intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam: Màu sắc văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy

Chia sẻ: Minh Lộ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:99

9
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài sẽ khẳng định thêm giá trị của nhà văn này trên văn đàn văn học, đồng thời cũng muốn chỉ ra xu thế chung của văn học sau Đổi mới là tìm về bản sắc văn hóa, là cảm hứng trước những biến động thời đại đang làm mai một các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam: Màu sắc văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy

  1. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM PHẠM NGỌC HÀ MÀU SẮC VĂN HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM THÁI NGUYÊN - 2015 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
  2. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM PHẠM NGỌC HÀ MÀU SẮC VĂN HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 60 22 01 21 VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. MAI THỊ NHUNG THÁI NGUYÊN - 2015 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
  3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài luận văn khoa học "Màu sắc văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy" là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác. Tác giả luận văn Phạm Ngọc Hà Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN i http://www.lrc-tnu.edu.vn/
  4. LỜI CẢM ƠN Trong thời gian học tập khóa học Thạc sĩ Văn học Việt Nam tại trường ĐHSP Thái Nguyên, tôi luôn nhận được sự quan tâm, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo. Hoàn thành luận văn thạc sĩ khóa học này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo đã tận tâm giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu. Đặc biệt xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS. Mai Thị Nhung người đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương, nghiên cứu và hoàn thành luận văn. Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các đồng chí lãnh đạo, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc trao đổi, chuẩn bị tư liệu, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này. Thái Nguyên, ngày 08 tháng 11 năm 2015 Tác giả Phạm Ngọc Hà Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ii http://www.lrc-tnu.edu.vn/
  5. MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................... i LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... ii MỤC LỤC............................................................................................................iii MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1 1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................. 1 2. Lịch sử vấn đề .................................................................................................. 2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................... 6 4. Nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp mới của luận văn ..................................... 6 5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 7 6. Kết cấu của luận văn ........................................................................................ 7 NỘI DUNG .......................................................................................................... 8 Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA VÀ SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN ĐỖ BÍCH THÚY ...................................................................... 8 1.1. Khái niệm văn hóa và màu sắc văn hóa ....................................................... 8 1.2. Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học ........................................................ 11 1.2.1. Văn học truyền tải và lưu giữ văn hóa .................................................... 12 1.2.2. Văn học điều chỉnh văn hóa .................................................................... 15 1.2.3. Văn học dự báo văn hóa .......................................................................... 16 1.3. Một số lý thuyết nghiên cứu văn hóa ........................................................ 17 1.3.1. Duy vật luận (Materialism) ..................................................................... 17 1.3.2. Đặc thù văn hoá luận (Cultural Particularism) ........................................ 17 1.3.3. Chức năng luận (Functionalism) ............................................................. 18 1.3.4. Cấu trúc luận (Structuralism) .................................................................. 18 1.3.5. Tương đối văn hoá luận (Cultural relativism) ......................................... 19 1.4. Vài nét về nhà văn Đỗ Bích Thúy và các phương diện văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy ........................................................................ 20 1.4.1. Vài nét về nhà văn Đỗ Bích Thúy ........................................................... 20 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN iii http://www.lrc-tnu.edu.vn/
  6. 1.4.2. Khái lược về màu sắc văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy ........... 22 Chƣơng 2: DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY...... 27 2.1. Văn hóa gia đình ......................................................................................... 27 2.2. Văn hóa sinh hoạt cộng đồng ..................................................................... 40 2.3. Văn hóa nghệ thuật truyền thống................................................................ 47 2.4. Biểu tượng văn hóa ..................................................................................... 53 Tiểu kết .............................................................................................................. 61 Chƣơng 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN MÀU SẮC VĂN HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY ................................................................... 62 3.1. Nghệ thuật mô tả không gian...................................................................... 62 3.2. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ.................................................................... 69 3.3. Nghệ thuật mô tả tâm lí nhân vật................................................................ 76 3.4. Chi tiết nghệ thuật....................................................................................... 82 Tiểu kết .............................................................................................................. 86 KẾT LUẬN ........................................................................................................ 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 90 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN iv http://www.lrc-tnu.edu.vn/
  7. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Đỗ Bích Thúy là một trong những cây bút tiểu biểu của nền văn học đương đại Việt Nam viết về đề tài miền núi. Các sáng tác của chị đã nhận được những đánh giá cao với văn phong giản dị, trong sáng và khả năng đi sâu vào nội tâm nhân vật. Nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng từng đánh giá: “Và tôi không ngại khi khẳng định rằng, Đỗ Bích Thúy là một trong những nhà văn nữ xuất sắc nhất hiện nay”.[40;8] Tiếp nối bước chân của các thế hệ nhà văn đi trước như Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng…, Đỗ Bích Thúy đã đem đến cho văn học Việt Nam một cái nhìn mới về văn hóa miền núi. Càng đặc biệt hơn đây là một nhà văn nữ, cái nhìn của chị cũng mang những sắc thái độc đáo hơn so với các nhà văn thuộc phái mạnh. Miền núi trong các sáng tác của Đỗ Bích Thúy rất nhẹ nhàng và tinh tế nhưng lại vô cùng sâu sắc. Một loạt các tập truyện ngắn như Sau những mùa trăng, Những buổi chiều ngang cuộc đời, Tiếng đàn môi sau bờ rào đá… đã tái hiện được cuộc sống của đồng bào vùng cao. Đặt các sáng tác đó trong dòng văn học cùng đề tài, chúng ta thấy những nỗ lực trong hành trình sáng tạo, thấy được những đóng góp của nhà văn cho văn học nước nhà. Mặc dù tuổi đời còn khá trẻ những không thể không thừa nhận Đỗ Bích Thúy là một cây bút tài năng và độc đáo trong các nhà văn cùng thế hệ. 1.2. Một đặc điểm tạo nên cái hay trong các sáng tác miền núi nói chung là những nét riêng về văn hóa. Các sáng tác của Đỗ Bích Thúy cũng không năm ngoài quy luật đó. Chị đã từng tâm sự: “Trong những tác phẩm của mình, tôi đã từng đề cập đến sự xâm lấn của văn minh đô thị đối với miền núi, và tôi cho rằng đây vẫn là một đề tài “nóng” đối với văn chương, báo chí. Lấy một ví dụ, lâu nay người ta vẫn cưỡi ngựa đi chợ…Thế là chả mấy chốc mất cả bao nhiêu câu chuyện lãng mạn nảy sinh từ con ngựa thồ (có người còn gọi là “văn hóa ngựa thồ” ấy), mất cả kiến trúc truyền thống. Sự mất dần từng ít một đó chính Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 1 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
  8. là sự xâm lấn của văn minh đô thị. Nó không phải chỉ ảnh hưởng tới một cá nhân nào, nó sẽ làm biến đổi cả một vùng đất.” [20] Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy, tác giả rất chủ động trong việc tái hiện các không gian văn hóa đang “rạn vỡ” đó. Làm nên sự đặc sắc trong các sáng tác của Đỗ Bích Thúy không chỉ là văn phong, bút pháp độc đáo mà còn là tình yêu đối với các giá trị văn hóa, với cái đẹp đang cần được lưu giữ của miền núi nói riêng và quê hương đất nước nói chung. 1.3. Hướng tiếp cận tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa trong thời gian gần đây đã được vận dụng ngày càng nhiều trong nghiên cứu văn học và đạt được hiệu quả rõ rệt. Đặc biệt với các sáng tác mạng đậm dấu ấn vùng miền như trường hợp Đỗ Bích Thúy thì hướng tiếp cận này sẽ chỉ ra được vị trí và đóng góp của nhà văn trong dòng chảy các sáng tác về dân tộc miền núi. Đây chính là cơ sở để chúng tôi thực hiện đề tài "Màu sắc văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy". 2. Lịch sử vấn đề Tuy mới xuất hiện trên văn đàn văn học trong một thời gian không dài nhưng những tác phẩm của Đỗ Bích Thúy đã được bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình đánh giá cao. Các tác phẩm của chị đã trở thành đối tượng khảo sát nghiên cứu của một loạt các luận văn trong thời gian gần đây. Tác giả Nguyễn Thị Thu với đề tài: Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy nhìn từ góc độ thể loại (2012) đã tìm hiểu khá kĩ lưỡng nghệ thuật kết cấu, tạo tình huống, ngôn ngữ cũng như giọng điệu trong tập truyện Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của nhà văn Đỗ Bích Thúy. Trong quá trình quan sát “truyện ngắn hôm nay”, Bùi Việt Thắng nhận thấy: “văn học đương đại Việt Nam mang gương mặt nữ” [29]. Thực tế sáng tác và từ các cuộc thi trên Tuần báo, Tạp chí Văn nghệ Quân đội đã cho thấy điều đó. Sau một số nhà văn như Phạm Thị Minh Thư, Nguyễn Thị Thu Huệ, Trần Thanh Hà là Đỗ Bích Thúy liên tục giành giải thưởng cao quý nhất cuộc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 2 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
  9. thi truyện ngắn trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Nhà văn Chu Lai đánh giá cao về Đỗ Bích Thúy. Theo ông, thành công của Đỗ Bích Thúy là mang đến cho người đọc một “món ăn lạ”, khiến họ được sống trong một mảnh đất lạ mà “tất cả được miêu tả dịu nhẹ, chênh vênh, chấm phá, không dài dòng, không đa ngôn”. Ông cũng cho rằng: “chất bình dị, xôn xao, chân thật không chỉ là tiêu chí trong các cuộc thi văn của Tạp chí mà còn là đặc trưng của nền văn học”[18]. Cũng chính yếu tố đó làm nên cái duyên và sức gợi của nhà văn trẻ Đỗ Bích Thúy. Chu Lai cũng chỉ ra những nhược điểm của tập truyện Sau những mùa trăng là sự thử nghiệm sang mảng đề tài khác còn vụng về, gượng gạo (Sông còn chảy mãi, Phía sau kí ức). Những tìm tòi trong cách thể hiện của Đỗ Bích Thúy (cảm hứng giọng điệu, cốt truyện…) được Chu Lai ghi nhận bước đầu. Trong lời giới thiệu tập truyện ngắn Những buổi chiều ngang qua cuộc đời, Nguyễn Hòa khẳng định “trong vài năm trở lại đây, số các cây bút trẻ viết về đề tài dân tộc và miền núi không nhiều và Đỗ Bích Thúy là một người thành công trong số ít đó”. Tác giả Ngô Thị Yên lại đi sâu vào nghệ thuật trần thuật trong sáng tác Đỗ Bích Thúy với cách khai thác về điểm nhìn, lời văn, cốt truyện, người trần thuật. Luận văn Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy cũng đã đánh giá khá cụ thể về cách tân nghệ thuật của nhà văn này. Đặc biệt luận văn đã khảo sát kĩ các kiểu trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy và khẳng định chị là cây bút có vị trí quan trong trên văn đàn văn học Việt Nam hiện nay. Trong đề đài “Đặc điểm truyện ngắn Đỗ Bích Thúy” tác giả Phan Thị Yến cũng đưa ra những kết luận về nghệ thuật sáng tác của nhà văn này: “Đỗ Bích Thúy đã biết nắm bắt, sử dụng có hiệu quả các yếu tố nghệ thuật như trữ tình ngoại đề, hồi ức, chi tiết nghệ thuật… như một phương tiện hữu dụng làm nổi bật lên thế giới tinh thần con người, nhất là người phụ nữ miền núi và từ đó nhân vật trở nên sống động, tạo được dấu ấn riêng trong thế giới nhân vật của văn xuôi đương đại Việt Nam”. [55,113] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 3 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
  10. Cũng khái thác theo hướng này là đề tài Tìm hiểu một số cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kỳ 1986 - 2006(Nguyễn Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy) của tác giả Nguyễn Thanh Hồng. [14]. Luận văn đã khảo sát những đóng góp của các nhà văn nữ trong quá trình đổi mới nghệ thuật tự sự. Nhìn nhận sáng tác của Đỗ Bích Thúy trong mỗi liên hệ với các sáng tác về đề tài miền núi, tác giả Nguyễn Quốc Toán trong luận văn Miền núi trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy lại đi sâu vào quan niệm nghệ thuật về con người với các kiểu: Con người tha hóa; con người tâm linh; con người cô đơn; con người bi kịch. Khai thác sáng tác Đỗ Bích Thúy trong trường nhìn các sáng tác về miền núi còn có Đề tài dân tộc và miền núi trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy và Phạm Duy Nghĩa của tác giả Mai Thị Kim Oanh; Truyện ngắn về đề tài miền núi phía Bắc (Cao Duy Sơn; Đỗ Bích Thúy; Nguyễn Huy Thiệp) của tác giả Nguyễn Minh Trường.[51] Các luận văn này cũng trên cơ sở so sánh với các nhà văn viết về đề tài miền núi khác để triển khai các nghiên cứu của mình. Một đề tài nữa cũng hết sức thú vị về truyện ngắn Đỗ Bích Thúy là Tiếp cận sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Bích Thúy từ phương diện giá trị văn học - văn hóa. Ở đề tài này các sáng tác của Đỗ Bích Thúy được triển khai ở mục 2.2. Mảng đề tài miền núi và dân tộc thiểu số. Luận văn đi sâu vào khả năng tái hiện không gian hiện thực miền núi phía Bắc với những trang văn miêu tả phong cảnh giàu chất thơ, phác họa sinh động cuộc sống, sinh hoạt của dân miền núi; ở mục 3.2. tác giả luận văn lại đi sâu vào hình ảnh và thân phận người phụ nữ dân tộc thiểu số; Đặc biệt ở mục 4.2, luận văn triển khai ngôn ngữ như một biểu hiện của bản sắc văn hóa dân tộc.[31]. Trong bài Đọc truyện ngắn Đỗ Bích Thúy, đăng trên báo VN số 5, (3/2/2007), nhà văn Trung Trung Đỉnh viết: "...Đỗ Bích Thúy có khả năng viết truyện về cảnh sinh hoạt truyền thống của người miền cao một cách tài tình. Không truyện nào là không kể về Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 4 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
  11. cách sống, lối sinh hoạt, nết ăn, nết ở và cả cảnh sinh hoạt lễ hội, phong tục tập quán. Truyện nào cũng hay cũng mới, cũng lạ mặc dù tác giả không hề cố ý đưa vào những chi tiết lạ. thế mà đọc đến đâu ta cũng sững sờ bởi những chi tiết rất đặc sắc chỉ người miền cao mới có". Nhà văn khẳng định: " Tôi có cảm giác Đỗ Bích Thúy còn quá nhiều điều để viết về miền rẻo cao xa xôi nhưng gần gũi, tuyệt vời đẹp ấy của đất nước ta. Tôi cũng là người mê viết truyện ngắn và mê cao nguyên đá kỳ vĩ Hà Giang, nhưng đọc truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, tôi thực sự ngả mũ...chào thua! Dẫu đây mới chỉ là mở đầu. Một mở đầu mơ ước của một nhà văn" [7]. Vậy là ngay từ những tác phẩm đầu tiên, Đỗ Bích Thúy đã "buộc" người ta phải nhớ tới chị qua một văn phong riêng đậm chất văn hóa miền núi. Còn ở đề tài “Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy nhìn từ góc độ văn hóa”, tác giả Nguyễn Thị Hải Hà cũng đã khảo sát 26 truyện ngắn và khẳng định: “Thông qua ngòi bút miêu tả tinh tế của nhà văn, thiên nhiên, con người, văn hóa miền núi phía Bắc hiện lên sinh động, phong phú và gần gũi. Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy đã, đang và sẽ giúp người đọc hiểu được nhiều hơn về những nét văn hóa đặc sắc của những người con nơi núi rừng nhiều hơn nữa”. [11,2]. Ở đề tài này, tác giả chủ yếu khái thác các giá trị văn hóa trong thiên nhiên và con người cùng các biểu tượng, ngôn ngữ. Qua khảo sát một loạt các luận văn nghiên cứu về truyện ngắn Đỗ Bích Thúy, người viết nhận thấy các đề tài mới tiếp cận ở những góc độ nghệ thuật, tự sự, thi pháp thể loại và một vài vấn đề về góc độ văn hóa. Để có một cái nhìn toàn diện, đa chiều về dấu ấn văn hóa trong sáng tác của nhà văn này thực sự vẫn còn nhiều phương diện cần khai thác. Chúng tôi mong muốn có những đóng góp để làm sáng tỏ giá trị văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy vì vậy chúng tôi chọn vấn đề “Màu sắc văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy” làm đề tài nghiên cứu của mình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 5 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
  12. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu: các màu sắc văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy như văn hóa gia đình, văn hóa sinh hoạt cộng đồng, văn hóa nghệ thuật; các biểu tượng và các nghệ thuật thể hiện các phương diện mang màu sắc văn hóa ấy. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi khảo sát của luận văn là các tập truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy và một số tác phẩm của một số tác giả khác để đối chiếu so sánh khi triển khai vấn đề. Tuy nhiên do thời gian có hạn nên chúng tôi tập trung nhiều hơn vào các tác phẩm tiêu biểu của Đỗ Bích Thúy. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp mới của luận văn 4.1. Nhiệm vụ - Tổng hợp các quan niệm về văn hóa, mối liên hệ giữa văn học và văn hóa, đưa ra các hướng nghiên cứu văn học từ góc độ văn hóa. - Khai thác, phân tích, đánh giá các dấu ấn màu sắc văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy, vai trò của các dấu ân văn hóa trong thể hiện tư tưởng nghệ thuật của tác giả và giá trị của dấu ấn văn hóa ấy với tiếp nhận văn học. - Tìm hiểu nghệ thuật thể hiện màu sắc văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy 4.2. Đóng góp mới của luận văn Tiếp tục hướng nghiên cứu về văn học dưới góc độ văn hóa để lý giải một hiện tượng văn học mới như Đỗ Bích Thúy; Từ góc độ đó, đề tài sẽ khẳng định thêm giá trị của nhà văn này trên văn đàn văn học, đồng thời cũng muốn chỉ ra xu thế chung của văn học sau Đổi mới là tìm về bản sắc văn hóa, là cảm hứng trước những biến động thời đại đang làm mai một các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Tìm hiểu nghệ thuật biểu hiện sắc màu văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 6 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
  13. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Thực hiện đề tài, chúng tôi vận dụng đồng bộ các phương pháp sau: - Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Văn hoá học hình thành trên vùng tiếp giáp của các tri thức xã hội và nhân văn về con người và xã hội, nghiên cứu văn hoá như một chỉnh thể toàn vẹn với một phạm vi rộng khắp, trong đó văn hóa học văn học nghệ thuật như một tiểu hệ thống. Từ cái nhìn văn hóa, chúng tôi sẽ tìm thấy những mối quan hệ tương hỗ, biện chứng giữa văn hóa và văn học. - Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Để thực hiện đề tài này, luận văn cần kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu văn hóa,... Cái nhìn liên ngành sẽ giúp luận văn giải quyết thỏa đáng vấn đề cần nghiên cứu. Ngoài ra chúng tôi sử dụng các thao tác nghiên cứu khác như khảo sát, thống kê, phân tích, tổng hợp so sánh… 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và thư mục Tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết và sáng tác của nhà văn Đỗ Bích Thúy Chương 2: Dấu ấn văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy Chương 3: Nghệ thuật thể hiện màu sắc văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 7 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
  14. NỘI DUNG Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA VÀ SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN ĐỖ BÍCH THÚY 1.1. Khái niệm văn hóa và màu sắc văn hóa “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát mọi mặt của cuộc sống (mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỉ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mĩ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”. [4] Văn hóa là một khái niệm có nội hàm rộng và được nhìn nhận ở nhiều góc độ. Nghĩa ban đầu của văn hóa trong tiếng Hán là những nét xăm mình qua đó người khác nhìn vào để nhận biết và phân biệt mình với người khác, biểu thị sự quy nhập vào thần linh và các lực lượng bí ẩn của thiên nhiên , chiếm lĩnh quyền lực siêu nhiên. Theo bộ Từ Hải (1989), văn hóa vốn là một cách biểu thị chung của hai khái niệm văn trị và giáo hóa. Ở phương Tây cổ đại, khái niệm văn hóa gốc Hy Lạp, La Mã (cuture) có nghĩa đen là vun xới, trồng trọt. Mở rộng ra, nó ám chỉ sự rèn rùa, giáo dục và đào luyện. Sang thời kì Phục Hưng ở Châu Âu, phá bỏ các quan niệm của “Đêm trường trung cổ” với tính chất giáo điều, kinh viện mà nhà thờ phong kiến xây dựng, văn hóa thường được đồng nghĩa với văn chương nghệ thuật. “Đó là thời kì mà lý trí con người được tôn sùng đến cao độ, người có văn hóa là người có lý trí phát triển cao, nhờ đó mà thành tựu được lý tưởng nhân bản. Các học giả nổi tiếng của kỷ nguyên ánh sáng như Vôn - te, Con đóc xê, Tuốc gô… đều cho rằng lịch sử phát triển văn hóa của loài người đồng thời cũng tức là lịch sử phát triển của lý trí. Một dân tộc có văn hóa khác với những bộ tộc dã man nguyên thủy dã man ở chỗ mọi thiết chế xã hội và chính trị của nó đều thấm nhuần lý Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 8 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
  15. trí, biểu hiện lý trí, cũng như trong những thành tựu khác của văn chương, nghệ thuật” [4] Sáng thế ki XIX, các nhà nhân chủng học và nhân loại học đã đề xuất một hướng nghiên cứu mới về văn hóa dựa trên sự mô tả chi tiết, tỉ mỉ sinh hoạt vật chất và tinh thần của nhiều bộ tộc người nguyên thủy. Họ cho rằng văn hóa là tổng thể kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật và phong tục… Thậm chí nhà nhân loại học người Mỹ C.Wissher trong cuốn “Con người và văn hóa” đã xếp thành mục chi tiết: 1. Ngôn ngữ: tiếng nói, chữ viết. 2. Của cải vật chất: a. Tập quán, ăn uống. b. Nhà ở. c. Vận tải và du lịch. d. Quần áo mặc. e. Công cụ, dụng cụ, thiết bị sản xuất và sinh hoạt. f. Vũ khí. g. Kinh doanh, công nghiệp. 3. Nghệ thuật: kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc... 4. Huyền thoại và kiến thức khoa học: 5. Tôn giáo: a. Nghi lễ. b. Tập tục săn sóc người bệnh c. Tập tục chôn cất, thờ phụng, tưởng niệm người chết. 6. Gia đình và xã hội: a. Các hình thức cưới xin. b. Phương pháp nhận họ hàng c. Thừa tự gia sản d. Áp lực xã hội (Những phương pháp của xã hội nhằm ngăn chặn những hành vi cá nhân có hại và tán dương những hành vi cá nhân có lợi cho xã hội). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 9 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
  16. e. Thể thao, giải trí. 7. Quyền sở hữu: 8. Nhà nước, chính phủ: a. Thể chế chính trị. b. Thủ tục tố tụng, thủ tục quản lý. 9. Chiến tranh Trải qua nhiều quan niệm, cho đến này về cơ bản văn hóa được hiểu như sau: Tất cả những cái ta đã biết liên quan đến con người thuộc về văn hóa, tất cả những gì chúng ta còn chưa biết liên quan đến con người cũng thuộc về văn hóa. Chính là theo nghĩa đó, Édouard Herriot (1872-1957) - nhà khoa học và chính khách, viện sĩ Viện hàn lâm Pháp - đã nói câu bất hủ: “Văn hóa là cái còn lại khi ta quên tất cả, là cái còn thiếu khi ta đã học tất cả” (La culture, c’est ce qui reste quand on a tout oubliộ, c’est ce qui manque quand on a tout appris)..[32] Ở nước ta, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm trong lời ngỏ của trang Web về văn hoá vanhoahoc.com cũng định nghĩa tương tự: “Con người tồn tại trong môi trường văn hoá. Môi trường ấy thể hiện trong không gian và qua thời gian. Cuộc sống trong ta và quanh ta thấm đẫm chất men của không gian văn hoá. Cha ông ta, bản thân ta, rồi con cháu ta, sinh ra trong văn hoá, sống trong văn hoá và chết đi trong thời gian văn hoá. Tất cả những cái ta đã biết liên quan đến con người thuộc về văn hoá, tất cả những gì chúng ta còn chưa biết liên quan đến con người cũng thuộc về văn hoá. Chính là theo nghĩa đó. Edouard Herriot (1872 - 1957) - nhà khoa học và chính khách, Viện sĩ Viện hàn lâm Pháp - đã nói câu bất hủ: “Văn hoá là cái còn lại khi ta đã quên tất cả, là cái còn thiếu khi ta đã học tất cả”. [32] Từ định nghĩa trên, ta có thể thấy: Văn hoá là một hiện tượng khách quan, là tổng hoà của tất cả các khía cạnh của đời sống bao quanh con người, tồn tại hữu thức và cả vô thức trong mỗi chúng ta. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 10 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
  17. Với đề tài Màu sắc văn hóa trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy thì khái niệm màu sắc văn hóa chưa từng có trong bất cứ từ điển văn học hay từ điển thuật ngữ văn học nào. Bởi vậy, chúng tôi mạnh dạn đưa ra cách hiểu về màu sắc văn hóa đó là: những sắc thái văn hóa miền núi của đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao được phản ánh trong sáng tác của một nhà văn người Kinh nên vừa quen vừa lạ: quen vì đó là những nét văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số đã được phản ánh bằng những phương thức nghệ thuật khác nhau trong nhiều sáng tác văn học, lạ vì được miêu tả bằng thủ pháp "lạ hóa" và qua cái nhìn nghệ thuật từ bên ngoài vào của Đỗ Bích Thúy. 1.2. Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học Nói về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, trong những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định: “Văn học ở thời kì nào cũng phải đặt trong cấu trúc tổng thể của văn hóa, nhưng ở ta xem xét văn học và tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa hiện nay vẫn là vấn đề hết sức mới mẻ. Trước đây, văn học và văn hóa bị xem xét một cách biệt lập do người ta quan niệm văn học có những đặc trưng loại biệt. Bây giờ đặc trưng loại biệt không phải là không còn, nhưng trong nhiều cách tiếp cận thì cách tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa đang cho thấy là một hướng tiếp cận có hiệu quả. Cách tiếp cận này xem văn học như một thành tố trong cấu trúc của tổng thể văn hóa. Nó truyền tải lưu giữ được những giá trị văn hóa” [41]. Trong lịch sử văn học của bất cứ quốc gia nào cũng tồn tại mối quan hệ giữa văn hoá và văn học. Đó là một mối quan hệ hai chiều khăng khít không thể tách rời. ở đây, chúng tôi muốn khẳng định thêm một lần nữa mối quan hệ đó để có thể thấy hướng tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hoá là vô cùng cần thiết. Văn hoá chính là chất liệu để văn học sáng tạo nên thế giới nghệ thuật của mình, là “sân khấu” để văn học có thể thể hiện nổi bật các giá trị của mình, đồng thời văn hoá cũng là “chìa khoá” để “giải mã” các “ẩn số” nghệ thuật. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 11 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
  18. Mặt khác, văn học lại phản ánh văn hoá, tái tạo mô hình văn hoá qua thế giới nghệ thuật, và chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò của văn học trong việc định hướng cho sự phát triển văn hoá. Ta có thể ví văn hoá như một dòng sông lớn, còn văn học là nhánh sông nhỏ. Sông lớn có đầy nước thì nhánh sông nhỏ mới đầy, và nhánh sông nhỏ lại góp phần điều tiết nước cho sông mẹ. Lịch sử văn học đã chứng minh rõ điều này. 1.2.1. Văn học truyền tải và lưu giữ văn hóa Theo như nhận định trên của tác giả Đỗ Lai Thúy thì văn học không tách rời văn hóa mà nó là nơi bảo lưu và gìn giữ các giá trị tốt đẹp. Lịch sử loài người nói chung và Việt Nam nói riêng đã minh chứng rõ nét cho điều này. Như chúng ta đã biết, văn học phản ánh cuộc sống con người, lấy con người là trung tâm. Con người lại là chủ thể của văn hóa. Trong quá trình phản ánh sinh hoạt của con người, tất yếu văn học sẽ chứa đựng các giá trị văn hóa. Chẳng hạn như phong tục tập quán của các dân tộc đa phần đều được mô tả lại trong văn học hay những thú chơi của người xưa được Nguyễn Tuân lưu lại trong những trang viết “Vang bóng một thời”. Đó thực sự là mảnh đất tuyệt với để các giá trị văn hóa được lưu giữ. Tác giả Huỳnh Như Phương cũng khẳng định: “Văn học biểu hiện văn hoá, cho nên văn học là tấm gương của văn hoá. Trong tác phẩm văn học, ta tìm thấy hình ảnh của văn hoá qua sự tiếp nhận và tái hiện của nhà văn. Đó là bức tranh văn hoá dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương (tục ngữ, câu đố tục giảng thanh, trò chơi…), là những vẻ đẹp của văn hoá truyền thống trong truyện ngắn và tuỳ bút Nguyễn Tuân (hoa thuỷ tiên, nghệ thuật pha trà, thư pháp…), là những tín ngưỡng, phong tục trong tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (đạo Mẫu và tín ngưỡng phồn thực, tục thờ Thần Chó đá, Thần Cây đa, Thần Thành hoàng, cách lên đồng, hát chầu văn, tục kết chạ, ma chay, cưới hỏi…). Tác phẩm văn học còn dẫn ta đi đến những nguồn mạch sâu xa của văn hoá qua việc lý giải tấn bi kịch Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 12 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
  19. lịch sử trong kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng hay cốt cách người nông dân được đào luyện qua những biến thiên cách mạng trong các truyện ngắn Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu.”[27] Có thể nói, văn học dân gian chính là nơi bảo lưu văn hoá đầy đủ nhất. Nếu như sân khấu dân gian đang dần bị lấn át bởi các loại hình nghệ thuật hiện đại, nếu các làng nghề tranh dân gian đang dần lụi tàn, nếu các giai điệu dân gian ngày càng ít người biết đến thì văn học dân gian vẫn ghi dấu đậm nét trong tâm thức người Việt. ở đó, người Việt tìm được cội nguồn của mình, tìm được đầy đủ những nét văn hoá đẹp đẽ của dân tộc. Không biết từ bao giờ văn hoá đã trở thành “nguồn sữa”, chất liệu cho văn học “lớn lên”. Ta có thể bắt gặp tục ăn trầu qua truyện cổ tích Trầu cau hay tục làm bánh trưng, bánh dầy ngày tết qua Sự tích bánh trưng bánh dầy. Như vậy, các phong tục tập quán, các yếu tố văn hoá được đưa vào văn học, làm đề tài cho văn học. Mặt khác, văn học lại lý giải các giá trị văn hoá, đồng thời bảo lưu chúng trong trường kỳ lịch sử. Và có lẽ nhờ vậy mà nhiều giá trị văn hoá đã chiến thắng được thời gian đến tận bây giờ. Văn hoá thời kỳ phong kiến cũng được phản ánh sâu sắc qua các sáng tác văn học. Chúng ta có thể thấy được hào quang của các triều đại phong kiến qua các tác phẩm văn học, thấy được lịch sử qua các trang sách, thấy được cha ông ta đã sống ra sao, chiến đấu thế nào… trong hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Qua văn học, chúng ta có thể thấy được bức tranh văn hoá của dân tộc qua từng thời kỳ lịch sử. Tuy nhiên, văn học không thể phản ánh trực tiếp được văn hoá, “mà chỉ có thể phản ánh thông qua “lăng kính” văn hoá, thông qua “bộ lọc” của các giá trị văn hoá. Nhờ thế mà tránh được sự phản ánh “gương”, phản ánh một cách trần trụi. Và, có lẽ, cũng nhờ thế mà tạo cho văn học một lối phản ánh đặc trưng, phản ánh, như người ta nói, có nghệ thuật”[51, 3]. Có người cho rằng, chúng ta có thể tìm thấy văn hoá qua sử sách, thậm chí còn rõ hơn văn học. Chúng ta có thể biết người xưa ăn gì, mặc gì, sinh hoạt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 13 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
  20. ra sao một cách cụ thể. Đó là điều không cần bàn cãi nhưng đó cũng chỉ là một phần, bởi khái niệm văn hoá có nội hàm rất rộng. Sử học có thể tái hiện được những giá trị văn hoá cụ thể nhưng còn những giá trị phi vật chất. Đó là điều khó có thể dựng lại được nếu chỉ qua một mảnh gốm, một lưỡi cày hay lưỡi cuốc. Chẳng hạn như tinh thần yêu nước, tư tưởng nhân đạo. Đó là những truyền thống văn hoá quý giá mà chỉ có thể thấy được rõ nhất qua hình tượng nghệ thuật văn học. Đó là khả năng phản ánh tuyệt vời của văn học mà nếu chỉ miêu tả bằng ngôn ngữ thông thường khó có thể thuyết phục được. Mặt khác, có những yếu tố văn hoá từ lâu đã không còn nữa, thời gian đã xoá nhoà nó đi mà sử học cũng không sao tạo dựng lại được, và lúc đó họ phải tìm đến các tác phẩm văn thơ. Đó không phải là điều ngẫu nhiên bởi từng có thời kỳ văn sử bất phân. Nhờ các sáng tác đó mà các “ẩn số” lịch sử văn hoá được giải mã. Văn hoá của thời kỳ nào cũng có những chuẩn mực riêng, là thước đo cái đẹp của thời kỳ đó. Ví dụ như thời trung đại coi áo the, khăn xếp là đẹp, còn người hiện đại lại coi quần jeans, áo phông… là hợp mốt. Như vậy, nếu không hiểu văn hoá ăn mặc của mỗi thời kỳ mà đem cái chuẩn này đánh giá cái chuẩn kia sẽ là sai lầm. Như vậy, khi thưởng thức một tác phẩm văn học, người đọc cũng phải hiểu môi trường văn hoá mà tác phẩm ấy hình thành thì mới có thể thấy được cái hay, cái đẹp của nó. Bởi vậy mới nói văn hoá là “chìa khoá” để đi vào thế giới văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung. Chỉ đơn cử như việc tìm hiểu văn học nước ngoài, nếu chúng ta không hiểu văn hoá của họ (tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, thẩm mĩ…) chúng ta sẽ không hiểu được văn học của họ. Ví dụ như việc tìm hiểu văn học Nhật Bản, chí ít chúng ta cũng phải biết đến văn hoá trà đạo, kiếm đạo hay tinh thần samurai của họ. Để cho nhân vật ngồi uống tách trà ngắm hoa anh đào nở phải hiểu là nhân vật đang thư thái, tâm tĩnh như mặt nước mùa thu. Hay một võ sĩ nếu thua cuộc tại sao phải mổ bụng tự sát. Đó là quan niệm về danh dự của người võ sĩ, mà nếu không biết văn hoá đó của họ có thể đánh giá sai lầm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 14 http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2