intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận án Tiến sĩ Khoa học giáo dục: Quản lý đào tạo Cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ dân tộc thiểu số tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay

Chia sẻ: Bánh Bèo Xinh Gái | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:188

10
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu đề tài là nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng, đề xuất những giải pháp quản lý đào tạo Cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ dân tộc thiểu số nhằm nâng cao NLHĐTT cho đội ngũ này tại Học viện CTQG Hồ Chí Minh.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận án Tiến sĩ Khoa học giáo dục: Quản lý đào tạo Cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ dân tộc thiểu số tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay

  1. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Quan điểm về cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã được các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập ngay từ những thập kỷ cuối thế kỷ XIX. Kế thừa những quan điểm đó, trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ, trong đó có cán bộ dân tộc thiểu số (DTTS). Ngày 02/01/1983, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Quyết định số 15/BBTTW về công tác trường đảng nêu rõ nhiệm vụ đào tạo cán bộ cho các Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc I, II, III: “Đào tạo những cán bộ theo các chức danh: bí thư, phó bí thư, chủ tịch ủy ban nhân dân, các trưởng ban của Đảng ở huyện, quận và thị xã, bí thư đảng ủy các xí nghiệp quốc doanh, các bệnh viện, trường học và các đảng bộ tương đương, ngoài diện trường đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc phụ trách. Thành lập hai hệ đặc biệt ở hai trường Nguyễn Ái Quốc I và Nguyễn Ái quốc III, chuyên trách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện thuộc dân tộc thiểu số. Ban Dân tộc Trung ương giúp đỡ các trường làm tròn nhiệm vụ này”[10] đã đánh dấu một bước ngoặc quan trọng thể hiện sự quan tâm của Đảng đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là cán bộ DTTS. Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh những thời cơ nhưng cũng tiềm ẩn không ít những nguy cơ, thách thức đã ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội và ổn định quốc phòng an ninh các địa phương vùng dân tộc miền núi. Vấn đề nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ DTTS nhằm phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội vùng dân tộc miền núi có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Điều này đồng nghĩa với việc cán bộ DTTS phải có trình độ học vấn cơ bản, hiện đại, am hiểu chuyên môn nghiệp vụ, đồng thời phải nắm vững tri thức lý luận và có kinh nghiệm thực tiễn trong lãnh đạo, quản lý và vấn đề trang bị trình độ lý luận chính trị (LLCT) trở thành một trong những yêu cầu cấp thiết để họ có thể nâng cao nhận thức
  2. 2 chính trị, khắc phục lối tư duy kinh nghiệm, biết kế thừa, chọn lọc và phát triển những cơ sở khoa học vào thực tiễn, từng bước đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào đời sống của nhân dân. Thực tế cho thấy, đội ngũ cán bộ DTTS còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu của người cán bộ lãnh đạo, quản lý trong tình hình mới. Một số lượng không nhỏ cán bộ DTTS chưa qua đào tạo, bồi dưỡng LLCT, phần lớn trong số họ, bên cạnh sự hạn chế về tư duy lý luận, còn hạn chế về năng lực hoạt động thực tiễn (NLHĐTT). Điều này đã được Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX ngày 12 tháng 3 năm 2003 chỉ rõ: “Nhìn chung đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở vùng dân tộc và miền núi còn thiếu về số lượng, yếu về năng lực tổ chức chỉ đạo thực hiện; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số chưa được quan tâm”[15]. Nhận định trên của Đảng cách đây đã hơn một thập niên, tuy nhiên cách nhìn nhận, đánh giá trên vẫn là mối quan tâm của các cấp, các ngành khi thực tế vẫn chưa có giải pháp tổ chức thực hiện một cách thấu đáo trong việc nâng cao năng lực cho cán bộ DTTS, trong đó có một phần trách nhiệm của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Học viện CTQG Hồ Chí Minh). Học viện CTQG Hồ Chí Minh là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà Nước và các đoàn thể chính trị, xã hội, trong đó có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho đội ngũ cán bộ DTTS. Nhiều thế hệ cán bộ đã được đào tạo và trang bị một cách hệ thống lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, giúp họ có thể vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vào điều kiện hoàn cảnh thực tế trong từng lĩnh vực công tác. Tuy nhiên, công tác quản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS vẫn còn nhiều bất cập về qui mô và chất lượng đào tạo: dự báo, kế hoạch đào tạo cán bộ chưa mang tầm chiến lược; nội dung chương trình chưa thật sự phù hợp với đối tượng về mặt bằng trình độ, nhận thức, yếu tố tâm lý, phong tục,
  3. 3 tập quán; đội ngũ giảng viên (GV) chưa được cập nhật thường xuyên về nội dung, phương pháp giảng dạy; cơ sở vật chất- kỹ thuật (CSVC-KT) còn thiếu đồng bộ; một bộ phận học viên (HV) chưa tìm ra phương pháp học tập và nghiên cứu tốt nhất. Nguyên nhân của những bất cập nói trên một phần do công tác quản lý đào tạo còn nhiều hạn chế: quản lý chương trình đào tạo chưa đi sâu vào đối tượng đào tạo là cán bộ DTTS; kế hoạch đào tạo còn bị động; đội ngũ GV có trình độ chuyên môn cao nhưng nghiệp vụ sư phạm chưa đáp ứng được yêu cầu; công tác quản lý HV còn xem nhẹ; sự phối hợp quản lý đào tạo giữa các cấp thẩm quyền chưa đồng bộ. Những nguyên nhân nói trên đã ảnh hưởng lớn đến chất lượng đào tạo cán bộ DTTS nhằm tăng cường NLHĐTT trong bối cảnh hiện nay. Xuất phát từ mục đích có tính cấp thiết đó, tôi chọn nghiên cứu đề tài: Quản lý đào tạo Cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ dân tộc thiểu số tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay. 2. Mục đích nghiên cứu của luận án Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng, đề xuất những giải pháp quản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS nhằm nâng cao NLHĐTT cho đội ngũ này tại Học viện CTQG Hồ Chí Minh. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án - Tổng quan vấn đề nghiên cứu về đào tạo và quản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS. - Hệ thống hóa và xây dựng lý luận về quản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS. - Khảo sát đánh giá thực trạng công tác quản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS ở Học viện CTQG Hồ Chí Minh - Đề xuất các giải pháp quản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS tại Học viện CTQG Hồ Chí Minh nhằm tăng cường NLHĐTT cho đội ngũ này trong bối cảnh hiện nay.
  4. 4 4. Khách thể, đối tượng nghiên cứu - Khách thể nghiên cứu: Công tác đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS tại Học viện CTQG Hồ Chí Minh - Đối tượng nghiên cứu: Quản lý công tác đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS tại Học viện CTQG Hồ Chí Minh 5. Giả thuyết khoa học Cán bộ DTTS có vai trò quan trọng trong các hoạt động lãnh đạo, quản lý ở địa phương vùng dân tộc miền núi. Họ phải được thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, đặc biệt là NLHĐTT để hoàn thành tốt vị trí công tác được giao. Đào tạo Cao cấp LLCT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm tăng cường NLHĐTT cho cán bộ DTTS. Trong những năm qua, mặc dù công tác quản lý đào tạo cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS đã đạt được nhiều thành tựu, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập, chưa thật sự đáp ứng yêu cầu về nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ DTTS góp phần giúp họ hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Nếu đề xuất được một hệ giải pháp quản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS nhằm tăng cường NLHĐTT và được thực hiện thống nhất theo một quá trình từ khâu phát triển chương trình đào tạo; kế hoạch hóa công tác HV; phát triển đội ngũ GV theo yêu cầu chuẩn hóa đội ngũ; hoàn thiện cơ sở vật chất và cải tiến cơ chế phối hợp quản lý, đồng thời hiện thực hóa các giải pháp này vào thực tiễn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo nhằm tăng cường NLHĐTT cho cán bộ DTTS trong bối cảnh hiện nay. 6. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Chủ yếu giới hạn ở các nội dung quản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS khu vực Miền Trung - Tây Nguyên - Về không gian: Nghiên cứu tổng quan về đào tạo LLCT cho cán bộ DTTS trong nước và quốc tế; nghiên cứu, đánh giá, khảo sát sâu công tác
  5. 5 quản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS tại Học viện Chính trị khu vực III, trực thuộc Học viện CTQG Hồ Chí Minh. - Về thời gian: Nghiên cứu công tác quản lý đào tạo chương trình Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS từ năm 2007 đến năm 2014. Phương hướng, giải pháp đến năm 2020. 7. Phương pháp nghiên cứu a. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận Luận án dựa trên cơ sở hệ thống các quan điểm khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp các tư liệu, đặc biệt là các văn kiện, văn bản, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các tài liệu và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có nội dung liên quan đến luận án được xuất bản hoặc công bố trên các tạp chí, sách, kỷ yếu hội thảo để xác định cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu. b.Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn Luận án vận dụng đồng bộ các phương pháp nghiên cứu khoa học liên ngành và chuyên ngành, trong đó chú trọng kết hợp các phương pháp: - Phương pháp tổng kết thực tiễn: Tổng hợp các số liệu về công tác quản lý đào tạo cán bộ DTTS qua quá trình nghiên cứu thu thập được từ các hồ sơ lưu, báo cáo tổng kết, đánh giá công tác quản lý đào tạo cán bộ DTTS làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp quản lý đào tạo cho đối tượng này. - Phương pháp điều tra: + Điều tra, khảo sát HV là cán bộ DTTS đã và đang học chương trình Cao cấp LLCT. + Điều tra, khảo sát đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, GV trực tiếp và gián tiếp tham gia quản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS. + Điều tra, khảo sát cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc Ban Tổ chức các tỉnh; cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cơ quan trực tiếp cử cán bộ đi học.
  6. 6 + Xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra theo nội dung nghiên cứu. Mục đích của phương pháp là thu thập số liệu để đánh giá thực trạng công tác quản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS làm cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý đào tạo phù hợp đối với đối tượng này tại Học viện CTQG Hồ Chí Minh. - Phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia: Lấy ý kiến đánh giá của các nhà khoa học, các nhà quản lý, nhà giáo có kinh nghiệm trong quản lý đào tạo và giảng dạy cán bộ DTTS. - Phương pháp khảo nghiệm và thực nghiệm tác động vào thực tiễn: nhằm phân tích, đánh giá rút ra những kết luận cần thiết, khẳng định tính khoa học và tính khả thi của các giải pháp quản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS một cách khách quan. - Phương pháp thống kê kinh tế - xã hội: Sử dụng phương pháp này mục đích để xử lý số liệu kết quả điều tra; phân tích vấn đề nghiên cứu; đánh giá độ tin cậy của số liệu điều tra. 8. Những luận điểm bảo vệ - Cán bộ DTTS là nguồn lực quan trọng tham gia lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan, tổ chức chính quyền các cấp; là lực lượng góp phần quyết định sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội và ổn định an ninh quốc phòng vùng dân tộc miền núi trong bối cảnh hiện nay. - Đào tạo một cách hệ thống nhằm tăng cường NLHĐTT cho đội ngũ cán bộ DTTS là nhiệm vụ chính trị mang tầm chiến lược của Đảng và Nhà nước, trong đó có vai trò trách nhiệm của hệ thống Học viện chính trị. - Để cán bộ DTTS đảm đương được nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước giao phó trong giai đoạn hiện nay, cần phải đặc biệt chú trọng công tác quản lý đào tạo Cao cấp LLCT nhằm tăng cường NLHĐTT cho cán bộ DTTS. - Quản lý quá trình đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS nhằm nâng cao NLHĐTT phải được quán triệt chặt chẽ, đồng bộ từ khâu phát triển chương trình đào tạo, kế hoạch hóa công tác HV, phát triển đội ngũ GV theo yêu
  7. 7 cầu chuẩn hóa đội ngũ, hoàn thiện cơ sở vật chất và xây dựng cơ chế phối hợp quản lý một cách hệ thống. 9. Những đóng góp mới của luận án - Luận án làm rõ thêm nội hàm của một số khái niệm: năng lực, NLHĐTT, cán bộ DTTS, cao cấp LLCT. - Luận án chỉ ra yêu cầu khách quan về đổi mới công tác quản lý đào tạo nhằm tăng cường NLHĐTT cho cán bộ DTTS. - Xác định các nội dung quản lý đào tạo Cao cấp LLCT nhằm tăng cường NLHĐTT cho cán bộ DTTS. - Thông qua phương pháp nghiên cứu thực tiễn, luận án đánh giá thực trạng công tác quản lý đào tạo Cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS, xác định những yếu kém, hạn chế và nguyên nhân của công tác này trong bối cảnh hiện nay. - Căn cứ vào cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp quản lý đào tạo Cao cấp LLCT nhằm tăng cường NLHĐTT cho cán bộ DTTS. 10. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án kết cấu làm 3 chương. Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo Cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ dân tộc thiểu số tại các Học viện chính trị và kinh nghiệm quốc tế Chương 2: Thực trạng quản lý đào tạo Cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ dân tộc thiểu số tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý đào tạo Cao cấp lý luận chính trị cho cán bộ dân tộc thiểu số tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay.
  8. 8 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CÁC HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 1.1. Tổng quan về nghiên cứu vấn đề Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là vấn đề được hầu hết các nước trên thế giới đặc biệt quan tâm. Đối với Việt Nam, công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng đặc biệt quan tâm và khẳng định “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”[54, tr.309] và “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”[54, tr.309]. Quan điểm của Người là những định hướng quan trọng góp phần thực hiện thành công nhiệm vụ xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ qua các thời kỳ cách mạng. Tác giả Đức Vượng đã tổng hợp khá rõ nét các quan điểm của Người về công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ qua các công trình “Hồ Chí Minh đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài”, “Hồ Chí Minh về vấn đề đào tạo cán bộ”. Theo Bác, trước tiên vai trò quan trọng của công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ đó chính là mục tiêu và phương châm đào tạo cán bộ lý luận phải dám nghĩ, dám làm: “Học lý luận không phải để nói mép, nhưng biết lý luận mà không thực hành là lý luận suông. Học là để áp dụng vào việc làm. Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp. Có lý luận thì mới hiểu được mọi việc trong xã hội, trong phong trào để chủ trương cho đúng, làm cho đúng”[55, tr.357]. Cán bộ được huấn luyện sau khi học “họ có thể tự mình tìm ra phương hướng chính trị, có thể làm những công việc thực tế, có thể trở nên người tổ chức và lãnh đạo” [82, tr.55]. Kế hoạch mở lớp phải hợp lý, phân cấp đào tạo phải phù hợp “mở lớp nào cho ra lớp ấy; lựa chọn người dạy và người học cho cẩn thận; đừng mở lớp lung tung” [55, tr.363]. Người huấn luyện phải thực sự có chuyên môn sâu, có tinh thần phấn đấu không ngừng trong học tập để phục vụ sự nghiệp
  9. 9 giáo dục “người huấn luyện của Đoàn thể phải làm kiểu mẫu về mọi mặt: tư tưởng, đạo đức, lề lối làm việc” [56 tr.356] và “phải học thêm mãi thì mới làm được công việc huấn luyện của mình... người huấn luyện nào tự cho là mình biết đủ cả rồi, thì người đó dốt nhất”[55, tr.356]. Đối tượng huấn luyện trước hết phải là cán bộ, nhất là cán bộ có chức, có quyền, cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng, của Nhà nước và các tổ chức đoàn thể ở địa phương. Nội dung huấn luyện bao hàm trên tất cả các mặt về lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và rèn luyện tư cách phẩm chất đạo đức, chú trọng đến huấn luyện lý luận chính trị về thế giới quan, nhân sinh quan đúng đắn mà tiêu biểu đó là chủ nghĩa Mác - Lênin; nội dung chương trình đào tạo phải thiết thực, ngắn ngọn, phù hợp với nhận thức của cán bộ DTTS; phương pháp đào tạo luôn luôn chú ý đến lý luận liên hệ với thực tiễn “thực tiễn mà không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”[57, tr.73]. Đối với cán bộ DTTS, phương pháp đào tạo phải đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, không rập khuôn, máy móc, các dân tộc khác nhau, phương pháp đào tạo cũng khác nhau “một tỉnh có đồng bào Thái, đồng bào Mèo thì tuyên truyền, huấn luyện đối với đồng bào Thái khác, đồng bào Mèo khác”[57, tr.303]. Những quan điểm trên của Bác đã trở thành những bài học vô cùng giá trị, làm nền tảng tư tưởng giúp Đảng và Nhà nước ta trên con đường xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của đất nước. Trong những năm qua, nhiều công trình nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ DTTS đã được các nhà nghiên cứu đề cập một cách sâu sắc, có thể tiếp cận vấn đề này dưới các góc độ khác nhau như: + Nghiên cứu về quản lý đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cán bộ dân tộc thiểu số: Đây là mảng nghiên cứu thu hút nhiều nhà khoa học tham gia nhấn mạnh đến vị trí, vai trò của cán bộ DTTS đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội vùng dân tộc miền núi. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đã tác
  10. 10 động không nhỏ đến phát triển nguồn nhân lực cán bộ DTTS, một số các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Cuốn sách“Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước - Luận cứ và giải pháp” [69] của các tác giả Lê Phương Thảo, Nguyễn Cúc, Doãn Hùng đã khẳng định quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc và chính sách dân tộc, đặc biệt đối với cán bộ DTTS qua từng giai đoạn lịch sử. Đó là những nội dung cơ bản làm luận cứ khoa học cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Công trình đánh giá sâu sắc thực trạng đội ngũ cán bộ DTTS theo các đối tượng khác nhau; phân tích và luận giải vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ DTTS trong giai đoạn hiện nay phải gắn với thực tiễn lịch sử cách mạng của đất nước, đặc biệt là gắn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của vùng, miền, địa phương khu vực miền núi. Các giải pháp cơ bản chú trọng các khâu tạo nguồn, qui hoạch, đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ; phát huy vai trò của hệ thống các Trường chính trị trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; qui hoạch phát triển và hoàn thiện hệ thống chính trị ở miền núi, vùng dân tộc và đổi mới chính sách giáo dục - đào tạo đối với cán bộ DTTS trong giai đoạn hiện nay. Cuốn sách “Một số vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện người các dân tộc Tây Nguyên” [59] do Lê Hữu Nghĩa chủ biên. Công trình nghiên cứu sâu về xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ DTTS khu vực Tây Nguyên trên cơ sở phân tích thực trạng, rút ra một số kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp, trong đó có đề cập đến giải pháp tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ như: cụ thể hóa mục tiêu đào tạo phù hợp với yêu cầu của đối tượng và thực tiễn tình hình ở Tây Nguyên; đổi mới nội dung, phương thức đào tạo đảm bảo tính hệ thống, cơ bản, hiện đại và thiết thực giữa tri thức lý luận và tri thức kinh nghiệm, giữa lý luận và thực hành;
  11. 11 tăng cường các điều kiện đảm bảo cho quá trình đào tạo; hoàn thiện cơ chế phối hợp và thực hiện chế độ chính sách ưu tiên đối với cán bộ DTTS. Cuốn sách “Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay”[68] của tác giả Lô Quốc Toản đã phản ánh những thành tựu của phát triển nguồn cán bộ DTTS thông qua việc khôi phục và phát triển các trường dân tộc phổ thông nội trú, thực hiện chế độ cử tuyển học sinh DTTS vào các trường đại học, cao đẳng, trung cấp. Thực trạng công tác phát triển nguồn cán bộ này còn gặp nhiều khó khăn, bất cập về nhận thức, cơ chế, chính sách cũng như đầu tư cho công tác đào tạo nhằm nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ DTTS. Giải pháp tác giả đề ra là: tiếp tục củng cố và hoàn thiện hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú; nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng tuyển sinh, chất lượng đào tạo dự bị đại học, hệ cử tuyển của các trường đại học, cao đẳng ở miền núi phía Bắc; quản lý chặt chẽ nguồn cán bộ DTTS từ cơ sở và làm tốt công tác qui hoạch đội ngũ này ở tất cả các cấp, các ngành, lĩnh vực, kết hợp với phát hiện, bồi dưỡng nhân tài; thực hiện phân cấp phối hợp giữa các cấp, các ngành để phát triển đội ngũ cán bộ DTTS; xây dựng cơ chế chính sách, pháp luật, đầu tư tài chính nhằm từng bước xây dựng và hoàn thiện đội ngũ cán bộ DTTS ở các cấp, các ngành đủ phẩm chất, năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta. Một số công trình nghiên cứu khác: “Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số cho sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” [70] của Nguyễn Đăng Thành; “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên hiện nay”[29] của Vũ Đình Hòe - Đoàn Minh Huấn nghiên cứu sâu nguồn nhân lực DTTS ở nước ta trên cơ sở phân tích khái niệm, lý thuyết về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực; những bài học kinh nghiệm của nước ngoài về chính sách đối với người bản địa và DTTS; quá trình vận dụng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực DTTS từ khi thực hiện
  12. 12 đường lối đổi mới đến nay; đề xuất các kiến nghị, giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cán bộ DTTS ở những địa bàn miền núi đông đồng bào dân tộc sinh sống, đặc biệt ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. + Nghiên cứu về quản lý đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ DTTS: Đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ nói chung và cán bộ DTTS nói riêng là nhiệm vụ mang tính bắt buộc để chuẩn hóa đội ngũ và nâng cao năng lực trình độ cán bộ. Đề cập đến vấn đề này có các công trình tiêu biểu như: Luận án “Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, hành chính cho đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã các tỉnh Tây Bắc giai đoạn hiện nay”[50] của Cầm Thị Lai, nghiên cứu sâu về vấn đề đào tạo cán bộ chuyên trách cấp xã ở Tây Bắc (hầu hết là cán bộ DTTS) trên cơ sở đánh giá trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực công tác của đội ngũ này; nguyên nhân dẫn đến những bất cập của công tác lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp cơ sở các tỉnh Tây Bắc. Tác giả đã đề xuất một số giải pháp cơ bản như: đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp cho phù hợp với đối tượng và điều kiện thực tiễn theo vùng, miền; gắn công tác đào tạo với công tác qui hoạch cán bộ của địa phương; tăng cường bồi dưỡng kiến thức cho GV nhằm phục vụ tốt cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ DTTS. Công trình có giá trị tham khảo nhất định trong vấn đề xác định yêu cầu và vai trò của công tác đào tạo LLCT đối với cán bộ nói chung và cán bộ DTTS ở từng khu vực miền núi nói riêng. Tổng quan đề tài cấp Bộ “Những căn cứ lý luận và thực tiễn xác định nội dung, chương trình đào tạo cán bộ chủ chốt cơ sở miền núi đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn hiện nay”[79] của Trần Ngọc Uẩn nhấn mạnh việc xây dựng nội dung, chương trình đào tạo cho cán bộ chủ chốt cơ sở miền núi phải phù hợp với đối tượng đào tạo và sát với thực tiễn miền núi. Bổ sung nghiên cứu trên, tác giả có công trình “Phương thức đào tạo cán bộ ở các trường chính trị tỉnh, thành phố trong thời kỳ mới”[80] nghiên cứu sâu về vị trí, vai trò, đối tượng đào tạo và chương trình đào tạo cán bộ cơ sở hiện nay
  13. 13 theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII), trong đó nổi bật là công tác tổ chức đào tạo thí điểm ở một số Trường chính trị đối với “chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo cơ sở miền núi”, “chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở Tây Nguyên”. Từ những hạn chế về chương trình đào tạo; đội ngũ GV; cơ sở vật chất - kỹ thuật; chế độ chính sách, tác giả đề xuất các giải pháp: thực hiện “đào tạo cơ bản”, “bồi dưỡng theo chức danh” cho cán bộ cơ sở; rà soát hệ thống chương trình đào tạo tiến tới xây dựng và ban hành hệ thống chương trình đào tạo thống nhất; điều chỉnh hình thức đào tạo và đổi mới phương pháp giảng dạy; tăng cường công tác quản lý dạy và học; bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ GV; tăng cường đầu tư nhân lực, vật lực phục vụ cho công tác đào tạo. Cuốn sách “Một số vấn đề về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo chính trị ở miền Trung và Tây Nguyên”[63] của tập thể đội ngũ giảng viên Phân viện Đà Nẵng, đề cập đến thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý nội dung, chương trình, phương thức đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các tỉnh khu vực miền Trung - Tây Nguyên, đặc biệt là đào tạo cán bộ cấp huyện người DTTS. Đề tài cấp Bộ “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện người dân tộc thiểu số Tây Nguyên” [52] của tác giả Nguyễn Văn Lý, từ bản chất của tư duy lý luận và tính tất yếu cần phải nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện người DTTS ở Tây Nguyên, tác giả nhấn mạnh tư duy lý luận sẽ là cơ sở giúp cho cán bộ DTTS nhận thức và vận dụng một cách sâu sắc bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và sẽ tăng cường NLHĐTT cho đội ngũ này ở địa phương. Công trình góp phần khẳng định tầm quan trọng của công tác đào tạo LLCT cho cán bộ DTTS và giành một phần nhấn mạnh đến vai trò của Học viện chính trị là phải quan tâm
  14. 14 đến công tác đào tạo, bồi dưỡng đối tượng này nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận trong giai đoạn hiện nay. + Nghiên cứu về quản lý đào tạo trong hệ thống Học viện chính trị: Xét theo nghĩa rộng, đối tượng đào tạo ở các Học viện chính trị là cán bộ lãnh đạo, quản lý đang công tác trong các tổ chức bộ máy chính quyền các cấp, trong đó bao gồm cả cán bộ DTTS. Nghiên cứu về quản lý đào tạo cán bộ ở các cơ sở đào tạo nói trên có công trình: Luận án “Quản lý hoạt động đào tạo cán bộ lãnh đạo ở Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay”[81] của Nguyễn Thị Hồng Vân đã đề cập và phân tích khá sâu sắc về quản lý hoạt động đào tạo ở Học viện CTQG Hồ Chí Minh, một cơ sở đào tạo mang tính đặc thù trong hệ thống chính trị. Từ việc nghiên cứu lý luận và thực trạng hoạt động đào tạo tác giả đưa ra định hướng và quan điểm đổi mới quản lý hoạt động đào tạo ở Học viện trong bối cảnh hiện nay, tuy nhiên xét tổng thể về mối quan hệ đào tạo cũng như chức năng, nhiệm vụ của Học viện, tác giả chưa đề cập đến đối tượng đào tạo là cán bộ DTTS, những bất cập trong quản lý đào tạo đối tượng này đang là vấn đề cần được quan tâm đối với các cơ sở đào tạo trong hệ thống Học viện chính trị. Đề tài cấp Bộ “Nâng cao chất lượng, hiệu quả các mặt công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh ( 2010- 2020)”[74] của Tạ Ngọc Tấn đã tập trung làm rõ cơ sở phương pháp luận về các vấn đề liên quan đến việc đánh giá và đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị trong xu thế đổi mới của đất nước; đề xuất hệ thống các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý theo phân cấp đào tạo. Ngoài ra, còn các công trình nghiên cứu về chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo cán bộ ở hệ thống Học viện như: “Qui mô và hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Học viện”[76] của Phí Ngọc Tiếp; "Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
  15. 15 Minh - Thực trạng và giải pháp phát triển”[53] do Hà Lan làm chủ nhiệm (2004-2006); “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh- vấn đề và kinh nghiệm”[48] của Vũ Nhật Khải; “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”[67] của Nguyễn Phú Trọng - Trần Xuân Sầm; “Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống trường chính trị, trường đoàn thể ở Trung ương hiện nay”[77] của Phạm Quang Thọ, tuy nhiên, các công trình trên chủ yếu đề cập đến việc nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ nói chung trong hệ thống Học viện chưa đề cập sâu chất lượng đào tạo cán bộ DTTS, một đối tượng đang được sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước và các chính quyền địa phương vùng miền núi. Trong xu thế phát triển, nhiều nước trên thế giới ngày càng nhận thức được rằng, con người là nhân tố quyết định đến sự phát triển bền vững của đất nước, nếu quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng con người đúng hướng sẽ tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao hiệu xuất công tác và quản lý nhà nước, đồng thời đảm bảo cho việc khai phá năng lực trong tình hình thế giới ngày càng đi vào cạnh tranh gay gắt. Qua nghiên cứu cho thấy, vấn đề quản lý đào tạo cán bộ, công chức phục vụ cho công tác quản lý điều hành bộ máy chính quyền đã được các nước đặc biệt quan tâm. Từng nước có chiến lược quản lý và phát triển nâng cao năng lực con người theo những phương thức khác nhau. Trung Quốc là một nước đang phát triển, mục tiêu đào tạo cán bộ của Trung Quốc trong thế kỷ XXI là xây dựng đội ngũ cán bộ không chỉ có tố chất cao, có tri thức, am hiểu thực tiễn, có chuyên môn sâu, mà còn trung thành với chủ nghĩa Mác, kiên trì con đường XHCN mang màu sắc Trung Quốc, biết quản lý Đảng, quản lý Nhà nước, quản lý quân đội. Chính vì lẽ đó, hầu hết cán bộ, công chức được đào tạo cơ bản, đặc biệt phải qua các khóa đào tạo, bồi dưỡng LLCT trong hệ thống các trường Đảng. Chương trình đào tạo cán bộ của Trung Quốc tập trung cải cách trên bốn
  16. 16 mặt: tăng cường cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác; mở rộng “tầm nhìn thế giới”; bồi dưỡng “tư duy chiến lược” và tăng cường tu dưỡng tính Đảng. Nhật Bản, Singapo là một trong số các nước đặc biệt quan tâm đầu tư công tác đào tạo cán bộ, công chức nhà nước. Việc tuyển chọn, bố trí, sử dụng và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được tiến hành rất chặt chẽ theo từng vị trí và lĩnh vực công tác khác nhau. Các khóa đào tạo cán bộ, công chức trung bình từ 3 - 4 tháng. Chương trình được cải tiến và cập nhật kiến thức liên tục theo yêu cầu của từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và tiếp cận những kinh nghiệm của thế giới; chú trọng nâng cao năng lực tư duy sáng tạo và tầm nhìn chiến lược trong xu thế phát triển của thế giới, tăng cường các kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho công chức nhà nước. Đối với các chương trình dành cho quan chức cấp cao của Nhà nước, chú trọng tăng cường năng lực tổ chức thực hiện, năng lực huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm thúc đẩy sự phát triển của đất nước... Nhìn chung, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung và cán bộ DTTS được nhiều công trình tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, quản lý đào tạo cao cấp LLCT cho cán bộ DTTS ở Học viện CTQG Hồ Chí Minh chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, những tiếp cận nghiên cứu trên sẽ giúp chúng tôi kế thừa có chọn lọc nhằm từng bước hoàn thiện đề tài nghiên cứu góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo cán bộ DTTS ở Học viện CTQG Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay. 1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.2.1. Quản lý Quản lý là tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển các hoạt động xã hội và hành vi của con người nhằm đạt được mục đích của người quản lý và phù hợp với qui luật khách quan. C.Mác coi quản lý là một đặc điểm vốn có và bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội “tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên một qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân
  17. 17 và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[8,tr. 480]. Harold Koontz, tác giả người Mỹ cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được cả mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất ” [33, tr.29]. F.W.Taylor là nhà thực hành về quản lý lao động và nghiên cứu các thao tác đưa ra định nghĩa: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [75, tr.1]. Một số tác giả trong nước đã đưa ra những định nghĩa khác về quản lý: theo tác giả Phan Văn Kha “quản lý là một tập hợp các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các quá trình tự nhiên, xã hội, khoa học, kỹ thuật và công nghệ để chúng phát triển hợp qui luật, các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng) vật chất và tinh thần, hệ thống tổ chức và các thành viên thuộc hệ thống, các hoạt động để đạt được mục đích đã định”[46, tr.10]; “Quản lý là tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức” [6, tr.9]; hay “quản lý được coi là sự kết hợp của quản và lý. Quản là cai trị, coi sóc, trông nom hệ thống nào đó, đưa hệ thống đó và thế ổn định, có trật tự; lý là sắp xếp, tổ chức để làm cho hệ thống đó đi đến sự phát triển. Như vậy, quản lý là sự tích hợp của hai mặt: lý và quản đưa nó vào một thế ổn định và phát triển”[5, tr.64]. Có thể thấy, tùy theo cách tiếp cận khác nhau các tác giả có thể đưa ra những khái niệm về quản lý khác nhau, nhưng bản chất của hoạt động quản lý đều là sự tác động hợp qui luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm
  18. 18 đạt được mục tiêu đã định. Như vậy, quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên các đối tượng quản lý thông qua việc lập kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức và kiểm tra các hoạt động của hệ thống, tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã định. 1.2.2. Đào tạo Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, đào tạo có nghĩa là “dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp”[27, tr.593]. Theo Từ điển Giáo dục học, đào tạo là “quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước”[71, tr.76]. Đào tạo còn được hiểu đó là quá trình tác động đến con người làm cho người đó nắm vững tri thức, kỹ năng, thái độ một cách hệ thống, có khả năng thực hiện có hiệu quả những hoạt động nghề nghiệp nhất định. Khái niệm đào tạo có những điểm khác biệt so với khái niệm giáo dục, giáo dục mang một ý nghĩa chung, phản ánh quá trình truyền thụ, lĩnh hội tri thức của loài người, qua đó làm biến đổi nhân cách; còn đào tạo là hoạt động được qui định về phạm vi, cấp độ, cấu trúc, qui trình một cách chặt chẽ với những hạn định cụ thể về mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo và có hệ thống cho mỗi khoá học với những thời gian, trình độ và tính chất cụ thể. Quá trình này được tiến hành ở các cơ sở giáo dục đào tạo khác nhau, tuỳ từng cấp học, thời gian học và nội dung đào tạo của mỗi khoá học, người học sẽ được cấp bằng tốt nghiệp tương ứng với trình độ, chương trình đã đào tạo nếu đạt được những yêu cầu của khóa học, về tính chất, đào tạo là một thuộc tính cơ bản của quá trình giáo dục. Ngày nay, đào tạo không còn là quá trình chuyển giao một chiều mà bằng những phương tiện dạy - học hiện đại. Các cơ sở đào tạo tiến hành đổi mới phương pháp giảng dạy giúp người học chủ động tích cực, tự chiếm lĩnh và trang bị tri thức cho bản thân, đó là quá trình đào tạo được chuyển biến thành quá trình tự đào tạo của người học. Chất lượng đào tạo sẽ đạt được hiệu
  19. 19 quả tốt nhất nếu quá trình đào tạo chuyển biến theo phương thức này, người học sẽ được truyền đạt những kinh nghiệm, được mở rộng tầm hiểu biết và được bù đắp những thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng, thái độ để không chỉ làm tốt công việc được giao mà còn đương đầu với những thay đổi, thách thức của môi trường xung quang có ảnh hưởng đến cá nhân, tổ chức. Như vậy, đào tạo được xác định là quá trình làm biến đổi hành vi con người thông qua quá trình truyền đạt và tiếp nhận tri thức một cách có hệ thống với sự hỗ trợ của các phương tiện cần thiết hay nói cách khác đào tạo là quá trình hoạt động thống nhất hữu cơ của hai mặt dạy và học. Thông qua đào tạo, mỗi người sẽ được trang bị những kiến thức nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng cần thiết để họ có thể đảm nhận được công việc và hoàn thành một cách tốt nhất theo yêu cầu của tổ chức hoặc nhu cầu của cá nhân. 1.2.3. Quản lý đào tạo Trong nhà trường, đào tạo là hoạt động quan trọng thể hiện bản chất, chức năng, nhiệm vụ theo yêu cầu của xã hội. Nếu bản chất của đào tạo là hoạt động thống nhất hữu cơ của hai mặt dạy và học như đã phân tích ở trên thì quản lý đào tạo là quá trình tác động của chủ thể quản lý thực hiện đối với tất cả các nhân tố, các hoạt động và quá trình diễn ra trong phạm vi của nhà trường, mục đích cuối cùng là nhằm mang lại hiệu quả mà hoạt động đào tạo hướng đến. Đối tượng quản lý trong nhà trường bao gồm: lực lượng tham gia đào tạo (cán bộ quản lý, giảng viên, học viên, cán bộ phục vụ); các hoạt động đào tạo; các nguồn lực khác tham gia công tác đào tạo. Tuy nhiên, đối với những cơ sở đào tạo khác nhau, các yếu tố của quá trình đào tạo có đối tượng quản lý khác nhau tùy thuộc vào từng lĩnh vực cụ thể của quá trình đào tạo và tất cả các đối tượng quản lý đều được quản lý theo bốn chức năng cơ bản: xây dựng kế hoạch; thiết kế và xây dựng tổ chức thực hiện kế hoạch; chỉ đạo; kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện và kết quả thực hiện kế hoạch [46,tr.15]. Với khái niệm quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra, cùng với việc
  20. 20 xác định rõ đối tượng quản lý, các thành tố liên quan vận dụng vào lĩnh vực đào tạo, có thể hiểu: Quản lý đào tạo là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra. 1.2.4. Cao cấp lý luận chính trị Lý luận chính trị là một khái niệm mang nghĩa rộng, theo từ điển Giáo dục học, lý luận là “hình thức cao nhất của tư duy khoa học, là hệ thống các khái niệm, các phạm trù, các qui luật phản ánh những thuộc tính cơ bản, những mối liên hệ của các sự vật trong thực tiễn. Lý luận là yếu tố cấu trúc cơ bản của khoa học, nó liên kết những sự việc, những vấn đề, những giả định, những phương pháp nhận thức v.v…thành một thể thống nhất”[71, tr. 236]. Theo Chủ Tịch Hồ Chí Minh, “lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính”[54, tr.237]. Xét về bản chất lý luận có thể hiểu đó là hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn phản ánh những mối quan hệ bản chất, tất nhiên mang tính qui luật của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan và được biểu đạt bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, qui luật. Chính trị là một lĩnh vực đặc biệt, phức tạp, liên quan đến lợi ích trực tiếp của các giai cấp và các lực lượng trong xã hội nên có nhiều cách tiếp cận khác nhau: Theo Từ điển Bách khoa thư Hà Nội, chính trị theo nghĩa chung nhất đó là “tất cả các hoạt động, những vấn đề gắn với quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và các tập đoàn xã hội xoay quanh một vấn đề trọng tâm, là giành, giữ và sử dụng chính quyền Nhà nước”[73, tr.17]. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, chính trị được hiểu là “những vấn đề về điều hành bộ máy nhà nước hoặc những hoạt động của giai cấp, chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền điều hành nhà nước”[27, tr.369].
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2