ca được nghỉ ít nhất 12 giờ trước khi chuyển sang ca khác.  ­ Mỗi tuần người lao động được nghỉ 48 giờ. ­ Người lao động được nghỉ  làm việc, hưởng nguyên lương những ngày lễ  sau đây:   Tết dương lịch; 1 ngày; Tết âm lịch: 4 ngày; Ngày chiến thắng: 1 ngày (30/4 Dương  lịch);  Ngày quốc tế  lao động: 1 ngày (1/5 Dương lịch);Ngày Quốc   khánh: 1 ngày. Nếu  những ngày nghỉ nói trên trùng vào ngày nghỉ hàng tuần thì người lao động được nghỉ  bù vào ngày tiếp theo.  ­ Người lao động có 12 tháng làm việc tại một doanh nghiệp hoặc với một người sử  dụng lao động thì ddược nghỉ phép hàng năm, hưởng nguyên lương theo quy định sau  đây: +   12 ngày nghỉ phép, đối với người làm công việc trong điều kiện bình  thường.  + 14 ngày nghỉ phép, đối với người làm việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm  hoặc những nơi có điều kiện sống khắc nghiệt và đối với người dưới 18 tuổi.  + 16 ngày nghỉ phép, đối với người làm việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại,  nguy hiểm. ­ Người lao động được nghỉ  về  việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương trong những  trường hợp sau đây: Kết hôn nghỉ 3 ngày; con kết hôn, nghỉ một ngày; Bố mẹ (cả bên  vợ và bên chồng) chết, vợ hoặc chồng chết, con chết, nghỉ 3 ngày. 2. Quy định về an toàn – vệ sinh lao động a/ Lập luận chứng an toàn ­ vệ sinh lao động  ­ Việc xây dựng mới hoặc mở rộng, cải tạo cơ sở để  sản xuất, sử  dụng, bảo quản,  lưu giử và tàng trữ các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về  an toàn lao động, vệ sinh lao động, phải có luận chứng về các biện pháp đảm bảo an  toàn lao động, vệ  sinh lao động đối với nơi làm việc của người lao động và môi  trường xung quanh theo quy định của pháp luật.  ­ Việc sản xuất, sử dụng, bảo quản, vận chuyển các loại máy, thiết bị, vật tư, năng  lượng, điện, hoá chất, việc thay đổi công nghệ, nhập khẩu công nghệ mới phải được   thực hiện theo tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động. Phải được khai báo, đăng   ký và xin cấp giấy phép  với cơ quan thanh tra nhà nước về an toàn lao động hoặc vệ  sinh lao động.   b/ Bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp  ­ Người sử  dụng lao động phải chịu toàn bộ  chi phí y tế  từ  khi sơ  cứu, cấp cứu đến   khi điều trị  xong cho người bị  tai nạn lao động hoặc bệnh nghề  nghiệp. Người lao   động 
  9. được hưởng chế độ bao hiểm xã hội về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.  ­ Người sử dụng lao động có trách nhiệm bồi thường ít nhất bằng 30 tháng lương cho   người lao động bị  suy giảm khả  năng lao động từ  81% trở  lên hoặc cho thân nhân  người chết do tai nạn lao động, bệnh nghề  nghiệp mà không do lỗi của người lao   động. Trường hợp do lỗi của người lao động, thì cũng được trở cấp một khoản tiền ít  nhất bằng 12 tháng lương. 3. Quy định đối với lao động nữ, lao động vị thành niên, lao động tàn tật  a. Đối với lao động nữ  ­ Nghiêm cấm người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc  phạm danh dự và nhân phẩm phụ nữ. Phải thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ về  tuyển dụng, sử dụng, nâng bậc lương và trả công lao động.  ­ Người lao động nữ  được nghỉ  trước và sau khi sinh con là 6 tháng. Không được sử  dụng lao động nữ  có thai từ  tháng thứ  7 hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng làm thêm  giờ, làm việc ban đêm và đi công tác xa. Trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng được  nghỉ mỗi ngày 60 phút.  ­ Nơi có sử dụng lao động nữ phải có chổ  thay quần áo, buồng tắm và buồng vệ sinh  nữ.  ­ Trong thời gian nghỉ việc để đi khám thai, do sẩy thai, nghỉ để  chăm sóc con dưới 7   tuổi ốm đau, người lao động được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội.    b. Đối với lao động chưa thành niên  ­ Lao động dưới 18 tuổi gọi là chưa thành niên. Nơi có sử  dụng người lao động chưa   thành niên phải lập sổ theo dọi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày sinh, công việc đang  làm, kết quả kiểm tra sức khoẻ định kỳ.  ­ Nghiêm cấm nhận trẻ  em chưa đủ  15 tuổi vào làm việc, trừ  1 số  nghề  do Bộ  Lao   động ­ Thương binh và Xã hội quy định.  ­ Thời gian làm việc của người lao động chưa thành niên không được quá 7 giờ  một   ngày và làm những việc phù hợp với sức khoẻ của người lao động.  c. Lao động là người tàn tật  ­ Nhà nước bảo hộ quyền làm việc của người tàn tật và khuyến khích việc thu nhận,  tạo việc làm cho người tàn tật.  ­ Thời giờ làm việc của người tàn tật không quá 7 giờ một ngày và làm các công việc  phù hợp với sức khẻ của người tàn tật. ­  Cấm sử dụng người tàn tật đã suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên làm thêm  giờ, làm việc ban đêm. 
  10. Chương 2: VỆ SINH LAO ĐÔNG 2.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VSLĐ 2.1.1. Đối tượng và nhiệm vụ của vệ sinh lao động Vệ  sinh lao động là môn khoa học nghiên cứu ảnh hưởng những yếu tố có hại   trong sản xuất đối với sức khỏe người lao động, tìm các biện pháp cải thiện điều kiện   lao động, phòng ngừa các bệnh nghề nghiệp và nâng cao khả năng cho người lao động Trong sản xuất, người lao động có thể phải tiếp xúc với những yếu tố  có ảnh  hưởng không tốt đến sức khỏe, các yếu tố này gọi là những tác hại nghề nghiệp. Tác  hại nghề  nghiệp  ảnh hưởng  ở  những mức độ  khác nhau như  mệt mỏi, suy nhược,   giảm khả năng lao động, phát sinh các bệnh thông thường hoặc gây ra các bệnh nghề  nghiệp. Chẳng hạn như nghề rèn, nghề đúc kim loại, yếu tố tác hại nghề nghiệp đó là   nhiệt độ cao, nghề dệt là tiếng ồn, bụi… Nội dung của môn Vệ sinh lao động bao gồm: ­ Nghiên cứu đặc điểm vệ sinh của các quá trình sản xuất ­ Nghiên cứu các biến đổi sinh lí, sinh hóa trong cơ thể ­ Nghiên cứu việc tổ chức lao động và nghỉ ngơi hợp lý ­ Nghiên cứu các biện pháp đề  phòng tình trạng mệt mỏi trong lao động, hạn  chế ảnh hưởng của các yếu tố tác hại nghề nghiệp trong sản xuất, đánh giá hiệu quả  của các biện pháp đó. ­ Quy định các tiêu chuẩn vệ sinh, chế độ vệ sinh xí nghiệp và người lao động ­ Tổ chức khám tuyển và sắp xếp người lao động hợp lý vào các bộ  phận khác  nhau trong xí nghiệp. ­ Quản lý theo dỏi tình trạng sức khỏe người lao động, tổ  chức khám định kỳ,  phát hiện sớm bệnh nghề nghiệp 2.1.2. Các tác hại nghề nghiệp Các tác hại nghề nghiệp có thể phân thành mấy loại sau; a/ Tác hại liên quan đến quá trình sản xuất  Các yếu tố vật lý và hóa học:
  11. ­ Điều kiện vi khí hậu trong sản xuất không phù hợp như  nhiệt độ, độ  ẩm cao  hoặc thấp, thoáng khí kém, cường độ bức xạ nhiệt quá mạnh ­ Bức xạ  điện từ, bức xạ  cao tần và siêu cao tần và siêu cao tần trong khoảng   sóng vô tuyến, tia hồng ngoại, tử ngoại…các chất phóng xạ và tia phóng xạ như α, β,   γ… ­ Tiếng ồn và rung động. ­ Áp suất cao, (thợ  lặn, thợ  làm trong thùng chìm) hoặc áp suất thấp (lái máy   bay, leo núi…). ­ Bụi và các chất độc hại trong sản xuất Các yếu tố sinh vật: Vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng và các nấm mốc gây bệnh b/ Tác hại liên quan đến tổ chức lao động ­ Thời gian làm việc liên tục và quá lâu, làm việc liên tục không nghỉ, làm thông  ca…. ­ Cường độ lao động quá cao không phù hợp với tình trạng sức khỏe công nhân. ­ Chế độ làm việc, nghỉ ngơi không hợp lý ­ Làm việc với tư  thế  gò bó, không thoải mái như: cúi khom, vặn mình, ngồi,   đứng quá lâu. ­ Sự hoạt động khẩn trương, căng thẳng quá độ  của các hệ  thống và giác quan  như hệ thần kinh, thị giác, thính giác… ­ Công cụ  lao động không phù hợp với cơ  thể  và trọng lượng, hình dáng, kích  thước…. c/ Tác hại liên quan đến điều kiện vệ sinh và an toàn ­ Thiếu hoặc thừa ánh sáng, hoặc sắp xếp bố trí hệ thống chiếu sáng không hợp  lý. ­ Làm việc ở ngoài trời có thời tiết xấu, nóng về mùa hè, lạnh về mùa đông ­ Phân xưởng chật chội và việc sắp xếp nơi làm việc lộn xộn, mất trật tự ngăn   nắp. ­ Thiếu thiết bị  thông gió, chống bụi, chống nóng, chống tiếng  ồn, chống hơi  khí độc. ­ Trang thiết bị phòng hộ lao động hoặc có nhưng bảo quản không hợp lý. ­ Việc thực hiện quy tắc vệ  sinh và an toàn lao động chưa triệt để  và nghiêm  chỉnh. 2.1.3. Bệnh nghề nghiệp
  12. a/ Định nghĩa BNN Bệnh nghề  nghiệp là một hiện trạng bệnh lý của người lao động phát sinh do   tác động thường xuyên và kéo dài của điều kiện lao động xấu, có hại, mang tính chất  đặc trưng cho một loại nghề  nghiệp, công việc hoặc có liên quan đến nghề  nghiệp,  công việc đó trong quá trình lao động. Từ  khi lao động xuất hiện, con người có thể  bắt đầu bị  bệnh nghề  nghiệp khi phải   chịu  ảnh hưởng của các tác hại nghề  nghiệp, nhất là trong lao động nặng nhọc (cơ  khí, hầm mỏ...). Tuy nhiên, các bệnh này thường xảy ra từ từ và mãn tính. Bệnh nghề  nghiệp có thể  phòng tránh được mặc dù có một số  bệnh khó cứu chữa và để  lại di   chứng. Các nhà khoa học đều cho rằng người lao động bị  bệnh nghề  nghiệp phải   được hưởng các chế độ bồi thường về vật chất để có thể bù đắp được phần nào thiệt   hại cho họ khi mất đi một phần sức lao động do bệnh đó gây ra. Cần thiết phải giúp   họ khôi phục sức khoẻ và phục hồi chức năng trong khả năng của y học. Các quốc gia đều công bố  danh mục các bệnh nghề  nghiệp được bảo hiểm vầ  ban   hành các chế độ đền bù hoặc bảo hiểm. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã xếp bệnh nghề nghiệp thành 29 nhóm gồm hàng   trăm bệnh nghề  nghiệp khác nhau. Đến năm 2006, Việt Nam đã công nhận 25 bệnh  nghề nghiệp được bảo hiểm... b/ Các bệnh nghề nghiệp được công nhận ở Việt Nam 1, Bệnh bui phổi silic 2, Bệnh bụi phổi do amiang 3, Bệnh nhiễm độc chì và các hợp chất của chì 4, Bệnh nhiễm độc benzen và đồng đẳng của benzen 5, Bệnh nhiễm độc thủy ngân và các hợp chất của thủy ngân 6, Bệnh nhiễm độc mangan và các hợp chất của mangan 7, Bệnh nhiễm các tia phóng xạ và tia X 8, Bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn 9, Bệnh bụi phổi do bông 10, Bệnh rung nghề nghiệp 11, Bệnh sạm da nghề nghiệp 12, Bệnh viêm loét dạ dày, loát vách ngăn mũi, viêm da chàm tiếp xúc 13, Bệnh lao nghề nghiệp 14, Bệnh viêm gan do virus nghề nghiệp 15, Bệnh leptospira 16, Bệnh nhiễm độc TNT (trinitrotoluen)
  13. 17, Bệnh nhiễm độc asen và các hợp chất của asen nghề nghiệp 18, Bệnh nhiễm độc nicotin nghề nghiệp 19, Bệnh nhiễm độc hóa chất trừ sâu nghề nghiệp 20, Bệnh giảm áp nghề nghiệp 21, Bệnh viêm phế quản mãn tính nghề nghiệp 22, Bệnh hen phế quản nghề nghiệp 23, Bệnh nhiễm độc cacbonmonoxit nghề nghiệp 24, Bệnh nốt dấu nghề nghiệp 25, Bệnh loát da, viêm móng và xung quanh móng nghề nghiệp 2.1.4. Các biện pháp đề phòng tác hại nghề nghiệp a/ Biện pháp kỹ thuật công nghệ Cần cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ  như: Cơ giới hóa, tự  động hóa, dùng  những chất không độc hoặc ít độc thay dần những hợp chất có tính độc cao. b/ Biện pháp kỹ thuật vệ sinh Các biện pháp về  kỹ  thuật vệ  sinh như cải tiến hệ thống thông gió, hệ  thống   chiếu sáng…vv nơi sản xuất cũng là những biện pháp góp phần cải thiện điều kiện  làm việc. c/ Biện pháp phòng hộ cá nhân Đây là biện pháp bổ  trợ, nhưng trong nhiều trường hợp khi biện pháp cải tiến  quá trình công nghệ, biện pháp kỹ  thuật vệ sinh thực hiện chưa được thì nó đóng vai  trò chủ yếu trong việc đảm bảo an toàn cho người lao động trong sản xuất và phòng   bệnh nghề nghiệp. Dựa trên tính chất độc hại trong sản xuất, mỗi người lao động sẽ được trang bị  dụng cụ phòng hộ thích hợp. d/ Biện pháp tổ chức lao động khoa học Thực hiện việc phân công lao động hợp lý theo đặc điểm sinh lý của người lao   động để  tìm ra những biện pháp cải tiến làm cho lao động bớt nặng nhọc, tiêu hao  năng lượng ít hơn, hoặc làm cho lao động thích nghi được với con người và con người   thích nghi với công cụ  sản xuất mới, vừa có năng suất lao động cao hơn lại an toàn   hơn. e/ Biện pháp y tế bảo vệ sức khỏe Bao gồm việc kiểm tra sức khỏe người lao động, khám tuyển để  không chọn  người mắc một số bệnh nào đó vào làm việc ở những nơi có những yếu tố bất lợi cho   sức khỏe, vì sẽ làm cho bệnh nặng thêm hoặc dễ đưa đến mắc bệnh nghề nghiệp.
  14. Khám định kỳ  cho công nhân tiếp xúc với các yếu tố  độc hại nhằm phát hiện  sớm bệnh nghề  nghiệp và những bệnh mãn tính khác để  kịp thời có biện pháp giải  quyết.  Theo dõi công nhân một cách liên tục như  vậy mới quản lý, bảo vệ  được sức lao  động, kéo dài tuổi đời, đặc biệt là tuổi nghề cho công nhân. Ngoài ra còn phải tiến hành giám định khả năng lao động và hướng dẫn tập luyện, hồi  phục khả  năng lao động cho một số  công nhân mắc tai nạn lao động, bệnh nghề  nghiệp và các bệnh mãn tính khác đã được điều trị. Thường xuyên kiểm tra an vệ  sinh toàn lao động và cung cấp đầy đủ  thức ăn, nước   uống đảm bảo chất lượng cho công nhân làm việc với các chất độc hại. 2.1.5. Vấn đề tăng NSLĐ và chống mệt mỏi a. Khái niệm mệt mỏi trong lao động:  ­ Mệt mỏi là trạng thái tạm thời của cơ thể xảy ra sau 1 thời gian lao động nhất định.  Mệt mỏi trong lao động thể hiện ở chỗ:  •  Năng suất lao động giảm.  •  Số luợng phế phẩm tăng lên.  •  Dễ bị xảy ra tai nạn lao động.  ­ Khi mệt mỏi, người lao động cảm giác khó chịu, buồn chán công việc. Nếu được   nghỉ ngơi, các biểu hiện trên mất dần, khả năng lao động được phục hồi.  ­ Nếu mệt mỏi kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng quá mệt mỏi thì không còn là hiện tượng  sinh lý bình thường mà đã chuyển sang tình trạng bệnh lý do sự tích chứa mệt mỏi làm  rối loạn các chức năng thần kinh và ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể.  b. Nguyên nhân gây ra mệt mỏi trong lao động:  ­ Lao động thủ  công nặng nhọc và kéo dài, giữa ca làm việc không có thời gian nghỉ  ngơi hợp lý.  ­ Những công việc có tính chất đơn điệu, kích thích đều đều gây buồn chán.  ­ Thời gian làm việc quá dài.  ­ Nơi làm việc có nhiều yếu tố độc hại như  tiếng ồn, rung chuyển quá lớn, nhiệt độ  ánh sáng không hợp lý...  ­ Làm việc ở tư thế gò bó: đứng ngồi bắt buộc, đi lại nhiều lần...  ­ Ăn uống không đảm bảo khẩu phần về  năng lượng cũng như  về  sinh tố, các chất  dinh dưỡng cần thiết...  ­ Những người mới tập lao động hoặc nghề nghiệp chưa thành thạo...  ­ Bố trí công việc quá khả năng hoặc sức khoẻ mà phải làm những việc cần gắng sức   nhiều... 
  15. ­ Do căng thẳng quá mức của cơ quan phân tích như thị giác, thính giác.  ­ Tổ chức lao động thiếu khoa học. ­ Những nguyên nhân về gia đình, xã hội ảnh hưởng đến tình cảm tư tưởng của người  lao động. c. Biện pháp đề phòng mệt mỏi trong lao động:  ­ Cơ giới hoá và tự động hoá trong quá trình sản xuất. Đây không những là biện pháp  quan trọng để  tăng năng suất lao động, mà còn là những biện pháp cơ  bản đề  phòng  mỏi mệt.  ­Tổ  chức lao động khoa học, tổ chức dây chuyền lao động và ca kíp làm việc hợp lý   để  tạo ra những điều kiện tối  ưu giữa con người và máy, giữa con người và môi  trường lao động...  ­ Cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động nhằm loại trừ các yếu tố có hại.  ­ Bố trí giờ giấc lao động và nghỉ ngơi hợp  lý, không kéo dài thời gian lao động nặng   nhọc quá mức quy định, không bố trí làm việc thêm giờ quá nhiều.  ­ Coi trọng khẩu phần ăn của người lao động, đặc biệt là những nghề nghiệp lao động  thể lực.  ­ Rèn luyện thể dục thể thao, tăng cường nghỉ ngơi tích cực.  ­ Xây dựng tinh thần yêu  lao động, yêu ngành nghề, lao động tự giác, tăng cường các  biện pháp động viên tình cảm, tâm lý nhằm loại những nhân tố tiêu cực dẫn đến mệt   mỏi về tâm lý, tư tưởng.  ­ Tổ chức tốt các khâu về gia đình, xã hội nhằm tạo ra cuộc sống vui tươi lành mạnh   để tái tạo sức lao động, đồng thời ngăn ngừa mệt mỏi. 2.2. Vi khí hậu 2.2.1. Khái niệm về VKH VKH là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp gồm   các yếu tố  nhiệt độ, độ   ẩm, bức xạ  nhiệt và vận tốc chuyển động không khí. Điều   kiện VKH trong sản xuất phụ  thuộc vào tính chất của quá trình công nghệ  và điều  kiện khí hậu địa phương. Về  mặt vệ  sinh, vi khí hậu có  ảnh hướng đến sức khỏe, bệnh tật của công   nhân. Làm việc lâu trong điều kiện vi khí hậu lạnh và ẩm có thể mắc bệnh thấp khớp,   viêm đường hô hấp trên, viêm phổi và làm cho bệnh lao nặng thêm. Vi khí hậu lạnh và  khô làm cho rối loạn vận mạch thêm trầm trọng, gây khô niêm mạc, nứt nẻ da. Vi khí   hậu nóng ẩm làm giảm khả năng bay hơi mồ hôi, gây ra rối loạn cân bằng nhiệt, làm   cho mệt mỏi xuất hiện sớm, nó còn tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển, gây các  bệnh ngoài da. Tùy theo tính chất tỏa nhiệt của quá trình sản xuất người ta chia ra 3 loại vi khí  hậu sau:
  16. • Vi khí hậu tương đối ổn đinh, nhiệt độ tỏa ra khoảng 20kcal/m3kk.h, ở trong  xưởng cơ khí, dệt… • Vi khí hậu nóng tỏa nhiệt hơn 20kcal/m3kk.h  ở xưởng đúc, rèn, dát cán thép,  luyện gang thép… • Vi khí hậu lạnh, nhiệt tỏa ra dưới 20kcal/m3kk.h  ở trong các xưởng lên men   rượu bia, nhà ướp lạnh, chế biện thực phẩm. 2.2.2. Các yếu tố của VKH a/ Nhiệt độ: là yếu tố quan trọng nhất trong sản xuất, phụ thuộc vào các quá trình sản  xuất: Lò phát nhiệt, ngọn lửa, bề  mặt máy bị  nóng, năng lượng điện, cơ  biến thành  nhiệt, phản ứng hóa học sinh nhiệt, bức xạ nhiệt của mặt trời, nhiệt do công nhân sản  ra…Chính các nguồn nhiệt này đã làm cho nhiệt độ  không khí lên cao, có khi lên tới   50­600C.  Điều lệ  vệ  sinh quy định nhiệt độ  tối đa cho phép  ở  nơi làm việc của công nhân về  mùa hè là 300C và không được vượt quá từ 3­50C. b/ Bức xạ nhiệt: là những sóng điện từ như: tia hồng ngoại, tia sáng thường và tia tử  ngoại. Bức xạ  nhiệt do các vật thể  đen được nung nóng phát ra. Khi nung tới 5000C  chỉ phát ra tia hồng ngoại, nung nóng đến 1800­20000C còn phát ra tia sáng thường và  tia tử ngoại, nung nóng tiếp, lượng tia tử ngoại phát ra càng nhiều. Về  mặt sinh lý, cường độ  bức xạ  nhiệt được biểu thị  bằng cal/m2phút và được đo  bằng nhiệt kế cầu hoặc actinometre,  ở các xưởng rèn, đúc, cán thép có cường độ  bức   xạ nhiệt tới 5­10kal/m2.phút (tiêu chuẩn vệ sinh cho phép là 1kcal/m2.phút). c/ Độ ẩm: Là lượng hơi nước có trong không khí biểu thị bằng g/m 3kk hoặc bằng sức   trương hơi nước tính bằng mm thủy ngân. Về mặc vệ sinh thường lấy độ ẩm tương đối là tỷ lệ phần trăm giữa độ ẩm tuyệt đối   ở một thời điểm nào đó so với độ ẩm tối đa để biểu thị mức độ cao hay thấp. Điều lệ  vệ sinh quy định độ ẩm tương đối nơi sản xuất ở trong khoảng 75­85%. d/ Vận tốc chuyển động không khí: Được biểu thị bằng m/s. Theo Sacbazan giới hạn   trên của vận tốc chuyển động không khí không vượt quá 3m/s, trên 5m/s gây kích thích   bất lợi cho cơ thể. 2.2.3. Ảnh hưởng của vi khí hậu đối với cơ thể con người Nhiệt độ  không khí và sự  lưu chuyển không khí quyết định sự  trao đổi nhiệt   bằng đối lưu, bề  mặt các vật rắn như  tường, trần sàn, máy móc…quyết định quyết  định sự trao đổi nhiệt bằng bức xạ, độ  ẩm không khí và nhiệt độ  quyết định sự  trao   đổi nhiệt bằng bay hơi mồ  hôi. Biết được các điều kiện vi khí hậu để  tìm các biện   pháp thay đổi, tạo điều kiện cho cơ thể duy trì được sự cân bằng nhiệt thuận lợi.
  17. a/ Ảnh hưởng của vi khí hậu nóng Biến đổi sinh lý: Khi nhiệt độ  thay đổi, da, đặc biệt là trán rất nhạy cảm đối  với nhiệt độ không khí bên ngoài. Biến đổi về cảm giác nhiệt của da trán như sau: 28­290C:        Cảm giác lạnh 29­300C:        Cảm giác mát 30­310C:        Cảm giác dễ chịu 31,5­32,50C:  Cảm giác nóng 32,5­33,50C:    Cảm giác rất nóng 33,50C trở lên:    Cảm giác cực nóng Thân nhiệt (ở  dưới lưỡi) nếu thấy tăng từ  0,3­1 0CC là cơ  thể  có sự  tích nhiệt.  Thân nhiệt ở 38,50C được coi là nhiệt báo động. Chuyển hóa nước: Cơ thể người hằng ngày có sự cần bằng giữa lượng nước ăn  uống vào và thải ra; ăn uống vào từ 2,5 ­3 lít và thải ra ngoài khoảng  1,5 lít qua thận;  0,2 lít qua phân, lượng còn lại theo mồ hôi và hơi thở ra ngoài. Làm việc trong điều kiện nóng bức, lượng mồ hôi có khi tiết 5­7 lít trong một ca   làm việc, trong đó mất đi một lượng muối ăn khoảng 20gam, một số  muối khoáng  gồm Na, K, Ca, Fe, I và một số  sinh tố  C, B1, PP. Do mất nước nhiều, tỷ trọng máu  tăng lên, tim phải làm việc nhiều để  thải lượng nhiệt thừa của cơ  thể  (chuyển 1 lít   máu ra ngoài làm mất đi 2,5kcal). Vì thế  nước qua thận còn 10­15% so với mức bình   thường, nên chức năng của thận bị ảnh hưởng. Mặt khác, do mất nước nhiều nên phải  uống bổ  sung nên làm cho dịch vị  bị  loảng ra, làm mất cảm giác thèm ăn và ăn mất   ngon, chức năng thần kinh bị   ảnh hưởng làm giảm sự  chú ý, giảm phản xạ, kéo dài  thời gian phản ứng nên dẫn tới dễ bị tai nạn. Trong điều kiện vi khí hậu nóng, các bệnh thường tăng lên gấp đôi so với mức   bình thường. Rối loạn bênh lý do vi khí hậu nóng thường gặp là chứng say nóng và  chứng co giật, làm cho con người bị chóng mặt, đau đầu, buồn nôn và đau thắt lưng.   Thân nhiệt có thể lên hơn 370C, mạch nhanh, nhịp thờ nhanh. Trường hợp nặng cơ thể  bị choáng, mạch nhỏ, thở nông. b/ Ảnh hưởng của vi khí hậu lạnh Khi nhiệt độ  môi trường giảm, chuyển hóa năng lượng tăng lên để  chống lạnh. Nếu  nhiệt độ  môi trường tiếp tục lạnh, năng lượng sẽ  bị  cạn kiệt, cơ  thể  sẽ  bị  nhiễm   lạnh. Lạnh làm cho cơ  thể  mất nhiệt nhiều, nhịp tim, nhịp thở giảm và tiêu thụ  oxy  tăng. Lạnh làm cho các cơ vân, cơ trơn co lại gây hiện tượng nổi da gà, các mạch máu  co thắt sinh cảm giác tê cóng chân tay, vận động khó khăn. Trong điều kiện vi khí hậu   lạnh dễ xuất hiện một số bệnh viêm dây thần kinh, viêm khớp, viêm phế quản, hen và  một số bệnh mãn tính khác do máu lưu thông kém và sức đề kháng của cơ thể giảm. c/ Ảnh hưởng của bức xạ nhiệt
  18. Trong các phân xưởng nóng, các dòng bức xạ nhiệt chủ yếu do các tia hồng ngoại có  bước sóng đến 10μm, bức xạ  nhiệt phụ thuộc vào độ  dài bước sóng, cường độ  dòng  bức xạ, diện tích bề  mặt bị  chiếu, vùng bị  chiếu, gián đoạn hay liên tục, góc chiếu,   luồng bức xạ và quần áo. Các tia hồng ngoại trong vùng ánh sáng thấy được và các tia   hồng ngoại có bước sóng đến 1,5μm có khả  năng thấm sâu vào cơ  thể, ít bị  da hấp   thụ. Vì thế lúc vào làm việc dưới nắng có thể bị chứng say nắng do các tia hồng ngoại  có khả năng xuyên qua hộp sọ nung nóng màng não và các tổ chức. Những tia có bước  sóng khoảng 3 μm gây bỏng da mạnh nhất. Điều đó chứng tỏ  không những cần bảo   vệ khỏi ảnh hưởng của nhiệt độ cao mà cả nhiệt độ thấp. Ngoài ra, tia hồng ngoại còn gây các bệnh giảm thị lực, đục nhân mắt… Tia tử ngoại có 3 loại: Loại A có bước sóng từ 400­315 nm Loại B có bước sóng từ 315­280 nm Loại C có bước sóng nhỏ hơn 280 nm Tia tử ngoại A xuất hiện ở nhiệt độ cao hơn, thường có trong tia lửa hàn, đèn dây tóc,  đèn huỳnh quang, tia tử  ngoại B thường xuất hiện trong các đèn thủy ngân, lò hồ  quang…Tia tử ngoại gây các bệnh về mắt như giảm thị lực, bỏng da, ung thư da. 2.2.4. Các biện pháp phòng chống vi khí hậu xấu a/ Vi khí hậu nóng ­ Tổ chức sản xuất lao động hợp lý: Những tiêu chuẩn vệ  sinh đối với các điều kiện khí tượng nơi sản xuất, được thiết  lập theo tiêu chuẩn vệ sinh khi thiết kế xí nghiệp. Nhiệt độ tối ưu, nhiệt độ cho phép,   độ   ẩm tương đối, vận tốc gió  ở  ngoài trời nơi làm việc được tiêu chuẩn hóa phụ  thuộc vào thời gian trong năm (mùa nóng, mùa lạnh, mùa khô, mùa ẩm…) Lập thời gian biểu sản xuất sao cho những công đoạn sản xuất tỏa nhiều nhiệt không  cùng một lúc, mà rãi ra trong ca lao động. Lao động trong những điều kiện nhiệt độ  cao cần được nghỉ  ngơi thỏa đáng, để  cơ  thể người lao động lấy lại được cần bằng. ­ Quy hoạch nhà xưởng và các thiết bị: Sắp xếp các nhà phân xưởng nóng trên mặt bằng xí nghiệp phải sao cho sự thông gió  tốt nhất, nên xen kẻ các phân xưởng nóng với phân xưởng mát. Cần chú ý hướng gió trong năm khi bố  trí các phân xưởng nóng, tránh ánh nắng trời   chiếu vào phân xưởng qua các cửa. Xung quanh các phân xưởng nóng phải thoáng gió.  Có lúc cần bố trí các thiết bị nhiệt vào một khu vực xa nơi làm việc của công nhân. ­ Thông gió:
  19. Trong các phân xưởng tỏa nhiều nhiệt (như các thiết bị tỏa nhiều nhiệt, nhiều người   làm việc…) cần có các hệ thống thông gió (sẽ trình bày ở phần sau) ­ Làm nguội: Bằng cách phụn nước hạt mịn để  làm mát, làm  ẩm không khí, quần áo người lao  động, ngoài ra còn có tác dụng làm sạch bụi trong không khí. Để cách nhiệt, người ta  có thể dùng màn chắn bằng nước cách li nguồn nhiệt với xung quanh. Màn chắn nước  thường được bố  trí trước cửa lò. Màn nước dày 2mm có thể  hấp thụ  được 80­90%   năng lượng bức xạ. Nước để  phun phải dùng nước sạch (nước dùng để  ăn), độ  mịn  các hạt bụ nước khoảng 50­60 μm và đảm bảo sao cho độ ẩm nằm trong khoảng 13­ 14g/m3. Có nhiều thiết bị tỏa nhiệt cần phải dùng vòi tắm khí để giảm nhiệt, vận tốc   gió phụ thuộc nhiệt độ môi trường. Người ta quy định dòng không khí tắm thay đổi thay đổi theo nhiệt độ  không khí như  sau: Vận tốc gió (m/s)   Nhiệt độ không khí (0C) • 25­30 • 27­33 • >33 ­ Thiết bị và quá trình công nghệ: Trong các phân xưởng nhà máy nóng, độc cần được tự  động hóa và cơ  khí hóa, điều  khiển và quan sát từ xa để làm giảm nhẹ lao động và nguy hiểm cho công nhân. Đưa   những ứng dụng các thiết bị truyền hình vào điều khiển và quan sát từ xa. Có thể  giảm nhiệt trong nhà máy có thiết bị  tỏa nhiệt lớn bằng cách giảm sự  thất  thoát nhiệt vào môi trường. Để  đạt mục đích đó cần dùng các biện pháp cách nhiệt   cho các biện pháp tỏa nhiệt như: + Dùng các vật liệu cách nhiệt cao như sa mốt, sa mốt nhẹ, diatomit + Làm lớp cách nhiệt dày thêm nhưng không thể  quá mức vì làm tăng thêm trọng   lượng thiết bị. + Dùng các màn chắn nhiệt mà thực chất là gương phản xạ  nhiệt bên trong thiết bị  nhiệt, nhờ đó, phía ngoài thiết bị, nhiệt độ không cao lắm. Các cửa sổ thiết bị là nơi nhiệt thất thoát ra ngoài, cho nên diện tích cửa sổ phải là tối   thiểu, những lúc không cần thiết nên đóng kín. Trong trường hợp vỏ các thiết bị nhiệt do điều kiện kỹ thuật mà nhiệt độ vẫn còn cao   không những gây nóng cho môi trường mà còn làm hỏng thiết bị, thì cần phải làm  nguội vỏ thiết bị, có nhiều phương pháp làm nguội, nhưng phổ biến là dùng nước và  nước hóa hơi. Một trong các phương pháp bảo vệ  nữa là dùng màn chắn nhiệt khác với kiểu màn  phản xạ nhiệt trong thiết bị đã nói trên. Đây là màn chắn nhiệt ngoài thiết bị, nó không 
  20. những chắn bức xạ  nhiệt mà còn ngăn tia lửa và các vẩy théo bong ra khi nguội kim  loại lỏng, sắt thép….trong luyện kim. Màn chắn có hai loại: loại phản xạ và loại hấp   thụ, có loại cố định và loại di động. Màn chắn nhiệt thường được chế  tạo bằng sắt tráng kẽm, tôn trắng, nhôm, lá nhôm   mỏng…, có thể  một lớp và có thể  nhiều lớp,  ở  giữa hai lớp có nước lưu chuyển để  làm giảm nhiệt rất hiệu quả. ­ Phòng hộ cá nhân: Trước hết ta nói về quần áo bảo hộ, đó là loại quần áo đặc biệt chịu nhiệt, chống bị  bỏng khi có tia lửa băn vào như  than nóngđỏ, xỉ  lỏng, nước kim loại nóng chảy… nhưng lại phải thoáng khí để  cơ  thể  trao đổi nhiệt tốt với môi trường bên ngoài, áo  phải rộng thoải mái, bỏ  ngoài quần. Quần lại phải ngoài dày, vì thế  quần áo bảo hộ  trường hợp này phải chế  tạo từ  những loại vải đặc biệt, có thể  là vải bạt, sợi bông  hoặc da, nỉ, thậm chí có khí bằng sợi thủy tinh…Để bảo vệ đầu, cũng cần những loại   vải đặc biệt để  chống nóng và tránh bị  bỏng, bảo vệ  chân tay, bằng dày chịu nhiệt,  găng tay đặc biệt, bảo vệ  mắt bằng kính màu đặc biệt để  giảm tối đa bức xạ  nhiệt  cho mắt, không dùng găng tay nhựa dễ bị biến mềm, mắt kính có khi phủ một lớp kim  loại mỏng phản xạ tốt bức xạ. ­ Chế độ uống: Trong quá trình lao động  ở  điều kiện nóng bức, mồ  hôi ra nhiều, theo mồ  hôi là các  muối khoáng, vitamin. Để  giữ  cân bằng nước trong có thể  cần cho công nhân uống   nước có pha thêm các muối kali, natri, canxi, photpho và bổ  sung thêm các vitamin B,  C, đường, axit hữu cơ. Nên uống ít một. Theo kinh nghiệm của người Việt, chúng ta  có thể  có nhiều thức uống thảo mộc như  chè xanh, rau má, rau sam…có pha thêm   muối ăn có tác dụng giải khát khá tốt, trong đó nước rau muống trội hơn cả, ngoài  việc duy trì cân bằng nước trong cơ  thể  còn bồi bổ  cho cơ  thể, một lít nước rau má  thường chứa 1g ion kali và 30mg sinh tố C. b/ Các biện pháp phòng hộ chống vi khí hậu lạnh Ở nước ta, nhất là miền Bắc mùa đông lạnh cần phải để  phòng cảm lạnh do bị  mất   nhiều nhiệt, vì vạy đầu tiên là phải đủ quần áo ấm, quần áo nên xốp ấm và thoải mái.   Bảo vệ chân tay cần có ủng, giày ấm, găng tay ấm, phải chú ý giử khô. Nếu lao động   trong điều kiện vi khí hậu nóng cần chế độ ăn uống tốt thì trong điều kiện vi khí hậu  lạnh lại phải cần chú ý chế  độ  ăn đủ  calo chi cho lao động và chống rét. Khầu phần   ăn cần những chất giàu năng lượng như dầu mỡ (nên đạt 35­40%). 2.3. Tiếng ồn và rung động 2.3.1. Khái niệm về tiếng ồn và rung động a/ Tiếng ồn

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản