intTypePromotion=1

SKKN: Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4 ở trường PTDTBT

Chia sẻ: Trần Văn An | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:30

0
8
lượt xem
0
download

SKKN: Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4 ở trường PTDTBT

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu đề tài: Giúp học sinh nắm chắc chắn đặc điểm của văn miêu tả ở lớp 4 là rất cần thiết và quan trọng. Có hiểu biết về văn miêu tả thì học sinh mới vận dụng linh hoạt kiến thức, vốn sống, vốn ngôn ngữ của mình đúng cách trong viết văn miêu tả. Từ đó học sinh sử dụng có hiệu quả các biện pháp như so sánh, nhân hóa, thể hiện đước cái nhìn thiện cảm, tình cảm, nội tâm của mình vào bài làm. Sử dụng từ ngữ miêu tả trong sáng, một cái nhìn tinh tế, bài viết sinh động và gần gủi với đời sống của học sinh hơn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4 ở trường PTDTBT

“MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LÀM VĂN <br /> MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4 Ở TRƯỜNG PTDTBT”<br /> 1. PHẦN MỞ ĐẦU<br /> 1.1 Lý do chọn đề tài, sáng kiến, giải pháp:<br /> Tiếng Việt là tiếng phổ  thông của dân tộc Việt Nam. Trong nhà trường <br /> Tiểu học, Tiếng Việt là đối tượng mà học sinh cần chiếm lĩnh. Đồng thời, cũng <br /> là một môn học được gọi là môn Tiếng Việt. Môn Tiếng Việt  ở  bậc Tiểu học  <br /> có nhiệm vụ  hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng: nghe, nói, đọc,  <br /> viết để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động, góp phần rèn luyện các <br /> thao tác tư duy. Môn Tiếng Việt còn cung cấp cho học sinh những kiến thức ban  <br /> đầu về  vốn từ, vốn sống, những kĩ năng cơ  bản nhất trong giao tiếp. Học tập  <br /> môn này, học sinh còn được bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt, hình thành thói quen <br /> giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân  cách con người <br /> Việt Nam.<br /> Trong chương trình Tiểu học mới, Tiếng Việt được chia thành các phân <br /> môn, mỗi phân môn có nhiệm vụ  rèn luyện cho học sinh những kĩ năng nhất <br /> định. Phân môn Tập làm văn là phân môn mang tính tổng hợp cao nhất, nó có vai <br /> trò rèn cho học sinh cả bốn kĩ năng, trong đó quan trong là các kĩ năng nghe, nói, <br /> viết. Đối với phân môn này, các em được rèn luyện năng lực trình bày  ở  dạng  <br /> văn bản  với nhiều thể loại khác nhau.<br /> Với học sinh lớp 4, việc rèn kĩ năng làm văn miêu tả  cho các em là cần <br /> thiết. Học tốt văn miêu tả sẽ là điều kiện thuận lợi để học tốt các môn học khác <br /> ở Tiểu học và học tiếp lên các lớp trên. Việc giúp các em hoàn thành tốt bài văn <br /> miêu tả sẽ góp phần nâng cao năng lực viết, cảm thụ văn học, giúp các em khám  <br /> phá được những cái hay cái đẹp viết được bài văn với ngôn ngữ  trong sáng, lời  <br /> hay ý đẹp, xây dựng văn bản khúc chiết.<br /> <br /> <br /> 1<br />                                                                                                  <br /> Qua thực tế  giảng dạy và quản lý tại trường PTDTBT hơn 10 năm, tôi <br /> nhận thấy phân môn Tập làm văn là phân môn khó nhất trong các phân môn của  <br /> môn Tiếng Việt, trong đó kĩ năng viết văn miêu tả của học sinh dân tộc Bru­ Vân  <br /> Kiều còn bọc lộ  những hạn chế  nhất định. Để  thực hiện được mục tiêu của <br /> phân môn Tập làm văn là phải xây dựng được kĩ năng nói và viết thành thạo, các <br /> em cần huy động tất cả  các kiến thức của các phân môn Tập đọc, Chính tả,  <br /> Luyện từ  và câu, Kể chuyện, và các môn khoa học khác…Trong khi đó, các em  <br /> học yếu thì rất “chán” học phân môn tập làm văn.<br /> Nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng <br /> dạy học trong nhà trường nói chung, dạy cho học sinh lớp 4 học tốt hơn văn <br /> miêu tả  nói riêng, tôi mạnh dạn đưa ra SKKN của mình với đề  tài: “Một số  <br /> biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4 ở  <br /> trường PTDTBT”.<br /> 1.2 Điểm mới của đề tài, sáng kiến:<br /> Điểm mới của “ Sáng kiến một số giải pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất  <br /> lượng làm văn miêu tả lớp 4 ở trường PTDTBT ”. Từ thực trạng của học sinh là  <br /> học sinh dân tộc Bru­ Vân Kiều ở trường còn hạn chế về làm văn miêu tả. Nâng <br /> cao chất lượng làm văn miêu tả  còn thể  hiện  ở  sự  đồng bộ, thống nhất trong <br /> công tác quản lý chỉ đạo đối với tổ, khối, đến giáo viên. Chuyên môn phải tăng <br /> cường chỉ  đạo thực hiện sinh hoạt chuyên môn với hình thức đi sâu vào từng  <br /> chuyên đề cụ  thể của phân môn tập làm văn. Tăng cường công tác chỉ  đạo dạy <br /> học về phương pháp dạy kiểu bài tập làm văn miêu tả theo một trình tự hợp lý, <br /> bằng các cách khác nhau, phát hiện được đặc điểm, phân biệt đồ vật này với đồ <br /> vật khác, tả  cây cối, tả  loài vật, mỗi loại có sự  khác nhau về  không gian thời <br /> gian, tình cảm của con người với cảnh vật, đồ  vật, loài vật. Mà điều cốt lõi và <br /> sự khác biệt đối với đối tượng học sinh dân tộc Bru­ Vân Kiều là phải trực quan <br /> sinh động, gần gủi đến cụ thể trong quá trình hình thành kiến thức cho học sinh. <br /> Đối với học sinh của đơn vị là vùng khó, vùng đặc biệt khó khăn, việc tiếp nhận <br /> 2<br />                                                                                                  <br /> tri thức cũng như  nhận thức của học sinh còn những hạn chế  nhất định. Nhằm <br /> khắc phục những nhược điểm đó tăng cường dạy học tích hợp Tiếng Việt cho  <br /> học sinh dân tộc từ lớp 3 đến lớp 5. Điểm khác biệt nữa là giáo viên dạy tiếng <br /> Việt lớp 4 cũng yêu cầu phải thông hiểu tiếng Bru­ Vân Kiều bằng cách tự học  <br /> và nhà trường gửi đi đào tạo, ở huyện hay tỉnh. Sáng kiến đưa ra được một giải <br /> pháp có tính ưu việt là tích lũy vốn từ, kiến thức văn học, sổ tay chính tả, sổ tay  <br /> văn học nhằm giúp học sinh chắt lọc các từ ngữ hay, những hình ảnh ấn tượng,  <br /> sinh động, những câu văn câu thơ giàu hình ảnh, từ đó các em “giàu” vốn từ, vốn <br /> sống khi viết văn. Bố trí đội ngũ phù hợp với năng lực sở  trường của giáo viên, <br /> giao trách nhiệm cho những giáo viên thực sự  có có năng khiếu, năng lực về <br /> tiếng Việt đảm nhận dạy phân môn tiếng Việt của khối 4,5.Từ đó giáo viên có <br /> thời gian nghiên cứu kĩ bài dạy, soạn giảng có chiều sâu hơn, chất lượng bài <br /> soạn được nâng cao do đó chất lượng dạy phân môn tập làm văn đối với dạng <br /> bài miêu tả mới đạt được kết quả như mong muốn.<br /> 1.3 Phạm vi áp dụng đề tài, sáng kiến:<br />  Tập trung nghiên cứu một số  giải pháp chỉ  đạo nâng cao chất lượng kĩ  <br /> năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4 ở trường PTDTBT, thực hiện trong nội  <br /> bộ  trường PTDTBT, đã và đang áp dụng   triển khai dạy học trong những năm <br /> học vừa qua, có thể  vận dụng dạy học  ở địa bàn khó khăn,có những đặc điểm <br /> tương đồng, đối tượng là học sinh dân tộc Bru­ Vân Kiều.<br /> 2.Phần nội dung<br /> 2.1. Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu:<br />        Trường vừa mới được thành lập cách đây vừa tròn 13 năm, đến nay cơ sở <br /> vật chất phòng học cơ bản đã đáp ứng được theo yêu cầu, trang thiết bị dạy học <br /> vẫn chưa đáp ứng đủ  nhu cầu dạy học. Đặc biệt trường đóng chân trên địa bàn  <br /> xã biên giới vùng đặc biệt khó khăn có 100% học sinh là con em dân tộc Bru­Vân  <br /> Kiều. Đa số các học sinh đều nói tiếng mẹ đẻ  tiếng Bru­ Vân Kiều, tiếng Việt  <br /> còn nhiều hạn chế, vốn từ ngữ của các em còn nghèo, vẫn còn bất đồng về ngôn <br /> 3<br />                                                                                                  <br /> ngữ  đặc biệt là học sinh mới vào lớp 1. Đời sống kinh tế  của nhân dân còn <br /> nhiều thiếu thốn, có nhiều hộ  nghèo, đứt bữa còn phụ  thuộc vào các nguồn trợ <br /> cấp của Nhà nước. Phụ  huynh chưa thật quan tâm nhiều đến việc học tập của <br /> con em. Địa hình hiểm trở, có nhiều khe suối rất nguy hiểm khi đi lại vào mùa <br /> mưa. Các bản sống biệt lập, cách   xa trung tâm xã từ  7km đến 20 km đường <br /> rừng . Mật độ dân cư sinh sống thưa thớt, độ tuổi của học sinh ở các bản không  <br /> đồng đều. Do đó các em ở bản xa không có điều kiện gặp gỡ giao lưu, học hỏi  <br /> các bạn ở vùng thuận lợi.Thậm chí nơi các em sinh sống vẫn chưa có điện lưới, <br /> chưa hưởng được niềm hạnh phúc trọn vẹn. Cái nhu cầu tối thiểu ấy thôi tưởng <br /> chừng như  đơn giản, tầm thường với chúng ta, nhưng các em đâu xem được <br /> những chương trình thiếu nhi, phim hoạt hình hay là những buổi biểu diễn văn <br /> nghệ  của các bạn cùng trang lứa, những buổi tối xem truyền hình trực tiếp <br /> những chương trình lớn nói về cuộc sống, kinh tế xã hội, văn học, thơ ca, nhạc <br /> họa... Thì các em đâu dễ  gì có “vốn sống”, vốn từ  phong phú, bóng bẩy được. <br /> Chính những yếu tố đó thôi cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, kĩ năng <br /> viết tập làm văn nói chung và làm văn miêu tả nói riêng.  <br />   2.2. Chất lượng học sinh.<br />  Nhìn chung chất lượng dạy học của nhà trường trong những năm gần đây <br /> đã có những bước tiến vượt bậc về nhiều mặt. Nhưng để so sánh với các đợn vị <br /> ở vùng thuận lợi thì ở một số học sinh , một số kỹ năng vẫn chưa hoàn thành về <br /> chuẩn kiến thức kĩ năng của môn học. <br /> Các kỹ  năng cơ  bản (nghe, nói, đọc, viết) cơ  bản hoàn thành, chất lượng <br /> làm bài viết hay, có sáng tạo, dùng từ ngữ mạch lạc còn khiêm tốn. Học sinh đọc <br /> vẫn còn sai dấu thanh do phương ngữ, viết còn sai về  lỗi dùng từ  và khả  năng <br /> diễn đạt, vốn từ  còn “nghèo”, tư  duy còn hạn chế, ít sáng tạo. Chất lượng về <br /> các bài tập làm văn chưa cao, vẫn còn những hạn chế  nhất định, dạng bài văn  <br /> miêu tả ở lớp 4 cơ bản vẫn còn thấp hơn so với các trường ở vùng thuận lợi.<br /> <br /> <br /> 4<br />                                                                                                  <br /> Trong ngôn ngữ và lối diễn đạt lúng túng, vẫn còn mang nặng tính chất đặc <br /> thù của địa phương (phương ngữ).<br /> Học văn miêu tả, làm văn miêu tả nhưng nhiều học sinh lại thiếu vốn sống  <br /> thực tế nên dẫn đến một số tình huống hay gặp trong dạy học văn miêu tả như: <br /> Học sinh  làm bài văn rất ngắn­ khoảng 8, 10 dòng; các em sử  dụng các gợi ý <br /> của giáo viên hay sử dụng các đoạn văn mẫu để viết. Tiếng Việt là tiếng nói để <br /> giao tiếp của các em  nhưng vốn Tiếng Việt lại rất hạn chế. Trong khi đó, việc  <br /> học kiểu bài miêu tả trong phân môn Tập làm văn lớp 4 lại yêu cầu vốn từ ngữ,  <br /> năng lực tư duy rất lớn. Vốn từ của các em chưa phong phú, chưa hiểu hết nghĩa <br /> của từ nên việc vận dụng vào bài làm còn  sai sót.<br /> <br /> <br /> BẢNG 1:<br />  CHẤT LƯỢNG KHẢO SÁT <br /> Năm học: 2014­2015<br /> <br /> <br /> Tổng  Hoàn thành Chưa hoàn thành Ghi chú<br /> Lớp số học <br /> SL % SL %<br /> sinh<br /> 4A 16 13 81,25 3 18,75<br /> 4B 22 17 77,3 5 22,7<br /> <br /> <br />  2.3. Đội ngũ giáo viên:<br /> Đội ngũ giáo viên trong trường phần lớn là giáo viên trẻ  chưa có nhiều kinh  <br /> nghiệm trong việc đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là kinh nghiệm dạy  <br /> học tập làm văn và kĩ năng viết văn miêu tả, dạy học sinh vùng cao con em đồng <br /> bào dân tộc Bru­ Vân Kiều. Nhiều giáo viên chưa thông hiểu tiếng dân tộc cũng <br /> như  chưa nắm bắt hết phong tục tập quán của bà con, nên cũng  ảnh hưởng <br /> không nhỏ  đến việc nâng cao chất lượng dạy học phân môn tập làm văn nói  <br /> riêng và dạy học các phân môn khác. Việc vận dụng dạy học tích hợp chưa <br /> <br /> 5<br />                                                                                                  <br /> được giáo viên vận dụng triệt để nên lượng kiến thức, kĩ năng cung cấp cho các <br /> em trong một tiết Tập làm văn thường rất lớn, nhiều lúc dẫn đến tình trạng quá <br /> tải trong tiết học. Giáo viên đã có nhiều cố  gắng trong việc đổi mới phương <br /> pháp dạy học nhưng  đổi mới chưa thật mạnh   mẽ  mà còn “ e ngại” không <br /> “thoát li” các gợi ý của sách giáo khoa, vẫn bó buộc trong khuôn mẫu.<br />      Chính vì thế  mà việc bồi dưỡng về  chuyên môn nghiệp vụ  để  nâng cao tay  <br /> nghề  cho giáo viên đã và đang được bộ  phận chuyên môn, nhà trường hết sức <br /> chú trọng. Do đó trong năm học 2014­ 2015 đội ngũ giáo viên của nhà trường đã <br /> có sự tiến bộ vượt bậc về chuyên môn, kinh nghiệm dạy học tập làm văn được <br /> nâng lên và đặc biệt là dạy học làm văn miêu tả  ở  học sinh lớp 4, được đầu tư <br /> đúng mức.<br /> <br /> <br /> 2.4. “Một số giải pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng làm văn miêu <br /> <br /> tả cho học sinh lớp 4 ở trường PTDTBT”.<br /> Giải pháp thứ nhất:<br /> <br /> Giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ đặc điểm cơ bản của văn <br /> miêu tả ở lớp 4 là như thế nào?<br /> Từ điển Tiếng Việt do Hoàng phê chủ biên định nghĩa: Miêu tả là dùng <br /> ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho con người khác có <br /> thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người.<br /> Nhà văn Phạm Hổ: “ Miêu tả là khi đọc những gì chúng ta biết, người đọc <br /> như thấy cái đó hiện ra trước mắt mình: một con người, con vật, một dòng sông, <br /> người đọc còn có thể nghe được cả tiếng nói, tiếng kêu, tiếng nước chảy, thậm <br /> chí còn ngửi thấy mùi hôi, mùi sữa, mùi hương hoa hay mùi rêu, mùi ẩm mốc,…<br /> nhưng đó mới chỉ là miêu tả bên ngoài, còn sự miêu tả bên trong nữa là miêu tả <br /> tâm trạng vui, buồn, yêu, ghét của con người, con vật và cả cây cỏ.”<br /> <br /> <br /> 6<br />                                                                                                  <br /> Như vậy, miêu tả là loại văn dùng lời nói có hình ảnh và có cảm xúc làm <br /> cho người nghe người đọc, hình dung một cách rõ nét, cụ thể về người, vật, <br /> cảnh vật sự việc như nó vốn có trông đời sống. Một bài văn miêu tả hay, không <br /> những phải thể hiện rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể <br /> hiện ở trí tưởng tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết với đối tượng được <br /> miêu tả. Bởi vì trong thực tế không ai tả mà để tả, mà thường tả để gửi gắm <br /> suy nghĩ,cảm xúc sự đánh giá, những tình cảm yêu ghét cụ thể của mình. Các bài <br /> văn miêu tả ở tiểu học chỉ yêu cầu tả những đối tượng mà học sinh yếu mến, <br /> thích thú. Vì vậy qua bài làm của mình, các em phải gửi gắm tình yếu thương <br /> với những gì mình miêu tả.<br /> Đối tượng của văn miêu tả trong chương trình lớp 4 gồm có miêu tả đồ <br /> vật, cây cối, con vật.<br /> Tả đồ vật:<br /> Đối tượng của văn miêu tả đồ vật ở lớp 4 là những vật học sinh thường <br /> thấy trong đời sống hàng ngày của các em, vì vậy cũng trở thành gần gũi với các <br /> em. Đó có thể là cái bàn học, quyển sách, chiếc cặp, cái đồng hồ báo thức, chiếc <br /> thước kẻ, chiếc bút chì,cục tẩy,….Chúng là những đồ vật vô tri, vô giác nhưng <br /> gần gũi và có ích đối với học sinh.<br /> Mỗi đồ vật đều có một hình dáng, màu sắc, kích thước, chất liệu cụ thể. <br /> Học sinh miêu tả những đặc điểm này trong bài văn của mình. Với những đồ vật <br /> có nhiều bộ phận, các em cần tập trung tả những bộ phận quan trọng nhất. Đó <br /> chính là những nét tiêu biểu để phân biệt đồ vật này với đồ vật khác. Đồ vật <br /> thường gắn liền với cuộc sống con người nên khi miêu tả phải nói tới công <br /> dụng, lợi ích của đồ vật cũng như tình cảm của con người đối với nó. Có như <br /> vậy, đồ vật mới hiện lên một cách sinh động và có hồn.<br /> Tả cây cối:<br /> Đối tượng văn miêu tả cây cối là những cây trồng xung quanh nhà, trồng <br /> trên sân trường, trên đường đi, hay cả cánh rừng, gần gũi với học sinh hàng <br /> 7<br />                                                                                                  <br /> ngày…Đó có thể là một cây ăn quả, một loài hoa đẹp, cây bóng mát, cây lấy <br /> gỗ…những cây gần gũi và có ích đối với con người. Mỗi loài cây có một đặc <br /> điểm, hình dáng riêng, lợi ích nhất định. Vì vậy, khi miêu tả, hướng cho học sinh <br /> phải làm nổi bật những đặc điểm đó. Tả cây ăn quả cần tập trung miêu tả hình <br /> dáng của cây, mùi vị của quả, tả loài hoa, cần tả hương sắc của hoa, hình dáng <br /> của hoa…, tả cây bóng mát phải làm rỏ dáng cây, tán lá…<br /> Cây cối sống trông thiên nhiên, gần gũi với con người. Khi miêu tả, cần <br /> gắn chúng với cảnh vật xung quanh, như mặt trời, bóng mây, gió, nước, chim, <br /> sông, suối, ao, hồ, con đường, sân trường, vườn và con người luôn hiện hữu. <br /> Kèm theo đó là lợi ích của cây cối và tình cảm gắn bó của người tả đối với cây <br /> cối…<br /> Tả loài vật:<br /> Đối tượng của văn miêu tả loài vật là những con vật quen thuộc gần gũi <br /> với học sinh. Đó là con lợn, con bê, con gà, con cún con, con mèo, con khỉ, con <br /> gấu bông, con búp bê…Mỗi con vật đều có đặc điểm riêng về hình dáng, ngoại <br /> hình, đặc tính giống nòi riêng, thói quen riêng, tính cách của mỗi con vật luôn có <br /> sự khác biệt của mỗi loài vật. Khi miêu tả, hướng cho học sinh miêu tả cái <br /> chung và những nét riêng biệt, tiêu biểu của từng loài vật, màu sắc, vóc dáng, <br /> tính nết. Những con vật miêu tả là những con vật gần gũi thân thiết và có nhiều <br /> lợi ích, bài viết phải thể hiện được sự chăm sóc ân cần, chu đáo, thể hiện rỏ <br /> tình cảm yêu quý của học sinh đối với con vật mình tả.<br /> Bài văn miêu tả được xây dựng trên cơ sở những hình ảnh, những ấn <br /> tượng về đối tượng mà người viết thu lượm, cảm nhận được thông qua các giác <br /> quan của mình. Bài văn miêu tả mang tính chất nghệ thuật cao, mang tính sáng <br /> tạo, tính riêng biệt của người viết. Ngôn ngữ trong miêu tả là thứ ngôn ngữ <br /> nghệ thuật giàu sức gợi tả, gợi cảm và là ngôn ngữ của những biện pháp tu từ. <br /> Tả là mô phỏng, tô vẽ lại, là so sánh ví von, nhân hóa bằng hình ảnh…chứ <br /> không phải là kể lể.<br /> 8<br />                                                                                                  <br /> Văn miêu tả mang tính chất thông báo thẩm mĩ, dù miêu tả đối tượng nào, <br /> có bám sát thực tế đến đâu thì văn miêu tả cũng không bao giờ sao chép, chụp <br /> ảnh máy móc những sự vật hiện tượng mà là kết quả của sự nhận xét, tưởng <br /> tượng, đánh giá hết sức phong phú. Đó là sự miêu tả được cái mới, cái riêng biệt <br /> của đối tượng thông qua cảm nhận của mỗi người khi tả.<br /> Ví dụ: Nhà văn Thép Mới lại lấy cảm hứng của anh chiến sĩ đang mơ về tương <br /> lại của đất nước khi ngắm trăng trong bài Tập đọc Trung thu đọc lập (SGK <br /> TV4/T1 trang 66, 67). “Trăng sáng mùa thu vằng vặc chiếu khắp thành phố, làng <br /> mạc, núi rừng, nơi quê hương thân thiết của các em…”<br /> Ví dụ: Còn với Trần Đăng Khoa, một tài năng ở tuổi thiếu nhi, thì trăng không <br /> còn là lá lúa, chiếc câu liêm vàng, chiếc đĩa bạc… nữa, mà Trần Đăng khoa đã <br /> cảm nhận một cách tinh tế bằng tình yêu trăng của tâm hồn trẻ thơ, rất hồn <br /> nhiên và trong sáng: <br /> Trăng hồng lơ lửng trước nhà thơm ngon, ngọt mát nơi vườn quê<br /> Trăng hồng như quả chín<br /> Lơ lửng mà không rơi.<br /> Cùng là vầng trăng, hay một sự vật nhưng mỗi người cảm nhận theo cách <br /> riêng của mình, mà những người khác không phát hiện được hoặc chưa phát <br /> hiện.<br /> Văn miêu tả không hạn chế sự tưởng tượng, không ngăn cản sự sáng tạo của <br /> người viết, nhưng không có nghĩa là cho phép người viết “bịa” một cách tùy ý. <br /> Để tả hay, tả đúng thì cần phải trải nghiệm thực tế, chân thật. Giáo viên phải <br /> uốn nắn để học sinh không có thái độ, giả tạo, sáo rỗng, đến vô cảm, vô hồn <br /> trong miêu tả…<br /> Giải pháp thứ hai:<br />   Giải pháp chọn nhân tố điển hình trong đội ngũ để làm công tác nâng  <br /> cao chất lượng dạy học làm văn miêu tả ở lớp 4.<br /> <br /> <br /> 9<br />                                                                                                  <br /> Trong công tác phân công, bố trí đội ngũ đảm nhiệm các phần hành từ đầu  <br /> năm học, trong từng năm học. Với bản thân là phó hiệu trưởng phụ trách chuyên <br /> môn nên tôi nắm rất chắc chắn năng lực, sở trường, điểm mạnh, điểm hạn chế <br /> của từng giáo viên. Đồng thời với cương vị là chủ tịch Công đoàn trường nên tôi  <br /> đã tham mưu với đồng chí Hiệu trưởng bố  trí phân công phần hành nhiệm vụ <br /> phù hợp với năng lực, điều kiện hoàn cảnh, sức khỏe, nguyện vọng của từng  <br /> giáo viên  để  từ   đó lựa chọn bố  trí công việc một cách khoa học và hợp lý <br /> nhất.Từ  những định hướng cụ  thể  đó nhà trường và chuyên môn xem xét tình <br /> hình thực tế của đơn vị, có bao nhiêu lớp 4, khả năng, chất lượng lớp đó như thế <br /> nào?. Sau đó lựa chọn những giáo viên có năng lực, sở  trường, năng khiếu về <br /> phân môn Tiếng Việt, nhiệt huyết, yêu nghề, có tin thần trách nhiệm cao, có sức <br /> khỏe để đảm đương dạy học Tiếng Việt lớp 4. Bố trí những giáo viên dạy giỏi, <br /> hiểu biết được tiếng Bru­Vân Kiều, có kinh nghiêm lâu năm trong dạy học lớp 4 <br /> nói chung và có năng lực về  dạy Tiếng Việt nói riêng. Động viên và đồng thời  <br /> giao nhiệm vụ cụ thể cho từng giáo viên đứng lớp phải tuân thủ sự chỉ đạo của <br /> nhà trường nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phân môn tập làm văn và chú trọng  <br /> đến chất lượng làm văn miêu tả  lớp 4 vì kĩ năng này học sinh còn hạn chế, <br /> nhằm khắc phục sớm nhất những hạn chế đã chỉ ra.<br /> Giải pháp thứ ba:<br /> Tổ   chức   sinh   hoạt   chuyên   môn,   thảo   luận   và   dạy   thực  <br /> nghiệm từng chuyên đề  cụ  thể  về  phân môn tập làm văn mà đặc  <br /> biệt quan tâm dạng bài văn miêu tả ở lớp 4 . <br /> Chuyên môn, tổ chuyên môn lập kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ theo hướng <br /> dẫn nhiệm vụ năm học. Nắm bắt thực tiễn năng lực của giáo viên, chất lượng <br /> của học sinh từ đó lập kế hoạch và đưa ra những giải pháp bồi dưỡng, chỉ đạo <br /> dạy học sát với thực tiễn của đơn vị. Từ kế hoạch tổng quát của cả năm học, <br /> đến kế hoạch bồi dưỡng giáo viên theo từng giai đoạn, đến tháng, tuần. Tổ chức <br /> <br /> 10<br />                                                                                                  <br /> công khai các kế hoạch để có sự bàn bạc thống nhất chung trong tổ khối, bậc <br /> học thực hiện đảm bảo có hệ thống. Chuyên môn phân công cụ thể đến tổ <br /> chuyên môn thực hiện các chuyên đề, từ đó tổ phân công, tổ chức thảo luận các <br /> phương pháp, hình thức tổ chức dạy học sao cho có hiệu quả cao nhất. Các <br /> thành viên trong tổ thảo luận xây dựng hoàn thành ý tưởng của một chuyên đề, <br /> hay một bài dạy, sau đó lựa chọn một giáo viên có năng lực thực hiện chuyên đề <br /> đó sau đó đánh giá, khảo sát chất lượng theo định hướng trên. Tổ chức đánh giá <br /> nhận xét và tổ chức rút kịnh nghiệm qua thực tiễn của chuyên đề. Ví dụ: Đều là <br /> dạy văn miêu tả, nhưng các chuyên đề thể hiện một khía cạnh, một mảng riêng, <br /> nhằm làm phong phú hơn về phương pháp dạy học, cách thức tổ chức hoạt động <br /> dạy học. <br /> Ví dụ: Tổ chức hoạt động nhóm, sao cho có hiệu quả trong tiết TLV tả <br /> cảnh trong bài luyện tập tả cảnh. Sử dụng các phương pháp dạy học nào trong <br /> tiết quan sát đồ vật sao cho có hiệu quả cao. Sử dụng phương pháp dạy học mới <br /> VNEN trong dạy kiểu bài trả bài kiểm tra viết… <br /> Từ những buổi sinh hoạt chuyên đề đó, đã tạo cơ hội cho giáo viên phát <br /> huy hết khả năng của bản thân, cũng như huy động được trí tuệ của cả một tập <br /> thể. Qua đánh giá và dạy học thực nghiệm và đại trà, đã đem lại cho đội ngũ nhà <br /> trường những kinh nghiệm dạy học rất quý báu, sát đúng với thực tiễn và đã tạo <br /> điều kiện cho giáo viên thỏa sức “sáng tạo” đem lại những tiết học bổ ích lý thú <br /> cho học sinh có hiệu quả . Thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn theo những <br /> chuyên đề đã xây dựng tạo được một không khí làm việc dân chủ, khoa học, ai <br /> cũng muốn cống hiến. Giáo viên lẫn cán bộ quản lý được học hỏi lẫn nhau trong <br /> quá trình chỉ đạo cũng như trong quá trình dạy học. Kết quả mang lại là giáo <br /> viên tự tin, năng động, sáng tạo hơn trong dạy phân môn tập làm văn nói chung <br /> và dạy tập làm văn kiểu bài miêu tả nói riêng. Học sinh qua hơn hai năm dạy <br /> thực nghiệm và được sự chỉ đạo sâu sát của chuyên môn nhà trường đã đem lại <br /> <br /> <br /> 11<br />                                                                                                  <br /> những kết quả đáng khích lệ. Học sinh giờ đây không phải sợ học môn tập làm <br /> văn nữa, mà đã có ý thức học môn tập làm văn hơn trước.<br /> Giải pháp thứ tư:<br /> Khắc sâu cho học sinh cấu tạo của bài văn miêu tả, từ đó học <br /> sinh nắm và vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong quá trình làm văn.<br /> Giúp học sinh nắm được và chắc chắn cấu tạo của một bài văn miêu tả <br /> gồm ba phần: mở bài, thân bài, kết bài. Từ đó học sinh biết phân tích cấu tạo <br /> của một bài văn miêu tả. Văn miêu tả là loại văn căn cứ vào những điều quan <br /> sát, ghi chép, cảm nhận được về đối tượng (đồ vật, cây cối, loài vật, hiện tượng <br /> thiên nhiên, con người…), dùng ngôn ngữ để vẽ ra hình ảnh chân thực của đối <br /> tượng đó, trình bày theo một bố cục hợp lý và diễn đạt bằng lời văn sinh động, <br /> khiến cho người đọc, người nghe cùng thấy, cùng cảm nhận như mình. Văn <br /> miêu tả chia làm nhiều loại. Ở lớp 4, học sinh được học tả đồ vật, tả cây cối, tả <br /> con vật. <br /> Ví dụ: Đề bài học sinh đọc và phân đoạn bài văn “Hoàng hôn trên sông <br /> Hương” và xác định nội dung của từng đoạn trong bài văn đó. Học sinh trả lời, <br /> bài văn có bốn đoạn, gồm một đoạn mở bài, hai đoạn thuộc thân bài và một <br /> đoạn kết bài.<br /> Mở bài: ( Cuối buổi chiều… yên tĩnh này.) : cảnh hoàng hôn đang lắng <br /> xuống trên thành phố Huế yên tĩnh.<br /> Thân bài: ( Mùa thu,… cũng chấm dứt.) : Sự thay đổi về màu sắc của sông <br /> Hương và hoạt động của con người từ cuối buổi chiều đến khi thành phố lên <br /> đèn.<br /> Phần thân bài gồm hai đoạn:<br /> Đoạn 1: ( Mùa thu…hàng cây. ): Những biến đổi về màu sắc của sông <br /> Hương từ cuối buổi chiều dến lúc tối hẳn.<br /> <br /> <br /> <br /> 12<br />                                                                                                  <br /> Đoạn 2: ( Phía bên sông…chấm dứt.): Sinh hoạt của xóm Cồn Hến, của <br /> dân chài trên  sông Hương và cảnh thành phố khi mới lên đèn.<br /> Kết bài: ( Huế thức dậy… ban đầu của nó.) Huế đi vào cuộc sống buổi <br /> tối.<br /> Hướng dẫn cho học sinh những điều cần lưu ý khi quan sát và miêu tả:<br /> Mỗi cảnh đều được xác định bởi một phạm vi không gian và thời gian <br /> nhất định. Ví như cảnh một ngôi trường thì có các lớp học, khu vực hành chính, <br /> sân trường, vườn trường, khu tập thể dục thể thao… tất cả thường được bao <br /> bọc bởi những bức tường hay hàng rào và có cổng trường để ra vào. Vượt ra <br /> ngoài phạm vi đó sẻ không còn là cảnh trường nữa. Mỗi cảnh gắn liền với một <br /> thời gian nhất định như sáng sớm, trưa hay chiều tối…Thời gian đi liền với ánh <br /> sáng, thời tiết, hoạt động của người và vật….làm cho cảnh có những nét riêng <br /> biệt.<br /> Sau khi xác định đối tượng miêu tả với một phạm vi không gian và thời <br /> gian cụ thể, các em cần xác định vị trí để quan sát. Việc quan sát có thể ở một vị <br /> trí cố định, có thể ở những vị trí khác nhau nhưng vẫn phải có một vị trí chủ <br /> yếu. Ví như người chụp ảnh, phải lựa gốc độ để cắt cảnh sao cho nổi nhất, bộc <br /> lộ được những điều cơ bản nhất của cảnh.<br /> Khi đã xác định được vị trí quan sát rồi, ta nên có cái nhìn bao quát toàn <br /> cảnh đồng thời phải biết phân chia cảnh ra thành từng mảng, từng phần để quan <br /> sát.<br /> Khi quan sát, ta cần phối hợp các giác quan như tai nghe, mũi ngửi, tay sờ,  <br /> cảm nhận và cả cảm xúc của bản thân nữa.<br /> Khi tả, ta phải xác định một trình tự phù hợp với cảnh được tả. Tả từ trên <br /> xuống hay từ dưới lên, tả từ phải sang trái hay từ ngoài vào trong…một phần tùy <br /> thuộc vào đặc điểm của mỗi cảnh.<br /> Mỗi bộ phận của cảnh chỉ nên chọn tả những nét tiêu biểu nhất đồng thời <br /> phải xác định đâu là cảnh chủ yếu để tập trung miêu tả. Nếu tả riêng một đồ <br /> 13<br />                                                                                                  <br /> vật, con vật, một người nào đó, ta cần tả tỉ mỉ về đối tượng đó, còn khi tả cảnh, <br /> vì cảnh thường bao gồm nhiều thứ nên ta cần chọn những nét tiêu biểu nhất. Có <br /> thể tả người và vật trong cảnh nhưng việc tả đó phải góp phần bọc lộ một điều <br /> gì đó của cảnh, làm cho cảnh nổi hơn đẹp hơn.<br /> Khi tả, ta phải chú ý đến dường nét, màu sắc của cảnh vật và ảnh hưởng <br /> của vật thể này đối với vật thể khác. Ví dụ qua câu văn sau, các em sẻ thấy tác <br /> động của ánh trăng lên các vật: “Ánh trăng phủ lên mọi vật một lớp vàng mỏng <br /> tanh, lạnh mát và xuyên qua kẻ lá, đổ loang lỗ xuống mặt sân…”<br /> Mỗi cảnh lại gắn với đặc điểm thiên nhiên, khí hậu, cây cỏ, hoa trái…của <br /> từng vùng. Khi tả, ta phải làm toát lên màu sắc riêng biệt đó. Ví dụ miền trung <br /> du Phú Thọ gắn liền với cây cọ, đất mũi Cà Mau xốp mịn nhưng lắm mưa dông, <br /> gió dữ nên cây muốn sống còn phải quây quần bên nhau và cắm sâu rễ trong <br /> lòng đất…<br /> Một điều học sinh cần ghi nhớ khi tả cảnh luôn luôn gắn với tình người. <br /> Thi hào Nguyễn Du đã nêu một nhận xét rất sâu sắc: “ Người buồn cảnh có vui <br /> đâu bao giờ!”. Đúng vậy, cảnh vật mang theo nó cuộc sống riêng với những đặc <br /> điểm riêng. Nhưng con người cảm nhận cảnh như thế nào sẻ đem đến cho cảnh <br /> những tình cảm như thế ấy. Đấy là phần hồn của cảnh. Cảnh không có hồn sẻ <br /> trơ trọi, thiếu sức sống.<br /> Giáo viên cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản trên, học sinh <br /> nắm chắc và vận dụng linh hoạt, giúp học sinh xác định chắc chắn thể loại, <br /> cách viết, từ đó chất lượng bài viết của học sinh từng bước được nâng lên. Một <br /> điều khẳng định rằng học sinh vận dụng linh hoạt được những kiến thức của <br /> giáo viên cung cấp trên, học sinh sẻ tự tin trong quá trình làm bài, viết bài với <br /> nhiều cảm xúc, bài viết hay, súc tích.<br /> Giải pháp thứ năm:<br /> <br /> <br /> <br /> 14<br />                                                                                                  <br /> Giúp học sinh có kĩ năng quan sát đối tượng cần miêu tả, cách  <br /> lựa chọn hình ảnh, nội dung cần miêu tả:<br /> Định hướng quan sát vừa giúp cho học sinh tích luỹ  vốn sống vừa phát <br /> triển vốn từ, rèn luyện tư duy logic, tư duy hình tượng trong bài văn. Biện pháp  <br /> hướng dẫn học sinh quan sát là một biện pháp không thể thiếu khi dạy văn, đặc <br /> biệt là văn miêu tả, tuy nhiên khi sử dụng biện pháp này giáo viên cần lưu ý:<br /> Quan sát theo trình tự từ xa đến gần và ngược lại, từ trong ra ngoài, từ bao <br /> quát đến chi tiết và ngược lại. Ghi chép những điều đã quan sát được. Tổ  chức <br /> quan sát từng đối tượng cụ  thể. Có thể  hướng dẫn quan sát theo nhiều hình <br /> thức: quan sát trực tiếp đối tượng ( Ví dụ: Tả  một con vật nuôi trong gia đình <br /> em, tả  một con vật nuôi mà em thích ). Quan sát gián tiếp qua báo, đài ( những <br /> cảnh đẹp của quê hương đất nước hay những con thú ngộ nghĩnh, tin nghịch dễ <br /> thương, đồ chơi mới lạ mắt… mà em thích, ….). <br /> Lựa chọn hình ảnh miêu tả và nội dung miêu tả:<br />  Căn cứ vào hình ảnh đã lựa chọn khi quan sát, nội dung đã ghi chép, chọn <br /> lọc những hình  ảnh, chi tiết, hoạt động đặc sắc, đặc trưng riêng, vẽ  đẹp và sự <br /> khác biệt của đối tượng để miêu tả chi tiết. Có thể lòng ghép các hình ảnh, hoạt <br /> động gắn bó mật thiết với từng đối tượng cần tả, để  khái quát, bổ  trợ  tạo nên <br /> hình ảnh tổng thể của sự vật mình tả.<br /> Cái cốt lõi mà giáo viên phải chú ý khi dạy cho học sinh là chọn đối  <br /> tượng, vị trí, thời gian, đặc điểm quan sát sao cho tất cả học sinh đều được quan <br /> sát và tạo được hứng thú thực hiện quan sát. Hướng dẫn học sinh trình tự  quan <br /> sát hợp lí, biết chú ý vào những đặc điểm nổi bật. Tư vấn cho các em cách ghi  <br /> chép các kết quả quan sát được. Tôn trọng những nhận xét riêng, cảm nghĩ riêng <br /> của học sinh về đối tượng mà các em quan sát được.<br /> Giải pháp thứ sáu:<br /> <br /> <br /> 15<br />                                                                                                  <br />   Phân   hóa   đối   tượng   thông   qua   chọn   đề   tài   gần   gũi,   quen  <br /> thuộc với học sinh:<br />  Học sinh tiểu học vùng thuận lợi nói chung có thể  viết được những bài  <br /> văn miêu tả  chỉ  bằng quan sát qua tranh  ảnh, phim, hay lời kể…Nhưng đối với <br /> học sinh vùng đặc biệt khó khăn  của trường tôi, những đề tài xa lạ là những đề <br /> gợi ý mở  rộng cho học sinh. Các em đến trường học tập bằng ngôn ngữ  Tiếng  <br /> Việt tương đối hạn hẹp mà giáo viên lại yêu cầu các em hình dung, tưởng tượng  <br /> rồi đặt câu, viết một bài văn miêu tả  hoàn chỉnh với một đối tượng mà các em <br /> chưa nhìn thấy bao giờ thì đúng là điều quá sức đối với các em.<br /> Ví dụ:  Đề  bài trong sách giáo khoa Tiếng Việt 4­ tập 2­ trang 149: Tả  <br /> một con vật nuôi ở vườn thú.<br /> Với những đề  bài như  thế  này, tôi mạnh dạn chỉ  đạo thay bằng đề  bài <br /> khác (thông qua buổi sinh hoạt chuyên môn, hay trong thảo luận chuyên đề.)<br /> Tuy nhiên, nói như  vậy không có nghĩa là không cho học sinh có cơ  hội <br /> phát huy trí tưởng tượng của mình. Trong mỗi lớp học có nhiều đối tượng học <br /> sinh, khi ra đề bài cho các em, giáo viên nên tạo cho các em quyền lựa chọn bằng  <br /> cách ra nhiều đề bài (từ 2 đến 4 đề) để các đối tượng trong lớp đều có thể tự do <br /> chọn đề bài thích hợp cho mình, tránh áp đặt cho các em. <br /> Ví dụ: Khi ra đề  bài tả  con vật các em làm bài kiểm tra viết, tôi định <br /> hướng bốn đề bài sau:<br /> a) Tả một con vật nuôi trong nhà.<br /> b) Tả một con vật em chợt gặp trên đường..<br /> c) Tả một con vật lần đầu tiên em thấy trên họa báo hay trên truyền hình,  <br /> phim ảnh.<br /> d. Em hãy tả một con vật mà em yêu thích nhất.<br /> Với bốn đề bài trên, các em có thể chọn đối tượng miêu tả là một con vật <br /> quen thuộc, gần gũi. Nhưng với một vài học sinh khác, các em cũng có thể chọn <br /> <br /> 16<br />                                                                                                  <br /> tả  một con vật  lần đầu tiên em thấy trên họa báo hay trên truyền hình, phim  <br /> ảnh, với rất nhiều chi tiết sống động mà các em đã có dịp quan sát trên ti vi qua  <br /> các chương trình thế giới động vật, qua báo, tranh ảnh khi giáo viên giảng dạy.<br /> Giải pháp thứ bảy:<br />    Hướng dẫn học sinh có kĩ năng sắp xếp ý, diễn đạt ý, lập dàn ý  <br /> chi tiết cho một bài văn:<br /> Đây là một việc làm khó. Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh lập dàn ý <br /> trước khi làm thành một bài văn hoàn chỉnh. Có lập được dàn bài thì mới có thể <br /> tìm ý, sắp xếp ý, viết thành một bài văn mạch lạc, bố  cục rõ ràng, ý văn trong  <br /> sáng. Bởi lẽ, ở những lớp dưới, các em không phải làm những việc này, mà các  <br /> em chỉ viết câu văn, đoạn văn bằng cách trả lời những câu hỏi cho sẵn hoặc dựa <br /> vào những gợi ý của đề bài, một cách đơn giản, ngắn gọn. Khi lên học chương <br /> trình lớp 4 thì việc lập dàn ý cho một đề bài cụ thể là yêu cầu bắt buộc, các em  <br /> phải biết thực hiện, phải lập được dàn ý dựa vào đó mà hoàn chỉnh đoạn văn, <br /> bài văn.<br /> Nhằm giúp học sinh đỡ khó khăn hơn trong việc tự lập dàn ý cho bài văn,  <br /> khi  dạy học các bài  cấu tạo của bài văn miêu tả, tả  đồ  vật, cây cối, loài vật,  <br /> giáo viên hướng dẫn các em dựa vào phần Ghi nhớ  trong SGK, cùng xây dựng <br /> một dàn bài chung cho loại bài văn miêu tả.<br /> Ví dụ: Đề bài : Em hãy tả một cây có bóng mát. Tả cây bàng.<br /> Mở bài:<br /> ­ Con đường đất từ trường về nhà em hai bên trồng phi lao.<br /> ­ Một cây bàng cao to, tán rộng đứng che một quán nước nhỏ.<br /> Thân bài:<br /> ­ Tả bao quát:<br /> + Nhìn từ xa trông như một cây dù lớn màu xanh với dáng đứng thẳng, ngọn <br /> cao vượt lên, tán lá xòe rộng.<br /> <br /> 17<br />                                                                                                  <br /> + Đến gần thấy thân to, tán lá xanh ngắt chia nhiều tầng rợp mát cả  một <br /> vùng đất.<br /> ­ Tả từng bộ phận:<br /> + Gốc to, mấy rễ lớn trồi lên trên mặt đất.<br /> + Thân cao trên 5,6 mét, to gần một vòng tay, vỏ  màu xám nhiều vết trầy  <br /> xước.<br /> + Nhiều cành lớn, chìa ngang, vươn ra.<br /> + Mùa thu lá đỏ rồi rụng, mùa đông trơ trụi, mùa xuân đâm chồi nảy lộc, mùa <br /> này (bắt đầu sang hè) lá to, xanh ngắt chia thành nhiều tầng tán chen kín, ánh <br /> nắng khó lọt qua nổi.<br /> + Nắng chói chang, gió nhẹ chim chóc ẩn mình trong tán lá hót líu lo.<br /> + Chủ quán và khách chuyện trò vui vẻ, trẻ nhỏ chạy đuổi nhau quanh gốc.<br /> Kết bài:<br /> ­ Bàng che bóng mát, lá gói xôi, quả ăn được…<br /> ­ Cây bàng gắn bó với những năm tháng tuổi thơ, với tình quê hương.<br /> Ví dụ: Lập dàn bài tả một con vật trong nhà.<br /> Mở bài:<br /> ­ Bố em thường nôi chó ở trông vườn.<br /> ­ Con chó sống với gia đình em lâu nhất tên là Mực.<br /> Thân bài:<br /> a. Tả hình dáng bên ngoài.<br /> ­ Tả bao quát:<br /> + Ngoài cái ức trắng, toàn thân Mực màu đen<br /> + Đã già và nặng ngót ba chục kí.<br /> ­ Tả từng bộ phận:<br /> + Tai to, trán vuông, mắt đen pha nâu, mồm to và dài, cánh mũi đen ướt, răng  <br /> trắng và nhọn…<br /> + Lông cổ và dọc sóng lưng dài hơn, cứng,da cổ đã xệ.<br /> 18<br />                                                                                                  <br /> + Lưng hơi vòng, ngực nở, bụng thon, chân cao đuôi dài và cong.<br /> b. Tả hoạt động<br /> + Không ăn vụng và ăn nhỏ nhẹ, từ tốn.<br /> + Buổi trưa Mực nằm nghỉ dưới gốc cây Mít nhưng tai rất thính.<br /> + Tối Mực ngủ ngay trức sân và lùng sục suốt đêm.<br /> + Rất quyến luyến với chủ: tìm chủ bên nhà hàng xóm.<br /> Kết bài:<br /> ­ Mực hiền lành, khôn ngoan, được việc.<br /> ­ Cả nhà đều quý và coi Mực như một thành viên của gia đình.<br /> Giáo viên cần lưu ý cho học sinh nắm mục đích của từng đoạn văn. Đoạn  <br /> mở bài có tác dụng giới thiệu cho người đọc, người nghe biết xuất xứ nhân vật.  <br /> Đoạn thân bài là bức tranh vẽ  bằng lời về  hình dáng, đường nét, cử  chỉ, hoạt  <br /> động, tính nết của nhân vật. Có chọn được những chi tiết đặc sắc, tiêu biểu thì <br /> ta mới nhận ra nhân vật đó mang những cá tính riêng. Bạn học sinh trong bài là <br /> một học sinh vùng nông thôn với những đặc điểm riêng, cá tính riêng không lẫn <br /> lộn với bất cứ bạn học sinh nào khác. Đoạn kết bài mang đậm dấu ấn cá nhân <br /> của người viết. Không thể  có đoạn kết bài chung cho mọi học sinh. Giáo viên <br /> cần hướng dẫn học sinh nêu được cảm xúc tự  nhiên, chân thật, không sáo rỗng <br /> kiểu như: Em rất yêu quý …<br /> Giải pháp thứ tám:<br /> Đổi mới cách đánh giá học sinh theo Thông tư/30/BGD&ĐT  <br /> trong dạy học nói chung và phân môn tập làm văn nói riêng:<br /> Muốn đổi mới cách đánh giá học sinh theo Thông tư/30/BGD&ĐT có hiệu  <br /> quả, thì trước hết giáo viên phải nắm chắc nguyên tắc đánh giá đó là:<br /> 1.Đánh giá vì sự  tiến bộ  của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến  <br /> khích tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp học sinh <br /> phát huy tất cả khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng khách quan.<br /> <br /> 19<br />                                                                                                  <br /> 2. Đánh giá toàn diện học sinh thông qua đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến <br /> thức, kĩ năng và một số  biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh theo mục <br /> tiêu giáo dục tiểu học.<br /> 3. Kết hợp đánh giá của giáo viên, học sinh, cha mẹ  học sinh, trong đó <br /> đánh giá của giáo viên là quan trọng nhất.<br /> 4. Đánh giá sự  tiến bộ  của học sinh, không so sánh học sinh này với học  <br /> sinh khác, không tạo áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh.<br /> Đi đôi với công việc chấm bài là phải hướng dẫn học sinh sửa bài. Phải <br /> giúp các em phát hiện ra những điểm hay cần học tập và những điểm chưa hay, <br /> chưa đạt để sửa chữa trong bài văn của mình. Trên cơ sở đó, các em phải sửa lại <br /> bài làm của mình cho hay hơn, đúng hơn.<br /> Giáo viên cần tránh việc chê bai các em nhưng cũng không được lạm dụng <br /> lời khen, tạo sự  thờ   ơ  của học sinh đối với lời khen do được khen quá nhiều, <br /> khen không đúng lúc. Kiểu như  mỗi lần các em nói xong, nhiều lúc chỉ  là nhận  <br /> xét bạn đã viết hoa đầu câu chưa, giáo viên đều nhận xét “Em giỏi lắm!”.Việc <br /> học tập làm văn miêu tả  đã khó với học sinh tiểu học nói chung, đặc biệt khó  <br /> với học sinh người dân tộc Bru­ Vân Kiều do đó việc đổi mới đánh giá học sinh  <br /> theo Thông tư/30/BGD&ĐT là hoàn toàn phù hợp với đặc điểm tâm lý của học  <br /> sinh tiểu học và  ưu việt hơn đối với học sinh Bru­ Vân Kiều. Các em vốn từ, <br /> vốn sống còn hạn chế do đó các em phần lớn là nhút nhát, thiếu tự tin. Để  kích <br /> thích các em học được và học tốt văn miêu tả, không nhất thiết chấm điểm, mà <br /> dành cho học sinh những lời khen, kịp thời, mang tính khích lệ động viên. Các em <br /> sẽ phấn khởi, tự tin hơn, từ đó phát huy được khả năng tiềm tàng của bản thân.  <br /> Từ đó các em loại bỏ được âu lo, mặc cảm với điểm số, từ đó các em tự tin, hào <br /> hứng với môn học, học tích cực và hiệu quả hơn. <br /> Giải pháp thứ chín:<br /> Làm giàu vốn từ cho học sinh trong quá trình dạy học:<br /> <br /> 20<br />                                                                                                  <br /> Nếu   học   kiểu   bài   kể   chuyện,   học   sinh   chỉ   tái   hiện   lại   nội   dung   câu <br /> chuyện đã nghe, đã đọc là có thể  đạt được yêu cầu cơ  bản của đề  bài thì văn  <br /> miêu tả  đòi hỏi phải có một vốn từ  phong phú mới có thể  làm bài. Thế  giới <br /> quanh ta rất phong phú, đa dạng và không ngừng biến đổi. Người viết văn không <br /> thể “vẽ” được một cảnh, một người nếu bản thân người ấy thiếu vốn từ, vốn  <br /> sống.<br /> Làm giàu vốn từ cho học sinh có nghĩa là giúp cho các em nắm một số từ <br /> gợi tả để có thể dùng trong miêu tả. Giáo viên yêu cầu học sinh theo mức dộ khó <br /> dần, bước đầu chỉ yêu cầu học sinh đặt đúng câu, viết đúng đoạn, cao hơn  phải  <br /> sử  dụng được các biện pháp như; so sánh, nhân hóa, dùng từ  láy, từ  ngữ  gợi tả <br /> hình ảnh, âm thanh, hay những từ ngữ biểu lộ tình cảm.<br /> Ví dụ: Miêu tả một chú gà trống. Học sinh đặt câu:<br /> ­ “Chú gà nhà em có bộ lông đỏ tía”.<br /> Giáo viên có thể  cho các em nhận xét: Câu văn đã đủ  chủ  ngữ, vị  ngữ, đã rỏ <br /> nghĩa. Sau đó đặt câu hỏi: Em nào đặt câu khác hay hơn để miêu tả bộ lông của  <br /> chú gà trống? Học sinh có thể đặt câu:<br /> “Chú trống choai thật oai vệ, chú khoác trên mình bộ  lông màu đỏ  tía, chen  <br /> lẫn màu vàng sẫm như một chiếc áo sặc sỡ của những chàng công tử”. <br /> ­ Học sinh khác có thể so sánh ngắn gọn hơn:<br /> ­ “Chú khoác trên mình một bộ lễ phục màu tía rực rỡ như một võ tướng”.<br /> Ví dụ: Khi miêu tả con mèo:<br /> Một học sinh tả cái đuôi chú mèo.<br /> “ Chú ta có cái đuôi thon dài như một cái măng ngọc”. Giáo viên hỏi . Em <br /> nào có thể nhận xét cách đặt câu của bạn? Học sinh nhận xét , bạn đã sử  dụng <br /> biện pháp so sánh để so sánh cái đuôi mèo như một cái măng ngọc.<br /> Giáo viên có thể cho học sinh học tập lẫn nhau khi thảo luận nhóm, cùng <br /> chia sẽ, học hỏi lẫn nhau về cách miêu tả. Ví dụ: Miêu tả cái đuôi của chú mèo  <br /> sao cho sinh động hơn. “ Lúc chú ngồi, hai chân sau xếp lại, hai chân trước <br /> 21<br />                                         
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2