Đề tài tốt nghiệp cử nhân Điều dưỡng hệ VHVL: Chăm sóc, phục hồi chức năng giai đoạn sớm cho bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não

Chia sẻ: An Nhiên | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:47

0
78
lượt xem
27
download

Đề tài tốt nghiệp cử nhân Điều dưỡng hệ VHVL: Chăm sóc, phục hồi chức năng giai đoạn sớm cho bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung chính của đề tài này gồm: Mô tả các thương tật thứ cấp thường gặp ở người tai biến mạch máu não giai đoạn sớm; lập kế hoạch chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh liệt nửa người do tai biến mạch máu não đoạn sớm.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài tốt nghiệp cử nhân Điều dưỡng hệ VHVL: Chăm sóc, phục hồi chức năng giai đoạn sớm cho bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não

ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Tai biến mạch máu não (còn gọi là Đột quỵ não) đã, đang và sẽ vẫn là vấn đề<br /> thời sự cấp thiết của y học nói chung và phục hồi chức năng nói riêng đối với mọi<br /> quốc gia, mọi dân tộc trên thế giới. Tai biến mạch máu não có thể xảy ra đối với tất<br /> cả mọi người, không phân biệt nghề nghiệp, giới tính, địa phương, hoàn cảnh kinh<br /> tế, xã hội. Tai biến mạch máu não thường xảy ra với những người đang ở trong độ<br /> tuổi lao động và những người trên 50 tuổi, họ đã có nhiều cống hiến cho gia đình và<br /> cộng đồng, họ cần có sự chăm sóc toàn diện của gia đình và cộng đồng cả về y tế và<br /> xã hội. Tai biến mạch máu não là loại bệnh lý thường gặp, hàng năm ở Trung Quốc<br /> có khoảng 370 người, Nhật Bản có từ 340 đến 532 người, Việt Nam có từ 288 đến<br /> 416 người trong số 100.000 người dân bị tai biến mạch máu não.<br /> Tai biến mạch máu não là loại bệnh có thể gây tử vong nhanh, có tỷ lệ tử<br /> vong cao, đứng thứ ba sau ung thư và các bệnh Tim mạch. Nếu không tử vong, tai<br /> biến mạch máu não đồng thời cũng là loại bệnh để lại nhiều di chứng nặng nề dẫn<br /> đến tàn tật nhiều nhất. Trong TBMMN gây ra các thương tật thứ cấp còn khá cao,<br /> theo Nguyễn Mạnh Chiến tỷ lệ thương tật thứ cấp nói chung là 39,5%; trong đó loét<br /> do đè ép là 28,1%; nhiễm trùng phổi 13,2%; nhiễm trùng tiết niệu 11,0%; teo cơ<br /> 16,2%; co rút cơ 7,8% [9].<br /> Theo Tổ chức Y tế Thế giới và các nhà khoa học nước ngoài có từ 1/3 đến<br /> 2/3 người bệnh sống sót sau tai biến mạch máu não để lại di chứng tàn tật vĩnh viễn;<br /> 17% người bệnh có từ hai loại di chứng trở lên; 71% người bệnh giảm khả năng lao<br /> động; 66% người bệnh không thể trở lại làm việc được vì mất khả năng lao động;<br /> 62% người bệnh giảm các hoạt động xã hội; 51% người bệnh bị phụ thuộc về tự<br /> chăm sóc bản thân; 38% người bệnh giảm khả năng giao tiếp; 11% người bệnh không<br /> tự đi lại; 24% người bệnh phải ở lâu dài trong các cơ sở điều dưỡng hoặc bệnh viện.<br /> Việc phòng ngừa các thương tật thứ cấp như loét do đè ép, nhiễm trùng phổi,<br /> nhiễm trùng tiết niệu, co rút cơ, bán trật khớp vai … là rất quan trọng vì những tổn<br /> thương thứ phát này có khi còn nguy hiểm hơn bệnh, đầu tiên làm cho người bệnh<br /> <br /> 1<br /> <br /> không thể phục hồi lại được có khi tàn tật suốt đời. Do đó, đối với công tác điều<br /> dưỡng là vô cùng quan trọng, cần phải chăm sóc tốt, phục hồi chức năng (PHCN)<br /> ngay từ giai đoạn sớm để phòng ngừa, giảm tỷ lệ thương tật thứ cấp và giảm những<br /> di chứng nặng nề về sau. [9]<br /> Khả năng phục hồi của bệnh nhân TBMMN và các thương tật thứ cấp phụ<br /> thuộc vào việc chẩn đoán, điều trị, chăm sóc và PHCN. Vì vậy, chúng tôi viết<br /> chuyên đề này với mục tiêu:<br /> 1.<br /> <br /> Mô tả các thương tật thứ cấp thường gặp ở người bệnh TBMMN<br /> giai đoạn sớm.<br /> <br /> 2.<br /> <br /> Lập kế hoạch chăm sóc, PHCN cho người bệnh liệt nửa người do<br /> TBMMN giai đoạn sớm.<br /> <br /> 2<br /> <br /> CHƢƠNG 1<br /> TỔNG QUAN<br /> 1.1. Giải phẫu sinh lý tuần hoàn não<br /> 1.1.1. Giải phẫu mô tả<br /> Não được tưới máu bởi hai hệ thống động mạch: hệ thống mạch cảnh trong<br /> và hệ thống mạch sống – nền.<br /> <br /> 3<br /> <br /> - Hệ thống mạch cảnh trong:<br /> + Vùng phân bố máu: khoảng 2/3 trước bán cầu đại não.<br /> + Động mạch cảnh trong được tách ra từ động mạch cảnh chung tại máng<br /> cảnh, sau khi chui qua nền sọ đi vào trong não và được tách ra thành 4 nhánh tận:<br /> động mạch não trước, động mạch não giữa, động mạch mắt và động mạch mạc trước.<br /> Mỗi động mạch não chia làm 2 ngành: Loại ngành nông cung cấp máu cho<br /> vỏ não, ngành sâu đi vào trong não.<br /> Có 2 nhánh sâu quan trọng là: Động mạch Heubner (nhánh của động mạch<br /> não trước) và động mạch thể vân ngoài còn gọi là động mạch Charcot (nhánh của<br /> động mạch não giữa).<br /> + Các nhánh bên khác: Động mạch thần kinh sinh ba, tuyến yên, màng não<br /> và tai iữa …<br /> + Đặc điểm: Hệ thống nông và sâu độc lập nhau, các nhánh nông có nối<br /> thông với nhau, nhưng trong hệ thống sâu các nhánh có cấu trúc chức năng của các<br /> nhánh tận.<br /> - Hệ động mạch sống – nền<br /> + Vùng phân bố máu: Thân não, tiểu não, mặt dưới thùy thái dương và thùy chẩm.<br /> + Động mạch phân bổ máu cho thân não gồm 3 nhóm, chúng đi sâu vào thân<br /> não ở các vị trí khác nhau:<br /> Các động mạch trung tâm đi vào theo đường giữa.<br /> Các động mạch vòng ngắn đi vào theo đường bên trên.<br /> Những động mạch vòng dài đi bao quanh mặt bên của thân não và đi sâu<br /> theo đường sau bên.<br /> + Phân bổ máu cho tiểu não có 3 động mạch tiểu não trên, động mạch tiểu<br /> não trước dưới và động mạch tiểu não sau dưới.<br /> + Thùy chẩm và mặt dưới của thùy thái dương được phân bổ máu bởi động<br /> mạch não sau. Về giải phẫu chức năng, động mạch não sau là động mạch não tận.<br /> <br /> 4<br /> <br /> 1.1.2. Giải phẫu bệnh lý<br /> - Nhánh sâu dễ vỡ, vì là động mạch tận nên khi xảy ra các rối loạn về huyết<br /> áp thì phải chỗng đỡ một mình, hơn nữa giữa hai hệ thống tưới máu khác nhau ở nơi<br /> ranh giới của hai động mạch khi có chênh lệch huyết áp cũng dễ bị vỡ mạch.<br /> - Nhánh nông thường chống đỡ tốt hơn với tình trạng huyết áp quá cao vì hệ<br /> thống vi mạch lớn lên có thể san sẻ bớt đi. Nhưng vì nhánh nông vốn lớn nên dễ bị<br /> viêm và do đó dễ bị tắc hoặc nếu có cục máu đông ở đâu đến thì cũng dễ bị lấp<br /> mạch. Như vậy nhồi máu não chủ yếu do tắc nhánh nông.<br /> Đối với các nhánh của chất trắng tuy là động mạch tận vẫn có khả năng<br /> chỗng đỡ tương đối tốt với huyết áp quá cao. Tuy thế vẫn có thể vỡ được và trong<br /> trường hợp đó có thể sinh ra khối máu tụ trong não, thường liên quan đến một dị<br /> dạng mạch não như túi phình mạch hoặc u mạch.<br /> 1.1.3. Đặc điểm sinh lý tuần hoàn và chuyển hóa ở não<br /> - Lưu lượng tuần hoàn não<br /> + Theo Ingvar và cộng sự, lưu lượng tuần hoàn não trung bình ở người lớn<br /> là 49,8 ml/100g não/ phút (chất xám: 79,7 ml/100g não/ phút; chất trắng 20,5<br /> ml/100g não/ phút).<br /> Ở trẻ em lưu lượng tuần hoàn não ở khu vực lớn hơn ở người lớn. Từ lứa tuổi<br /> 60 trở đi, lưu lượng tuần hoàn não giảm xuống nhanh chóng.<br /> Tốc độ tuần hoàn qua não: Ở người lớn thời gian dòng máu qua não trung<br /> bình từ 6 – 10 giây.<br /> + Theo P.Kalvach (2002), lưu lượng tuần hoàn não là 60 ml/100g/ min. Thể<br /> tích máu não là 4 – 5 ml/ 100g. Thời gian chuyển máu trung bình là 3,2 – 3,5 giây.<br /> - Những yếu tố điều hòa lưu lượng tuần hoàn não:<br /> + Sự tự điều hòa của tuần hoàn não (hiệu ứng Bayllis): khi có sự thay đổi về<br /> huyết áp, mạch máu não tự co (khi tăng huyết áp) hoặc giãn (khi giảm huyết áp) để<br /> thay đổi sức cản duy trì lưu lượng máu tương đối ổn định qua não. Trong đó, huyết<br /> áp trung bình (bình thường 90 – 100 mmHg) có vai trò rất quan trọng. Cơ thể tự<br /> <br /> 5<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản