intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Rèn kĩ năng làm bài nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi nhằm góp phần giúp học sinh nâng cao chất lượng thi tốt nghiệp THPT

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:63

8
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu sáng kiến "Rèn kĩ năng làm bài nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi nhằm góp phần giúp học sinh nâng cao chất lượng thi tốt nghiệp THPT" nhằm góp phần giúp giáo viên và học sinh THPT nói chung, ở trường THPT Nghi Lộc 3 nói riêng nâng cao được chất lượng dạy - học - thi môn Ngữ văn TN THPT hiệu quả và đạt kết quả cao.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Rèn kĩ năng làm bài nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi nhằm góp phần giúp học sinh nâng cao chất lượng thi tốt nghiệp THPT

  1. MỤC LỤC
  2. KÍ HIỆU VIẾT TẮT Chữ viết thường      Viết tắt Phương pháp dạy học PPDH và KTĐG và kiểm tra đánh giá Giáo viên        GV Học sinh        HS Sách giáo khoa SGK Văn bản VB Nghị luận xã hội NLXH Nghị luận văn học NLVH Thực nghiệm        TN Đối chứng        ĐC Tốt nghiệp  TN Tốt nghiệp Trung học phổ  TN THPT thông Giáo dục và Đào tạo GD & ĐT Sáng kiến kinh nghiệm SKKN
  3. A. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài              Kì thi TN THPT hiện nay ngoài mục đích chính là xét công nhận Tốt  nghiệp cho học sinh còn dùng để  xét tuyển vào một số  trường Đại học cao   đẳng các trên cả  nước. Mặc dù tác động của đại dịch, hình thức tổ  chức và   mục đích của kì thi có sự  thay đổi ít nhiều nhưng môn Ngữ  văn vẫn luôn là  một môn chính trong kì thi này và góp mặt trong nhiều tổ hợp khối thi vào các  trường Đại học cao đẳng. Điều đó nói lên tầm quan trọng, vai trò bất biến  của môn Ngữ văn đối với việc học và thi của tất cả học sinh lớp 12 hiện nay.   Thực hiện chủ trương đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp dạy học và   hình thức kiểm tra đánh giá chất lượng học tập của học sinh, từ  năm 2015  đến nay, việc ra đề thi môn Ngữ văn có những thay đổi theo hướng “mở”, chú   trọng đến hướng phát triển phẩm chất, năng lực của người học. Các câu hỏi  được đưa vào đề  thi không còn hướng đến mục đích tái hiện kiến thức lí   thuyết mà chuyển sang đòi hỏi học sinh phải có năng lực huy động kiến thức   tổng hợp, hiểu biết trên nhiều lĩnh vực, rèn kĩ năng trình bày quan điểm riêng  của cá nhân về các vấn đề văn học hoặc xã hội được nêu trong đề thi.         Cấu trúc đề  thi chính thức của môn Ngữ  văn dành cho kì thi TN THPT  gồm   có   hai   phần: Đọc­   hiểu (3,0   điểm)   và Làm   văn (7,0   điểm).   Riêng  phần Làm   văn có   hai   câu: nghị   luận   xã   hội (2,0   điểm)   và nghị   luận   văn   học (5,0 điểm).  Câu nghị luận văn học thường là nghị luận về một tác phẩm,  đoạn trích thơ hoặc một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi. Đây là câu hỏi chiếm  số điểm nhiều nhất và cũng là câu có phần yêu cầu dùng để phân hóa thí sinh.        Trong chương trình Ngữ văn 12, các tác phẩm văn xuôi chiếm số  lượng   lớn. Ở học kì 1 có các văn bản Người lái đò Sông Đà (trích) ­  Nguyễn Tuân,  Ai đã đặt tên cho dòng sông (trích) ­ Hoàng Phủ Ngọc Tường. Học kì 2 có Vợ  chồng A Phủ  (Tô  Hoài),  Vợ  nhặt  (Kim Lân),  Rừng xà nu  (Nguyễn  Trung  Thành), Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi), Chiếc thuyền ngoài xa  (Nguyễn Minh Châu). Tuy nhiên bài   Nghị  luận về  một tác phẩm, một đoạn   trích văn xuôi  trong SGK Ngữ  văn 12 tập 2, (trang 34 ­ 35) lại rất chung   chung, chỉ đưa ra hai bài tập. Bài tập 1: Phân tích truyện ngắn Tinh thần thể  dục của Nguyễn Công Hoan. Bài tập 2: Hãy tìm hiểu sự khác nhau về từ ngữ,   về  giọng văn giữa hai văn bản Chữ  người tử  tù của Nguyễn Tuân và Hạnh   phúc một tang gia trích Số  Đỏ của Vũ Trọng Phụng. Giải thích vì sao có sự  khác nhau đó. Để rồi, ở phần Ghi nhớ (trang 36) yêu cầu học sinh nắm các nội dung: + Giới thiệu tác phẩm hoặc đoạn trích văn xuôi cần nghị luận + Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật theo định hướng của đề  hoặc một  số khía cạnh đặc sắc nhất của tác phẩm, đoạn trích.
  4. + Nêu đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích.…  Thêm vào đó, thời lượng của bài học quá ít ỏi (1 tiết), không đủ để hình thành  cho học sinh kĩ năng phân tích các dạng đề, hình thành luận điểm.      Ở bài Ôn tập phần Làm văn (tr.182 ­ 183 ) lại đưa ra các nội dung ôn tập   nặng về  lý thuyết, không ích lợi gì cho các bài thi sắp diễn ra với học sinh   như: Đề  tài cơ  bản của văn nghị  luận trong nhà trường, lập luận trong văn   nghị luận, bố cục bài văn nghị luận, diễn đạt trong văn nghị luận.          Rõ ràng, những chỉ  dẫn như  thế  là quá chung chung và còn quá xa với   những dạng đề  thi ngày càng mới mẻ  hiện nay. Nếu chỉ  dừng lại  ở  với   những nội dung kiến thức như thế, học sinh chúng ta khó lòng hiểu đề, xây dựng hệ thống luận điểm luận cứ đầy đủ đúng với yêu cầu đề.       Thế nên, đa phần học sinh khi làm bài về nghị luận một tác phẩm ­ đoạn  trích văn xuôi thường rơi vào các hạn chế, sai sót sau: + Không nắm các luận điểm mà đề  yêu cầu, nên dẫn đến chỉ  kể  cốt truyện,  kể về nhân vật một cách chung chung. + Mơ  hồ  về  các khái niệm: giá trị  hiện thực, giá trị  nhân đạo, chất sử  thi,   nghệ  thuật trần thuật, tình huống truyện, cách kết thúc truyện…nên không  xây dựng đầy đủ các luận điểm. + Chỉ  nói về  nội dung tác phẩm, chưa biết và ít phân tích nghệ  thuật tác  phẩm. Những hạn chế sai sót trên dẫn đến kết quả của bài làm không cao.    Từ những thực tế đó, qua quá trình giảng dạy và ôn thi TN THPT ở khối 12,   tôi mạnh dạn trình bày đề  tài  “Rèn kĩ năng làm bài nghị  luận về  một tác   phẩm, đoạn trích văn xuôi nhằm góp phần giúp học sinh nâng cao chất   lượng thi tốt nghiệp THPT”. Qua đó, tôi mong muốn đóng góp vào việc nâng  cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn, đáp ứng yêu cầu theo định hướng của   chương trình giáo dục phổ thông mới. 2. Mục đích nghiên cứu ­ Đem đến một cách đầy đủ, chi tiết về dạng đề nghị luận về một đoạn  trích, tác phẩm văn xuôi bám sát cấu trúc đề thi TN THPT hiện nay. ­ Hướng dẫn một số  kĩ năng làm kiểu bài nghị  luận về  một tác phẩm,   đoạn trích văn xuôi. ­ Góp phần giúp giáo viên và học sinh THPT nói chung,  ở trường THPT   Nghi Lộc 3 nói riêng nâng cao được chất lượng dạy ­ học ­ thi môn Ngữ văn  TN      THPT hiệu quả và đạt kết quả cao.
  5. 3. Đối tượng nghiên cứu      Dựa trên nghiên cứu kết quả học tập, kết quả bài thi TN THPT môn Ngữ  văn của học sinh khối 12 trường THPT Nghi Lộc 3 trong nhi ều năm giảng  dạy để đề xuất những kĩ năng làm bài hiệu quả, phù hợp với đối tượng học  sinh, giúp các em làm tốt bài thi, nâng cao kết quả thi cử trong thời gian tới. 4. Phương pháp nghiên cứu ­ Phương pháp phân tích tổng hợp ­ Phương pháp  điều tra, khảo sát ­ Phương pháp thống kê, so sánh ­ Phương pháp thực nghiệm sư phạm…. B. NỘI DUNG 1. Cơ sở đề tài 1.1. Cơ sở lí luận       Đề  tài này được thực hiện dựa theo yêu cầu đổi mới cách thức ra đề  thi  môn Ngữ văn TN THPT trong những năm trở lại đây. Kỳ thi TN THPT được  xây dựng trên cơ  sở  của Nghị  quyết 29  về  đổi mới căn bản, toàn diện giáo  dục và đào tạo, đáp  ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều   kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ  nghĩa và hội nhập quốc tế đã  được Hội nghị  trung  ương 8 (khóa XI) thông qua. Trong đó nêu rõ “Đổi mới   phương thức thi và công nhận TN trung học phổ  thông theo hướng giảm áp   lực và tốn kém cho xã hội mà vẫn bảo đảm độ  tin cậy, trung thực, đánh giá   đúng năng lực học sinh, làm cơ sở cho việc tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp   và giáo dục đại học”. Thực hiện chủ  trương này, bắt đầu từ  năm 2015, kết  quả  các môn thi TN THPT không chỉ  là căn cứ  quan trọng nhất để  xét TN   THPT cho học sinh đã trải qua 12 năm học tập  ở  trường phổ  thông, mà còn  được xem là tham số  đáng tin cậy để  các trường trung cấp, cao đẳng và đại  học trong cả nước tham khảo khi xét tuyển sinh. Một trong những môn thi bắt  buộc để  đảm bảo kết quả  của kì thi này được công nhận là môn Ngữ  văn.  Điều đó nói lên tầm quan trọng của việc học và thi môn Ngữ văn đối với tất  cả học sinh lớp 12 hệ phổ thông hoặc giáo dục thường xuyên.          Đề  thi các môn trong kì thi này cũng được ra theo tinh thần xuất phát từ  nhiệm vụ đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá ở trường  phổ thông, đáp ứng yêu cầu về phát triển phẩm chất và năng lực  học sinh theo  định hướng của chương trình Giáo dục phổ thông mới. Đáp ứng yêu cầu dạy ­  học chuyển từ giáo dục nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, chuyển  từ  phương pháp dạy học theo lối “thầy đọc trò chép” sang dạy cách học, cách  vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất, đồng   thời cần đổi mới kiểm tra đánh giá. Kiểm tra đánh giá là bộ phận không thể tách 
  6. rời của quá trình dạy học, là động lực để thúc đẩy sự đổi mới của quá trình dạy  và học.        Đáp   ứng   những   yêu   cầu   trên,  đề   thi   môn   Ngữ   văn   trong   kì   thi   TN  THPT hiện nay đã có những điều chỉnh quan trọng trong cấu trúc, giúp đề thi   nói riêng, môn Ngữ  văn nói chung có giá trị  thực tiễn cao  trong  thực tế  đời  sống. Một số cuộc hội thảo đã được tổ chức nhằm trao đổi về  việc ra đề thi  môn Ngữ  văn theo hướng “mở”, theo chuẩn đánh giá của PISA để  tạo nên   bước đột phá cho hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực của   người học. Việc đổi mới cách thức ra đề  thi môn Ngữ  văn TN THPT như  hiện nay tránh được tình trạng học sinh học vẹt, học tủ, chưa kiểm tra, đánh  giá được phẩm chất, năng lực của học sinh. Vì vậy, đề  Ngữ  văn nhiều năm  nay đã thay đổi, thiết kế theo hướng giúp học sinh chủ động vận dụng những   kiến thức, hiểu biết, tình cảm, năng lực của mình thể hiện vào bài thi, qua đó  đánh giá toàn diện nhất năng lực của học sinh.  1.2. Cơ sở thực tế  Thực hiện đề tài này tôi xuất phát từ ba cơ sở thực tiễn có giá trị. Đó là  dựa trên đặc điểm cấu trúc, nội dung đề  thi môn Ngữ  văn trong kì thi THPT  QG hiện nay của Bộ  GD&ĐT; thực tiễn bài làm, kết quả  bài thi THPT QG  của HS 12 và với các dạng đề  nghị  luận về  tác phẩm văn xuôi truyền thống   trước đây để giáo viên lẫn học sinh có cái nhìn so sánh đối chiếu, thấy được  điểm kế thừa cũng như điểm mới mẻ của đề thi hiện nay. 1.2.1. Thực trạng bài làm và kết quả bài thi TN THPT Quốc gia môn Ngữ văn Một thực tiễn thôi thúc tôi thực hiện đề  tài là dựa trên kết quả  bài thi   môn Ngữ  văn của HS THPT trong kì thi THPT QG (năm 2020, 2021 là kì thi  TN THPT QG). Trong nhiều năm trở lại đây, kết quả kì thi THPT QG nói chung và kết  quả  bài thi môn Ngữ  văn nói riêng luôn được xã hội quan tâm. Tuy nhiên, có   một thực trạng là điểm thi môn Ngữ  văn trong cả  nước, ở  Nghệ  An, và hẹp  hơn là ở trường THPT Nghi Lộc 3 chưa cao. Như  đã đề  cập  ở  phần lí do chọn đề  tài, theo thống kê của Bộ  GD &   ĐT, trong kì thi THPT Quốc gia năm 2019, cả nước có 3100 bài thi bị điểm liệt  (dưới 1,0 điểm). Trong đó, môn Ngữ  văn có số  lượng HS bị  điểm liệt nhiều  nhất là 1265 bài (chiếm 1/3). Số lượng này cao hơn so với năm 2017 là 2,5 lần   và gấp 1,6 lần so với năm 2018  Bảng 1: (Nguồn: Internet)
  7. “Kết quả phân tích phổ điểm thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn của cả  nước năm 2020 cho thấy: Có 830.764 thí sinh tham gia thi bài thi Ngữ  văn,   trong đó điểm trung bình 6,62, điểm trung vị  6,75; điểm số  có nhiều thí sinh   đạt nhất là 7. Số thí sinh có điểm 
  8. Về kết quả môn thi Ngữ văn trong kì thi THPT của Tỉnh Nghệ An, năm  2020, dù vẫn là Tỉnh có kết quả  môn thi này xếp  ở  top đầu của cả  nước  nhưng điểm trung bình chung vẫn đang dừng ở mức: 6,56 điểm. Theo thống kê bảng so sánh kết quả kì thi tốt nghiệp THPT năm 2020   của các trường trên địa bàn tỉnh Nghệ  An, Trường THPT Nghi Lộc 3 không   nằm trong tốp 10 trường có điểm trung bình Ngữ văn cao. Bảng 3: Trong năm học 2019 ­ 2020, 2020 ­ 2021, khi tiến hành làm bài thi khảo   sát chất lượng đầu năm ở các lớp 12 được chọn để ĐC và TN, tôi nhận thấy   kết quả bài thi của HS chưa cao, kể cả những HS có điểm đầu vào môn Văn   trong kì thi tuyển sinh vào 10 khá tốt. Bài thi của các em mắc khá nhiều lỗi về  cả hình thức lẫn nội dung. Nhiều em chưa quen với cấu trúc đề thi, chưa nắm   được kĩ năng làm từng dạng câu hỏi Đọc­ hiểu, NLXH và NLVH của đề thi,   nhiều em học tủ, học lệch nên ảnh hưởng đến kết quả bài làm. 1.2.2. Dạng đề phân tích một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi truyền thống   xoay quanh một số vấn đề quen thuộc, thiên về tái hiện kiến thức lí thuyết, ít  gắn với thực tế đời sống. * Dạng đề phân tích ý nghĩa nhan đề tác phẩm * Dạng đề phân tích ý nghĩa tình huống truyện * Dạng đề phân tích toàn bộ tác phẩm văn xuôi (xu hướng hiện nay ít dùng đến) * Dạng đề phân tích nhân vật:  Đây là dạng đề  không mới, nhưng hiện nay,   xu hướng đề bài chỉ tập trung phân tích một vài khía cạnh của nhân vật, nhất   là nghệ thuật xây dựng nhân vật, nên ít nhiều gây bỡ ngỡ cho học sinh. ­  Phân tích một đặc điểm về nội dung, nghệ thuật của nhân vật:
  9. +  Về đặc điểm nội dung: Ví dụ: Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong  Vợ chồng A Phủ của  Tô Hoài. Phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt của Kim Lân. Phân tích nhân vật Tnú   trong  Rừng xà nu  của Nguyễn Trung Thành. Vẻ đẹp của người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn  Minh Châu. Phân tích nhân vật Việt, Chiến trong Những đứa con trong gia đình của  Nguyễn Thi. + Về  đặc điểm nghệ  thuật: Ví dụ: Phân tích diễn biến tâm lí nhân vật  Mị trong đêm tình mùa xuân, đêm mùa đông  Phân tích diễn biến tâm lí bà cụ Tứ trong Vợ nhặt (Lim Lân)  Nhận xét về  nghệ  thuật xây dựng Việt trong Những đứa con trong gia   đình (Nguyễn Thi) ­ Phân tích nhân vật theo một nhận định so sánh: Ví dụ : Trong Chữ người tử tù, vì sao nhà văn lại ví tấm lòng của Viên quản  ngục như “ một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật  đều hỗn loạn xô bồ !” ? Trong tác phẩm Một người Hà Nội, vì sao Nguyễn Khải lại gọi nhân vật bà  Hiền là “ hạt bụi vàng của Hà Nội”. * Dạng đề phân tích một khía cạnh của tác phẩm: Đây là dạng đề  rất thông   dụng, phù hợp với cấu trúc câu hỏi 5 điểm và mục đích kiểm tra mức độ vận  dụng cao của đề thi TN và xét tuyển sinh vào đại học cao đẳng. ­  Phân tích một khía cạnh nội dung: + Phân tích giá trị hiện thực + Phân tích giá trị nhân đạo ­ Phân tích một khía cạnh về  nghệ  thuật: Phân tích đặc sắc nghệ  thuật của   truyện; Phân tích tình huống truyện; Phân tích khuynh hướng sử  thi và cảm  hứng lãng mạn… * Dạng đề phân tích một chi tiết, hình ảnh, một đoạn văn.  Ví dụ  1: Phân tích ý nghĩa hình tượng  Rừng xà nu trong tác phẩm cùng tên  của Nguyễn Trung Thành. Ví dụ 2: Trong cuối truyện Chiếc thuyền ngoài xa, nghệ sỹ Phùng nhìn kỹ và  lâu hơn vào tấm ảnh thì thấy hình ảnh gì? Ý nghĩa? Ví dụ 3: Phân tích ý nghĩa hình ảnh: chiếc lò gạch cũ bỏ hoang, bát cháo hành  trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao.
  10.        Dạng đề phân tích một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi truyền thống  mặc dù có những hạn chế  lỗi thời nhưng đề  thi Ngữ  văn hiện nay vẫn kế  thừa một số đơn vị kiến thức cơ bản và đưa ra những yêu cầu riêng của môn   học để đáp ứng với chức năng nhiệm vụ của kỳ thi.      Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn trên, tôi nhận thấy việc rèn   kĩ năng làm bài nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi bám sát đề thi   TN THPT là một việc làm rất cần thiết; đáp ứng yêu cầu dạy, học, thi trong  thời gian sắp tới, khi mà đề thi TN THPT năm 2022 vẫn được Bộ GD&ĐT dự  báo thực hiện  ổn định như  các năm trước và cũng đang đến rất gần với HS  lớp 12. 2. Các dạng đề  nghị  luận về  một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi 5 năm  trở lại đây 2.1. Thống kê cụ thể Đề minh họa năm 2019:     Trong truyện ngắn Vợ nhặt, nhà văn Kim Lân hai lần miêu tả cung cách ăn  uống của người vợ  nhặt. Chiều hôm trước, khi được Tràng đồng ý đãi bánh  đúc ở ngoài chợ “Thế là thị ngồi sà xuống, ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chặp   bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì”. Và sáng hôm sau, khi nhận bát  “chè khoán” từ mẹ chồng: “Người con dâu đón lấy cái bát, đưa mắt lên nhìn,   hai con mắt thị tối lại. Thị điềm nhiên và vào miệng”. (Kim Lân ,  Ngữ  văn 12,  Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr. 27 và  tr.31) Phân tích hình ảnh người vợ nhặt trong hai lần miêu tả trên, từ đó làm nổi bật   sự thay đổi của nhân vật này. Đề chính thức năm 2019:       Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình   như  chỉ  sông Hương là thuộc về  một thành phố  duy nhất. Trước khi về  đến   vùng châu thổ  êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ   giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn   lốc vào những đáy vực bí  ẩn, và cũng có lúc nó trở  nên dịu dàng và say đắm   giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ  của hoa đỗ  quyên rừng. Giữa lòng   Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời mình như một cô gái Di­ gan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan   dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Nhưng chính rừng già nơi đây, với cấu   trúc đặc biệt có thể lí giải được về mặt khoa học, đã chế ngự sức mạnh bản   năng  ở  người con gái của mình để  khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh   chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của   một vùng văn hóa xứ  sở. Nếu chỉ  mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành   của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất sông  
  11. Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó vượt qua, không thấu hiểu phần   tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng   kín  cửa   rừng   và  ném   chìa   khóa  trong   những  hang   đá  dưới  chân   núi  Kim   Phụng. (Ai đã đặt tên cho dòng sông ?  Hoàng Phủ  Ngọc Tường,  Ngữ  văn 12,  Tập  một, NXB Giáo dục Việt Nam, tr. 198) Cảm nhận của anh/chị  về  hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên. Từ  đó nhận xét cách nhìn mang tính phát hiện về  dòng sông của nhà văn Hoàng   Phủ Ngọc Tường.   Đề minh họa năm 2020: Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Mị trong đêm mùa xuân ở Hồng Ngài ( Vợ  chồng A Phủ ­ Tô Hoài, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam 2019).  Đề minh họa năm 2021:      Phải nhiều thế kỉ qua đi, người tình mong đợi mới đến đánh thức người   gái đẹp nằm ngủ  mơ  màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại. Nhưng   ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên   tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật   mềm, như một cuộc kiếm tìm có ý thức để đi tới gặp thành phố tương lai của   nó. Từ  ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam bắc qua điện Hòn Chén;   vấp   Ngọc   Trản,   nó   chuyển   hướng   sang   tây   bắc,   vòng   qua   thềm   đất   bãi   Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ  một hình cung thật mềm về  phía   đông bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế. Từ Tuần về đây, sông   Hương vẫn đi trong dư  vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu   dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanah thẳm, và từ đó nó trôi đi   giữa hai dãy đồi sừng sững như  thành quách, với những điểm cao đột ngột   như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ  đó, người ta luôn nhìn thấy dòng   sông mềm như  một tấm lụa, với những chiếc thuyền bé chỉ  vừa bằng con   thoi. Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc   trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người   Huế thường miêu tả. Giua đám quần sơn lô xô ấy, là giấc ngủ nghìn năm của   những vua chúa được phong kín trong những rừng thông u tịch và niềm kiêu   hãnh âm u của những lăng tẩm đồ  sộ  tỏa lan khắp một vùng thượng lưu   “Bốn bề núi phủ mây phong – Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng Vạn Niên”. Đó   là vẻ  đẹp trầm mặc nhất của sông Hương, như  triết lí, như  cổ  thi, kéo dài   mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ   ngân nga tận bờ bên kia giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà… (Ai đã đặt tên cho dòng sông ?  Hoàng Phủ  Ngọc Tường,  Ngữ  văn 12,  Tập  một, NXB Giáo dục Việt Nam, tr. 198 ­ 199) Phân tích hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên. Từ  đó nhận xét về  tính trữ tình của bút kí Hoàng Phủ Ngọc Tường.
  12.  Đề thi thử THPT môn Văn năm 2021 Sở GD Nam Định:       Sáng hôm sau, mặt trời lên bằng con sào, Tràng mới trở dậy. Trong người   êm ái lửng lơ như người mới ở trong giấc mơ đi ra. Việc hắn có vợ đến hôm   nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải. Hắn chắp hai tay sau lưng lững thững bước ra sân. Ánh nắng buổi sáng mùa   hè sáng lóa xói vào hai con mắt còn cay sè của hắn. Hắn chớp chớp liên hồi   mấy cái, và bỗng chợt nhận ra xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới   mẻ, khác lạ. Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch   sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở   một góc nhà đã thấy đưa ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để  khô cong  ở   dưới gốc  ổi đã kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung bành ngay lối đi đã   hót sạch.      Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Vợ   hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất. Cảnh   tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm   động. Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ   lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà   như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột   tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có   bổn phận phải lo lắng cho vợ  con sau này. Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân,   hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà. (Trích Vợ nhặt ­ Kim Lân, Ngữ văn 12, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo  dục Việt Nam 2019). Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Tràng trong đoạn trích trên.  Từ đó nhận xét về sự thay đổi của nhân vật Tràng trong đoạn trích.  Đề thi thử THPT môn Văn năm 2021 Sở GD Cà Mau: Lúc  ấy đã khuya. Trong nhà đã ngủ  yên, thì Mị  trở  dậy thổi lửa. Ngọn   lửa bập bùng sáng lên, Mị  lé mắt trông sang, thấy mắt A Phủ  cũng vừa mở,   một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại. Nhìn thấy   tình cảnh như thế, Mị chợt nhớ lại đêm năm trước ASử trói Mị, Mị cũng phải   trói đứng thế  kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ,   không biết lau đi được. Trời  ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt   mình đến chết cũng thôi, nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng   ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác. Cơ chừng chỉ đêm mai là người kia chết,   chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình   ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi… Người kia việc   gì mà phải chết thế. A Phủ… Mị phảng phất nghĩ như vậy. Đám than đã vạc hẳn lửa. Mị  không thổi, cũng không đứng lên. Mị  nhớ   lại đời mình, Mị  lại tưởng tượng như  có thể  một lúc nào, biết đâu A Phủ   chẳng đã trốn được rồi, lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị đã cởi trói cho nó,  
  13. Mị liền phải trói thay vào đấy, Mị  phải chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế, trong   tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ… Lúc  ấy, trong nhà đã tối bưng, Mị  rón rén bước lại, A Phủ  vẫn nhắm   mắt, nhưng Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại… Mị rút con   dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây. A Phủ cứ thở phè từng hơi, không biết mê   hay tỉnh. Lần lần, đến lúc gỡ  được hết dây trói  ở  người A Phủ  thì Mị  cũng   hốt hoảng, Mị chỉ thì thào được một tiếng “Đi ngay…”, rồi Mị  nghẹn lại. A   Phủ  bỗng khuỵu xuống, không bước nổi. Nhưng trước cái chết có thể  đến   nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy. Mị đứng lặng trong bóng tối. Rồi Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn tưởng như A Phủ   đương biết có người bước lại… Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây.   A Phủ cứ thở phè phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh. Lần lần, đến lúc gỡ   được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì thào được   một tiếng “Đi ngay…”, rồi Mị  nghẹn lại. A Phủ  bỗng khuỵu xuống, không   bước nổi. Nhưng trước cái chết có thể  đến nơi ngay, A Phủ  lại quật sức   vùng lên, chạy.  Mị đứng lặng trong bóng tối. Rồi Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm, nhưng Mị vẫn băng đi. Mị  đuổi kịp A   Phủ, đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc, Mị  nói, thở  trong hơi gió thốc   lạnh buốt:  ­ A Phủ cho tôi đi. A Phủ chưa kịp nói, Mị lại nói: ­ Ở đây thì chết mất. (Trích Vợ  chồng A Phủ ­ Tô Hoài, Ngữ  văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục  Việt Nam 2008, tr.13 ­14). Phân tích hình tượng nhân vật Mị trong đoạn trích trên. Từ  đó bình luận   về khát vọng chân chính của con người trong cuộc sống.  Đề thi thử THPT môn Văn năm 2021 chuyên Hùng Vương, Gia Lai: Không những trong bộ  lịch năm  ấy mà mãi mãi về  sau, tấm  ảnh chụp   của tôi vẫn còn được treo  ở  nhiều nơi, nhất là trong những gia đình sành   nghệ  thuật. Quái lạ, tuy là  ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn   thấy hiện lên cái   màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ  tôi nhìn   thấy từ  bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ  tôi cũng thấy người   đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao   lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa   thân dưới  ướt sũng, khuôn mặt rỗ  đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ  
  14. bước từng bước chậm rãi, bàn chân giậm lên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn   trong đám đông… (Trích Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12, Tập hai,  NXB Giáo dục Việt Nam 2008, tr.77 ­78). Phân tích cảm nhận của nghệ sĩ Phùng trong đoạn trích trên. Từ đó nhận   xét quan niệm nghệ thuật của nhà văn được thể hiện qua tác phẩm.  Đề thi thử THPT môn Văn năm 2021 chuyên Lam Sơn lần 1: Sóng nước như  thể  quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối   vào bụng và hông thuyền. Có lúc chúng đội cả  thuyền lên. Nước bám lấy   thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước   vang trời thanh la não bạt. Sóng thác đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả   cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò… Mặt sông   trong tích tắc lòa sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm   lửa vào đầu sóng. Nhưng ông đò cố  nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt   lấy cuống lái, mặt méo bệch đi như  cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn   tỉa, đòn âm vào chỗ hiểm. Tăng thêm mãi tiếng hỗn chiến của nước của thác   đá. Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ  huy ngắn gọn   tỉnh táo của người cầm lái. Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất.   Không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn   chiến thuật. Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Ông đã   thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này. Vòng đầu vừa   rồi, nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ   phía tả ngạn sông. Vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con   thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua bờ hữu ngạn. Cưỡi lên thác Sông   Đà, phải cưỡi đến cùng như  là cưỡi hổ. Dòng thác hùm beo đang hồng hộc   tế mạnh trên sông đá. Nắm chặt lấy cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì   cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà   lái miết một đường chéo về  phía cửa đá ấy. Bốn năm bọn thủy quân cửa ải   nước bên bờ  trái liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử. Ông đò   vẫn nhớ  mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè   sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến. Những luồng tử đã bỏ  hết lại sau   thuyền. Chỉ còn vẳng tiếng reo hò của sóng thác luồng sinh. Chúng vẫn không   ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến  ở  cửa vào đã tiu   nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng vào cửa sinh nó   trấn lấy. Còn một trùng vây thứ  ba nữa. Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là   luồng chết cả. Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ   của con thác. Cứ  phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút   qua cổng đá cánh mở cánh khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong   cùng, thuyền như  một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa   tự động lái được lượn được. Thế là hết thác.
  15. (Trích  Người lái đò Sông Đà  – Nguyễn Tuân,  Ngữ  văn 12, Tập một, NXB  Giáo dục Việt Nam, 2014, tr.189 – 190). Cảm nhận của anh/chị  về hình tượng người lái đò Sông Đà trong đoạn trích   trên. Từ đó nhận xét về cách nhìn người của nhà văn Nguyễn Tuân. 2.2. Nhận xét 2.2.1. Đặc điểm cấu trúc, nội dung đề thi Ngữ văn hiện nay       Từ năm 2015 đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương gộp kì thi TN   THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng lại làm một, gọi là kì thi TN THPT  Quốc gia. Vì vậy, nội dung và cấu trúc đề thi môn Ngữ văn có những sự thay   đổi khá căn bản so với đề  thi từ  năm 2014 trở  về  trước. Trước mỗi kì thi  chính thức của mỗi năm học, Bộ  GD&ĐT đã phổ  biến Đề  thi minh hoạ (đó  được coi là một điểm tựa dự kiến về hình thức của đề sẽ được ra trong kì thi  chính thức). Đặc biệt, từ năm 2017 đến nay, đề  thi TN THPT Quốc gia (năm  2020, năm 2021  là kì thi TN THPT) của Bộ  GD&ĐT đang giữ  hình thức và  tính chất ra đề tương đối ổn định. Vừa qua, Bộ GD&ĐT chính thức công bố  đề  tham khảo cho kì thi TN THPT năm học 2021 ­ 2022, theo đó, về  cơ  bản   vẫn được giữ tương đối ổn định như các kì thi trước đây và đề thi TN THPT   năm 2020 ­ 2021. Theo đó, đề  thi chính thức của môn Ngữ  văn dành cho kì thi TN THPT   gồm   có   hai   phần: Đọc­   hiểu (3,0   điểm)   và Làm   văn (7,0   điểm).   Riêng  phần Làm   văn có   hai   câu: Nghị   luận   xã   hội (2,0   điểm)   và Nghị   luận   văn   học (5,0 điểm). Phần Đọc­ hiểu của đề  thi hoàn toàn nằm ngoài SGK. Qua khảo sát đề  thi Ngữ  văn chính thức các năm cho thấy, n guồn ngữ  liệu dùng cho câu hỏi  Đọc ­  hiểu rất đa dạng và văn bản được chọn có thể  là văn bản mà thí sinh  chưa từng được làm quen. Phần Làm  văn trong   đề   thi   có   một   câu NLXH và   một câu  NLVH.  Câu NLXH đòi hỏi thí sinh viết đoạn văn khoảng 200 chữ bàn về một vấn đề  về tư tưởng đạo lí hoặc hiện tượng đời sống có liên quan mật thiết đến văn  bản Đọc ­ hiểu ở phần I của đề. Câu NLVH với các kiểu bài đa dạng, kiến thức được sử  dụng chủ  yếu   nằm ở  một hoặc một số tác phẩm trong chương trình Ngữ văn lớp 12, không  kể phần học thêm, văn học nước ngoài và phần nằm trong kế hoạch tinh giản   của Bộ GD&ĐT. Ngoài đặc điểm hình thức, cấu trúc đề  thi môn Ngữ  văn, tính chất của   đề  thi  TN THPT  cũng  dần có những thay đổi mới mẻ, tiến bộ  theo hướng  “mở”. Đề  văn “mở” tạo cho thí sinh cơ  hội thể  hiện mình, bộc lộ  tinh thần  chủ  động trước những vấn đề  đặt ra trong cuộc sống. Đồng thời, hướng ra   đề  này cũng đã khắc phục khoảng cách giữa kiến thức văn chương với đời  sống hàng ngày.
  16. Từ  thực tiễn đề  thi của Bộ  GD&ĐT, ta thấy việc  dạy học  theo định  hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh đang ngày càng hiện diện rõ  hơn trong công việc ra đề. Để đáp ứng được những yêu cầu của đề thi đặt ra,  học sinh cần rèn luyện năng lực Đọc  ­ hiểu văn bản, bồi dưỡng, phát triển  năng lực thẩm mĩ, năng lực giao tiếp xã hội  của bản thân mình. Đồng thời,  giáo viên cũng dựa trên cách thức ra đề đó để hướng dẫn học sinh làm bài thi  hiệu quả, khoa học, đạt kết quả cao. 2.2.2. Câu Nghị  luận văn học và dạng bài Nghị luận về  một tác phẩm /đoạn  trích văn xuôi Câu hỏi cuối cùng trong đề thi là câu NLVH (câu 2 của phần Làm văn),  là câu có điểm  số  cao nhất trong toàn bài (5 điểm), cũng là câu phải dành  nhiều thời  gian  làm  bài  nhất. Dựa  trên  sự   thống  kê các  kiểu  dạng  đề  ra  thường   gặp   trong   nhiều   năm   trở   lại   đây,   để   làm   tốt câu   NLVH,   thí   sinh  cần học kĩ các tác giả, tác phẩm của văn học Việt Nam hiện đại có trong  chương trình Ngữ văn lớp 12, có thể bỏ các đơn vị bài học thêm, văn bản văn  học nước ngoài và phần nằm trong chương trình tinh giản của Bộ. Học sinh  cần nắm vững cách thức làm các dạng bài khác nhau xoay xung quanh những  tác phẩm đã học. Đồng thời, học sinh  cũng cần tìm hiểu thêm phần mở rộng   liên hệ, đối sánh giữa các đối tượng, liên hệ  đến suy nghĩ, trách nhiệm cá  nhân đến những vấn đề  được đặt ra trong đề  thi. Phần kiến thức về  nhiều  thời kì văn học, loại hình văn học, kiến thức về  lí luận văn học  cũng không  thể bỏ qua. Qua phân tích, tổng hợp từ các đề  thi từ  năm 2017 trở lại đây, dạng câu  NLVH  thường xoay xung quanh  2  dạng bài cụ  thể: Nghị  luận  về  một tác  phẩm/ đoạn trích văn xuôi; Dạng bài Nghị  luận  về  một đoạn trích/ một tác  phẩm thơ. Còn dạng đề Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học ít xuất hiện.      Về dạng bài Nghị luận về một tác phẩm/ đoạn trích văn xuôi : Trong thời  gian 120 phút, ngoài hai câu hỏi Đọc­ hiểu và NLXH, đề  thi rất khó có khả  năng ra dạng bài nghị  luận  theo kiểu cảm nhận/ trình bày suy nghĩ  về  nội  dung và nghệ  thuật của cả  một tác phẩm văn xuôi trọn vẹn trong chương  trình Ngữ  văn THPT (chủ  yếu là khối 12), bởi các văn bản này  khá dài và  không dễ  để  có thể  cảm nhận đầy đủ,  hoàn chỉnh trong thời gian ngắn. Vì  vậy, đề phần lớn sẽ yêu cầu học sinh đi sâu tìm hiểu một khía cạnh, một vấn  đề cụ  thể trong một đoạn trích của tác phẩm. Cách ra đề  hoàn toàn phù hợp  với năng lực của tất cả các đối tượng học sinh, kể cả các em có học lực trung   bình. Tất nhiên ở mỗi câu hỏi đều có cách thức hỏi riêng để phân hóa trình độ  học sinh. Thực tế  đã chứng minh, đề  thi TN THPT nhiều năm gần đây chỉ  xoay xung quanh những vấn đề  cụ  thể  trong các văn bản như  tình huống,   nhân vật, diễn biến tâm lí nhân vật, một đặc điểm nào đó của nhân vật trong  đoạn trích.  Theo thống kê khảo sát  ở  phần 2.1 trên đây, dạng bài  Nghị  luận về một  tác phẩm/ đoạn trích văn xuôi 5 năm trở  lại đây thường có các dạng câu hỏi  như  sau: cho một đoạn trích trong một văn bản văn xuôi trong chương trình: 
  17. yêu cầu phân tích/ cảm nhận đoạn trích và nhận xét; phân tích/ cảm nhận một  khía cạnh nội dung của đoạn trích và nhận xét; phân tích/ cảm nhận một khía  cạnh nghệ thuật của đoạn trích và nhận xét.  Ví dụ đề thi THPT Quốc gia chính thức năm 2019:       Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình   như  chỉ  sông Hương là thuộc về  một thành phố  duy nhất. Trước khi về  đến   vùng châu thổ  êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ   giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn   lốc vào những đáy vực bí  ẩn, và cũng có lúc nó trở  nên dịu dàng và say đắm   giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ  của hoa đỗ  quyên rừng. Giữa lòng   Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời mình như một cô gái Di­ gan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan   dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Nhưng chính rừng già nơi đây, với cấu   trúc đặc biệt có thể lí giải được về mặt khoa học, đã chế ngự sức mạnh bản   năng  ở  người con gái của mình để  khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh   chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của   một vùng văn hóa xứ  sở. Nếu chỉ  mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành   của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất sông   Hương với cuộc hành trình gian truân mà nó vượt qua, không thấu hiểu phần   tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng   kín  cửa   rừng   và  ném   chìa   khóa  trong   những  hang   đá  dưới  chân   núi  Kim   Phụng. (Ai đã đặt tên cho dòng sông ?  Hoàng Phủ  Ngọc Tường,  Ngữ  văn 12,  Tập  một, NXB Giáo dục Việt Nam, tr. 198)        Cảm nhận của anh/chị về hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên.   Từ  đó nhận xét cách nhìn mang tính phát hiện  về  dòng sông của nhà văn  Hoàng Phủ Ngọc Tường.  Đề  trên có hai yêu cầu: Cảm nhận hình tượng sông Hương trong đoạn  trích đã cho sẽ  là yêu cầu chính, phù hợp cho tất cả  đối tượng học sinh và   thường chiếm tỉ lệ điểm cao hơn. Yêu cầu phụ là phần nhận xét phía sau: Từ   đó nhận xét cách nhìn mang tính phát hiện về dòng sông của nhà văn dùng để  phân hóa, dành cho đối tượng học sinh khá giỏi, và cũng chiếm tỉ  lệ  điểm ít   hơn trong tổng số 5 điểm của câu NLVH.  Phần nhận xét dùng để  phân hóa học sinh rất đa dạng, không cố  định,  tùy thuộc vào đoạn trích/ văn bản trước đó có thể  mở  rộng đào sâu thêm về  vấn đề gì.  Có khi yêu cầu  nhận xét mở rộng hơn để có cái nhìn toàn diện về   đối tượng được phân tích/ cảm nhận phía trước đó. Ví dụ  Đề thi thử  THPT  môn Văn năm 2021 Sở GD Nam Định:       Sáng hôm sau, mặt trời lên bằng con sào, Tràng mới trở dậy. Trong người   êm ái lửng lơ như người mới ở trong giấc mơ đi ra. Việc hắn có vợ đến hôm   nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải.
  18. Hắn chắp hai tay sau lưng lững thững bước ra sân. Ánh nắng buổi sáng   mùa hè sáng lóa xói vào hai con mắt còn cay sè của hắn. Hắn chớp chớp liên   hồi mấy cái, và bỗng chợt nhận ra xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi   mới mẻ, khác lạ. Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn   sạch sẽ gọn gàng. Mấy chiếc quần áo rách như tổ  đỉa vẫn vắt khươm mươi   niên  ở  một góc nhà đã thấy đưa ra sân hong. Hai cái ang nước vẫn để  khô   cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp. Đống rác mùn tung bành ngay lối   đi đã hót sạch.      Ngoài vườn người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở. Vợ   hắn quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất. Cảnh   tượng thật đơn giản, bình thường nhưng đối với hắn lại rất thấm thía cảm   động. Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ   lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy. Cái nhà   như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột   tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có   bổn phận phải lo lắng cho vợ  con sau này. Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân,   hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà. (Trích Vợ  nhặt ­ Kim Lân, Ngữ văn 12, Ngữ  văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục  Việt Nam 2019). Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Tràng trong đoạn trích trên.  Từ đó  nhận xét về sự thay đổi của nhân vật Tràng trong đoạn trích.     Hoặc phần nhận xét cũng có thể yêu cầu cảm nhận mở rộng về đặc điểm   phong cách nghệ thuật, quan niệm sáng tác hay tấm lòng của nhà văn gửi gắm   vào tác phẩm. Ví dụ Đề thi thử THPT môn Văn năm 2021 chuyên Hùng Vương,  Gia Lai:       Không những trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp của   tôi vẫn còn được treo  ở  nhiều nơi, nhất là trong những gia đình sành nghệ   thuật. Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy hiện   lên cái  màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe   tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang   bước ra khỏi tấm  ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những   đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt   sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước từng bước   chậm rãi, bàn chân giậm lên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông… (Trích  Chiếc thuyền ngoài xa  – Nguyễn Minh Châu,  Ngữ  văn 12,  Tập hai,  NXB Giáo dục Việt Nam 2008, tr.77 ­78). Phân tích cảm nhận của nghệ sĩ Phùng trong đoạn trích trên.  Từ đó nhận xét  quan niệm nghệ thuật của nhà văn được thể hiện qua tác phẩm. Hay Đề minh họa của Bộ GDĐT năm 2021:
  19.      Phải nhiều thế kỉ qua đi, người tình mong đợi mới đến đánh thức người   gái đẹp nằm ngủ  mơ  màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại. Nhưng   ngay từ đầu vừa ra khỏi vùng núi, sông Hương đã chuyển dòng một cách liên   tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật   mềm, như một cuộc kiếm tìm có ý thức để đi tới gặp thành phố tương lai của   nó. Từ  ngã ba Tuần, sông Hương theo hướng nam bắc qua điện Hòn Chén;   vấp   Ngọc   Trản,   nó   chuyển   hướng   sang   tây   bắc,   vòng   qua   thềm   đất   bãi   Nguyệt Biều, Lương Quán rồi đột ngột vẽ  một hình cung thật mềm về  phía   đông bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, xuôi dần về Huế. Từ Tuần về đây, sông   Hương vẫn đi trong dư  vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu   dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanah thẳm, và từ đó nó trôi đi   giữa hai dãy đồi sừng sững như  thành quách, với những điểm cao đột ngột   như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo mà từ  đó, người ta luôn nhìn thấy dòng   sông mềm như  một tấm lụa, với những chiếc thuyền bé chỉ  vừa bằng con   thoi. Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc   trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người   Huế thường miêu tả. Giữa đám quần sơn lô xô ấy, là giấc ngủ nghìn năm của   những vua chúa được phong kín trong những rừng thông u tịch và niềm kiêu   hãnh âm u của những lăng tẩm đồ  sộ  tỏa lan khắp một vùng thượng lưu   “Bốn bề núi phủ mây phong – Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng Vạn Niên”. Đó   là vẻ  đẹp trầm mặc nhất của sông Hương, như  triết lí, như  cổ  thi, kéo dài   mãi đến lúc mặt nước phẳng lặng của nó gặp tiếng chuông chùa Thiên Mụ   ngân nga tận bờ bên kia giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà… (Ai đã đặt tên cho dòng sông ?  Hoàng Phủ  Ngọc Tường,  Ngữ  văn 12,  Tập  một, NXB Giáo dục Việt Nam, tr. 198 ­ 199) Phân tích hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên.  Từ  đó nhận xét về  tính trữ tình của bút kí Hoàng Phủ Ngọc Tường. Đề thi thử THPT môn Văn năm 2021 chuyên Lam Sơn lần 1:       Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối   vào bụng và hông thuyền. Có lúc chúng đội cả  thuyền lên. Nước bám lấy   thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước   vang trời thanh la não bạt. Sóng thác đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất, cả   cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò… Mặt sông   trong tích tắc lòa sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm   lửa vào đầu sóng. Nhưng ông đò cố  nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt   lấy cuống lái, mặt méo bệch đi như  cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn   tỉa, đòn âm vào chỗ hiểm. Tăng thêm mãi tiếng hỗn chiến của nước của thác   đá. Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ  huy ngắn gọn   tỉnh táo của người cầm lái. Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất.   Không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn   chiến thuật. Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Ông đã  
  20. thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này. Vòng đầu vừa   rồi, nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ   phía tả ngạn sông. Vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con   thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua bờ hữu ngạn. Cưỡi lên thác Sông   Đà, phải cưỡi đến cùng như  là cưỡi hổ. Dòng thác hùm beo đang hồng hộc   tế mạnh trên sông đá. Nắm chặt lấy cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì   cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà   lái miết một đường chéo về  phía cửa đá ấy. Bốn năm bọn thủy quân cửa ải   nước bên bờ  trái liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử. Ông đò   vẫn nhớ  mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè   sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến. Những luồng tử đã bỏ  hết lại sau   thuyền. Chỉ còn vẳng tiếng reo hò của sóng thác luồng sinh. Chúng vẫn không   ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến  ở  cửa vào đã tiu   nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng vào cửa sinh nó   trấn lấy. Còn một trùng vây thứ  ba nữa. Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là   luồng chết cả. Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ   của con thác. Cứ  phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút   qua cổng đá cánh mở cánh khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong   cùng, thuyền như  một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa   tự động lái được lượn được. Thế là hết thác. (Trích  Người lái đò Sông Đà  – Nguyễn Tuân,  Ngữ  văn 12, Tập một, NXB  Giáo dục Việt Nam, 2014, tr.189 – 190).     Cảm nhận của anh/chị về hình tượng người lái đò Sông Đà trong đoạn trích   trên. Từ đó nhận xét về cách nhìn người của nhà văn Nguyễn Tuân.       Đề thi thử THPT môn Văn năm 2021 của Trường THPT chuyên Lam Sơn  lần 1 sau khi yêu cầu học sinh cảm nhận về hình tượng người lái đò sông Đà  trong đoạn trích yêu cầu nhận xét về cách nhìn người của nhà văn Nguyễn  Tuân.       Để  làm tốt phần nâng cao có tính chất phân hóa này thí sinh cần có vốn   kiến thức sâu rộng về  tác giả  như: quan điểm nghệ  thuật, phong cách sáng  tác, quan điểm và cách tiếp cận con người, cuộc sống cùng với vị  trí chỗ  đứng của tác giả  đó trong lịch sử  văn học dân tộc. Về  tác phẩm, cần nắm   chắc kiến thức toàn bộ văn bản, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật, cũng như  chiều sâu tư tưởng và thành công nghệ thuật mà nhà văn gửi gắm.  Với dạng bài này, cần thời gian ôn tập, luyện đề  bền bỉ, làm bài trong  một thời gian dài mới có thể tiến bộ được. Tôi thường hướng dẫn HS: Nắm chắc vê kiên th ̀ ́ ưć : Những tác phẩm văn học đã được học trong  chương trình SGK Ngữ văn, nhất là SGK Ngữ văn 12. Vê ki năng: ̀ ̃  tôi cũng luôn nhắc nhở HS cần năm v ́ ưng cac thao tac lâp ̃ ́ ́ ̣   ̣ luân nh ư: giai thich, phân tich, ch ̉ ́ ́ ưng minh, so sanh, binh luân, bac bo, tông ́ ́ ̀ ̣ ́ ̉ ̉  
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2