intTypePromotion=3

SKKN: Nghiên cứu vấn đề chuyển sang học Thể dục tự chọn nhằm nâng cao hiệu quả Giáo dục thể chất cho học sinh trường THTP Thống Nhất B nói riêng và học sinh THPT nói chung

Chia sẻ: Lê Thị Diễm Hương | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:45

0
201
lượt xem
67
download

SKKN: Nghiên cứu vấn đề chuyển sang học Thể dục tự chọn nhằm nâng cao hiệu quả Giáo dục thể chất cho học sinh trường THTP Thống Nhất B nói riêng và học sinh THPT nói chung

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sáng kiến “Nghiên cứu vấn đề chuyển sang học Thể dục tự chọn nhằm nâng cao hiệu quả Giáo dục thể chất cho học sinh trường THTP Thống Nhất B nói riêng và học sinh THPT nói chung” nghiên cứu thực trạng GDTC trong nhà trường từ đó xây dựng chương trình học TTTC nhằm nâng cao hiệu quả GDTC cho học sinh trường THPT Thống Nhất B, qua đó các trường THPT có thể lấy đó làm kinh nghiệm để áp dụng dạy TTTC nhằm nâng cao hiệu quả GDTC trong nhà trường. Mời quý thầy cô tham khảo sáng kiến trên.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Nghiên cứu vấn đề chuyển sang học Thể dục tự chọn nhằm nâng cao hiệu quả Giáo dục thể chất cho học sinh trường THTP Thống Nhất B nói riêng và học sinh THPT nói chung

  1. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI SƠTRƯỜNG THPT THỐNG NHẤT B LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN Mã số: ....................... 1. Họ và tên: Phan Văn Quân 2. Ngày tháng năm sinh: 22/01/1985 3. Nam, nữ: Nam 4. Địa chỉ: Trường THPT Thống Nhất B 5. Điện thoại: 0613867623 (CQ) / ĐTDĐ: 0988777045 6. Fax: SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM E-mail: phanvanquan@gmail.com.vn “NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ CHUYỂN SANG HỌC THỂ DỤC TỰ CHỌN 7. Chức vụ: Bí thư Đoàn trường, UV BCH Công đoàn NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC THỂ CHẤT 8. Đơn vị công tác: TRƯỜNG THPT THỐNG NHẤT B NÓI RIÊNG VÀ CHO HỌC SINH Trường THPT Thống Nhất B HỌC II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO SINH THPT NÓI CHUNG” - Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân - Năm nhận bằng: 2008 - Chuyên ngành đào tạo: Thể dục III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC Người thực hiện: Phan Văn Quân - Lĩnh vực chuyênBộ môn: Thể dục Thể dục thể thao môn có kinh nghiệm: Số năm có kinh nghiệm: 4 năm - Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây: + Đề tài làm khóa luận tốt nghiệp đại học năm 2008: Lĩnh vực nghiên cứu: “Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập thể dục nhào lộn nhằm phát triển khả năng thăng bằng choQuản sinh viên khoa giáo dục thể chất  nam lý giáo dục: trường Đại học Vinh”. Phương pháp dạy học bộ môn:  Phương pháp giáo dục:  + SKKN Năm học 2010 – 2011 Lĩnh vực khác:  “Nghiên cứu lựa chọn, lồng ghép giảng dạy một số kỹ năng sống vào môn học thể dục nhằmCó đính kèm năng sống cho học sinh trường THPT Thống Nhất B” phát triển kỹ : + SKKN Năm học 2011 – 2012  Mô hình Phần mềm Phim ảnh  Hiện vật khác “Ứng dụng công nghệ thông tin vào môn học thể dục” Năm học: 2012-2013
  2. SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC IV. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN 9. Họ và tên: Phan Văn Quân 10.Ngày tháng năm sinh: 22/01/1985 11.Nam, nữ: Nam 12.Địa chỉ: Trường THPT Thống Nhất B 13.Điện thoại: 0613867623 (CQ) / ĐTDĐ: 0988777045 14.Fax: E-mail: phanvanquan@gmail.com.vn 15.Chức vụ: Bí thư Đoàn trường, UV BCH Công đoàn 16.Đơn vị công tác: Trường THPT Thống Nhất B V. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO - Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân - Năm nhận bằng: 2008 - Chuyên ngành đào tạo: Thể dục VI. KINH NGHIỆM KHOA HỌC - Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Thể dục thể thao Số năm có kinh nghiệm: 4 năm - Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây: + Đề tài làm khóa luận tốt nghiệp đại học năm 2008: “Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập thể dục nhào lộn nhằm phát triển khả năng thăng bằng cho nam sinh viên khoa giáo dục thể chất trường Đại học Vinh”. + SKKN Năm học 2010 – 2011 “Nghiên cứu lựa chọn, lồng ghép một số kỹ năng sống vào môn học thể dục” + SKKN Năm học 2011 – 2012 “Ứng dụng công nghệ thông tin vào môn học thể dục”
  3. MỤC LỤC Trang I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ..............................................................................3 II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI ............................................................5 1. Cơ sở lí luận .................................................................................................5 2. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................6 3. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................7 4. Phương pháp nghiên cứu ..............................................................................7 5. Thời gian nghiên cứu ....................................................................................7 6. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu ................................................................8 7. Nội dung biện pháp thực hiện ....................................................................9 7.1. Tìm hiểu thực trạng giáo dục thể chất trong nhà trường bậc THPT ..........9 7.2. Xây dựng nội dung chương trình học thể dục tự chọn cho học sinh trường THPT Thống Nhất B trong ba năm THPT.......................................... 11 7.3. Đánh giá khách quan tính hiệu quả khi áp dụng dạy thể dục tự chọn ở trường THPT Thống Nhất B......................................................................... 13 III. HIỆU QUẢ QUẢ ĐỀ TÀI ..................................................................... 18 IV. ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................. 19 Phụ lục 1 ....................................................................................................... 20 Phụ lục 2 ....................................................................................................... 34 Tài liệu tham khảo........................................................................................ 43
  4. “NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ CHUYỂN SANG HỌC THỂ DỤC TỰ CHỌN NHẰM NÂNG CAO HỆU QUẢ GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT THỐNG NHẤT B”. I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Aristotle từng nói “không gì có thể làm kiệt quệ và hủy hoại cơ thể bằng sự thiếu vận động kéo dài” Đúng như vậy con người nếu không vận động lâu ngày thì cảm giác khi nào cũng nặng nề, sức ì lớn… Ngày nay chúng ta có thể bắt gặp nhiều kiểu người như vậy tương đối nhiều, các bệnh thường dễ gặp như: béo phì, huyết áp, tim mạch, tiểu đường, …họ mang trong minh nhiều khả năng có thể phát sinh bệnh tật. Có thể nói nếu như họ không vận động hay vận động ít thì cơ thể có thể bị kiệt quệ và hủy hoại trong thời gian không lâu. Chính vì thế mọi người cần nêu cao ý thức tập luyện thể dục thường xuyên để nâng cao sức khỏe cho bản thân và cho xã hội. Quan sát phong trào tập thể dục của người dân tôi nhận thấy, đa số tầng lớp trung niên từ độ tuổi 40 tuổi trở lên là có sự quan tâm chăm lo cho sức khỏe, sáng chiều họ đều vận động để đảm bảo duy trì, củng cố sức khỏe. Chình ở lứa tuổi này khi cơ thể bắt đầu có sự lão hóa, sức khỏe bắt đầu có chiều hướng đi xuống, khi đó con người ta mới thấy được sự cần thiết của sức khỏe, cần thiết phải tập thể dục đều đặn để có sức khỏe. Còn ở lứa tuổi từ 30 tuổi trở xuống qua quan sát thấy số lượng ít hơn nhiều so với tầng lớp cao tuổi. Chính ở lứa tuổi này cơ thể đang phát triển, sức khỏe ít có vấn đề cho nên người ta cảm thấy như vậy là đã khỏe mạnh không cần phải tập luyện thể dục gì thì cũng có đủ sức khỏe để làm việc và sinh sống. Tuy nói là khỏe như vậy nhưng thực chất là chỉ khỏe so với lớp tuổi già, chứ sức khỏe so với độ tuổi đó vẫn chưa đạt yêu cầu, các yếu tố bên ngoài tác động con người ta có thể gục ngã bất cứ lúc nào. Chúng ta chỉ cần thử sức với hoạt động thể lực ví dụ như: một trận bóng đá mini, thi chạy 400m, chuyến đi picnic dã ngoại, hay công việc căng thẳng, áp lực dồn dập … thì sẽ thấy ngay được sức khỏe cơ thể ở mức độ nào. Tại sao con người ta không quan tâm tới sức khỏe khi đang còn trẻ (khi cơ thể đang phát triển khỏe mạnh), hơn lúc nào hết ở lứa tuổi học sinh rất cần thiết luyện tập thể dục để phát triển cơ thể một cách toàn diện khỏe mạnh. Đừng để đến lúc về già, khi cơ thể yếu thì mới lo đến sức khỏe, khi đó thì đúng như câu nói “nước đến chân mới nhảy”, lúc này không biết sẽ nhảy được bao nhiêu? Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến sức khỏe của người dân, nhận thức được sức khỏe con người có ảnh hưởng quan trọng tới ngồn lực để phát triển đất nước, sau khi đất nước dành được độc lập, dù bận trăm công ngàn việc Bác Hồ vẫn có quan tâm đặc biệt đến nền thể dục thể thao (TDTT) nước nhà. Ngày 30/1/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 14 thành lập Nha Thể dục TW trong bộ Thanh niên, tiếp đến ngày 27/3/1946 Bác Hồ ra lời kêu gọi toàn dân tập thể dục. Kể từ đây phong trào “Khỏe vì nước” phát triển mạnh khắp cả nước. Trong khi đất nước đang gặp muôn vàn khó khăn như giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm nhòm gó thì phát triển ngành TDTT cũng được coi như là cuộc cách mạng, là việc làm hết sức cấp bách và cần thiết thời bẫy giờ để nâng cao sức
  5. khỏe, cải tạo giống nòi, đảm bảo nhân tố con người trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Ngày nay chúng ta đang học tập và làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức của Bác. Đảng và Nhà nước cũng không ngừng quan tâm tới ngành TDTT nước nhà, trong những năm gần đây đã có nhiều dự án, kế hoạch đầu tư phát triển TDTT trong đó đặc biệt chú trọng tới phát triển giáo dục thể chất học đường. Văn kiện Đại hôi VIII TW2 của Đảng khẳng định: “Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh phải có con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, sức khỏe, không thể coi nhẹ giáo dục thể chất nhà trường” Như vậy nếu thể dục không hoàn thành nhiệm vụ phát triển sức khỏe cho con người thì mục tiêu phát triển con người toàn diện bao gồm “đức, trí, thể, mỹ”trong thời đại mới sẽ không được hoàn thành. Có thể nói TDTT trường học chiếm vị trí quan trọng trong kế hoạch phát triển sức khỏe cho người dân. Song việc thực thi kế hoạch hiện nay vẫn còn rất hạn chế dẫn đến kết quả đem lại còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi kế hoạch đề ra. Việc áp dụng giáo dục thể chất trong nhà trường hiện nay chưa đem lại hiệu quả, nội dụng học quá nhiều, phần nội dung thể thao tự chọn chiếm một thời lượng ít trong phân phối chương trình, vả lại nội dung tự chọn này nhiều khi giáo viên cũng áp đặt chứ không cho học sinh chọn lựa. Việc học thể dục giống như “cưỡi ngựa xem hoa”, học thì nhiều mà không nắm được bao nhiêu, học sinh bị gò bó, ép buộc trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập, các em không có hứng thú với môn học, việc học trở thành áp lực nặng nề từ đó hình thành nên khái niệm xấu cho học sinh và gia đình đối với môn thể dục ở trường. Kết quả kết thúc ba năm học THPT mà học sinh không nắm được kỹ năng của một môn thể thao nào, không chọn cho mình được một môn thể thao phù hợp tập luyện hàng ngày. Từ những vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu vấn đề chuyển sang học thể dục tự chọn nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho học sinh trường THTP Thống Nhất B nói riêng và học sinh THPT nói chung”.
  6. II.NỘI DUNG THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 1.Cơ sở lý luận Giáo dục thể chất (GDTC) là một bộ phận trong hệ thống giáo dục nhà trường điều đó là đã được khẳng định. Song tầm quan trọng của nó vẫn chỉ nằm ở mức trên giấy tờ, việc triển khai công tác giáo dục thể chất vẫn chưa thấy được tầm quan trọng đúng với ý nghĩa của nó. Phát triển con người toàn diện luôn là mục tiêu xuyên suốt của GD&ĐT. Do vậy nếu GDTC trong nhà trường không hoàn thành nhiệm vụ thì không thể hoàn thành mục tiêu giáo dục đề ra. Ở các nước có nền thể thao phát triển, việc học thể dục tại trường luôn được quan tâm đặc biệt, ở đó việc học luôn chú ý tới nhu cầu người học, học sinh có quyền lựa chọn môn thể thao phù hợp với sở trường và đặc điểm sinh lý cá nhân. GDTC nhà trường ở Việt Nam thì giáo viên và học sinh luôn phải thực hiện đúng theo phân phối chương trình đã đề ra. Chính vì thế mà học sinh luôn cảm thấy nặng nề, chán nản không thích học thể dục đặc biệt là những môn không phù hợp với đặc điểm cá nhân, dẫn đến hiệu quả không cao. Trong thời gian gần đây GDTC trong nhà trường được bàn bạc nhiều. Chúng ta có thể tìm thấy các thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài, mạng internet … Dưới con mắt của xã hội hiện nay học thể dục trong nhà trường hiện nay chỉ học cho có chứ không đem lại hiệu quả. Thể dục được coi là môn phụ của các môn phụ. Một trong những nguyên nhân làm cho hiệu quả giáo dục thể chất trong nhà trường còn thấp đó là nội dung chương trình học thể dục quá ôm đồm nhiều nội dung chưa sát thực tế, chưa phù hợp với điều kiện của nhà trường và học sinh, dẫn tới việc học sinh học thì nhiều nội dung, nội dung nào cũng biết một ít nhưng không giỏi và thành thạo một môn nào. Ngành TDTT đã có đề án chiến lược phát triển thể dục thể thao tới năm 2020. Trong đó nhấn mạnh thể dục thể thao trường học là một bộ phận quan trong trong quá trình tăng cường sức khỏe, nâng cao tầm vóc, cải thiện giống nòi. Đề án đã nêu lên những tồn tại yếu kém “Công tác giáo dục thể chất trong nhà trường và các hoạt động thể thao ngoại khóa của học sinh, sinh viên chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và nâng cao sức khỏe cho học sinh, là một trong số các nguyên nhân khiến cho thể lực và tầm vóc người Việt Nam thua kém rõ rệt so với một số nước trong khu vực. Các cơ sở giáo dục đào tạo còn thiếu sân bãi, phòng tập, dụng cụ phục vụ cho nhu cầu tập luyện, thi đấu và vui chơi giải trí của học sinh, sinh viên; đội ngũ giáo viên thể dục còn thiếu; chương trình chính khóa cũng như nội dung hoạt động ngoại khóa còn nghèo nàn, chưa hợp lý, không hấp dẫn học sinh tham gia các hoạt động thể dục, thể thao ngoại khóa”. Việc áp dụng dạy một nội dung thể thao tự chọn (TTTC) cho một đối tượng học sinh trong ba năm học ở THPT hiện tại có rất ít trường ở Việt Nam áp dụng. Nếu có áp dụng thì cũng tự phát nhất thời chưa có kế hoạch hệ thống rõ ràng khoa học. Hiện tại có nhiều ý kiến về vấn đề nghiên cứu của đề tài song các ý kiến chỉ dừng lại bình luận chứ tác giả chưa gặp một công trình nghiên cứu về đề tài này. Chính vì những lý do trên đây tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mong muốn tạo ra bước đột phá trong GDTC trường học tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc phát triển thể chất cho học sinh THPT.
  7. Để hiểu rõ hơn về vấn đề nghiên cứu chúng ta phải hiểu được đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi. - Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT. Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển. Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao. Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt. Các em đã tạo được tâm thế phân hoá trong ghi nhớ. Có sự thay đổi về tư duy: các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, chặt chẽ có căn cứ và mang tính nhất quán: Do cấu trúc của não phức tạp và chức năng của não phát triển. Do sự phát triển của quá trình nhận thức. Do ảnh hưởng của hoạt động học tập. Các nhà giáo dục cần giúp các em có thể phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của mình, nhìn nhận và đánh giá các vấn đề một cách khách quan. Sự phát triển của tự ý thức. Chú ý đến hình dáng bên ngoài. Quá trình tự ý thức diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi, có tính đặc thù riêng. Sự tự ý thức của các em xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt địa vị mới mẻ trong tập thể, những quan hệ mới với thế giới xung động quanh buộc thanh niên phải ý thức được đặc điểm nhân cách của mình. Các em không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội, tương lai. Có khả năng đánh giá những cử chỉ, hành vi riêng lẻ, từng thuộc tính riêng biệt, biết đánh giá nhân cách của mình nói chung trong toàn bộ những thuộc tính nhân cách. Việc tự phân tích có mục đích là một dấu hiệu cần thiết của một nhân cách đang trưởng thành và là tiền đề của sự tự giáo dục có mục đích. Sự hình thành thế giới quan. Chỉ số đầu tiên của sự hình thành thế giới quan là sự phát triển của hứng thú nhận thức đối với những vấn đề thuộc nguyên tắc chung nhất của vũ trụ, những quy luật phổ biến của tự nhiên, của xã hội... Giao tiếp trong nhóm bạn. Tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất. Ở lứa tuổi này, các em có khuynh hướng làm bạn với bạn bè cùng tuổi. Các em tham gia vào nhiều nhóm bạn khác nhau. Trong quá trình giáo dục, nhà giáo dục cần phải xây dựng thế giới quan lành mạnh, đúng đắn cho các em. Nhà giáo dục cần chú ý đến ảnh hưởng của nhóm, tổ chức cho các nhóm tham gia vào các hoạt động tập thể của lớp ... 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng GDTC trong nhà trường từ đó xây dựng chương trình học TTTC nhằm nâng cao hiệu quả GDTC cho học sinh trường THPT Thống Nhất B, qua đó các trường THPT có thể lấy đó làm kinh nghiệm để áp dụng dạy TTTC nhằm nâng cao hiệu quả GDTC trong nhà trường.
  8. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu thực trạng giáo dục thể chất trong nhà trường ở bậc THPT. - Xây dựng nội dung chương trình học thể dục tự chọn cho học sinh trường THPT Thống Nhất B trong ba năm THPT. - Đánh giá khách quan tính hiệu quả khi áp dụng dạy thể dục tự chọn ở trường THPT Thống Nhất B. 4. Phương pháp nghiên cứu 2.4.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu. Phương pháp này sử dụng đọc, phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài nhằm thu thập thông tin cần thiết gần với vấn đề nghiên cứu, lựa chọn chúng một cách có ý thức. 4.2. Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm Sử dụng phương pháp này nhằm mục đích thu thập thông tin qua hỏi và trả lời giữa nhà nghiên cứu và đối tượng được nghiên cứu về vấn đề quan tâm. Đề tài này sử dụng chủ yếu là phỏng vấn gián tiếp thông qua mẫu phiếu câu hỏi. Tọa đàm được tiến hành cùng với thầy cô trường THPT Thống Nhất B. Đây là thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu. 4.3. Phương pháp quan sát sư phạm Là phương pháp sử dụng theo dõi trực tiếp quá trình giảng dạy học tập mà không làm ảnh hưởng đến quá trình đó. Quan sát chủ yếu bằng mắt thường những biểu hiện bên ngoài, từ đó hiểu được dấu hiệu bên trong thầm kín một cách khách quan, tin cậy sau đó ghi chép hiện tượng quan sát để thu thập thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu. 4.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm Là phương pháp nghiên cứu dựa vào hệ thống bài tập (còn gọi là kiểm tra) được tiêu chuẩn hóa về nội dung, hình thức và điều kiện thực hiện, nhằm đánh giá khả năng khác nhau của người học. Ở đề tài này tác giả kiểm tra các nội dung đã dạy trên lớp theo phân phối chương trình và theo cột điểm quy đinh, sau đó đánh giá kết quả kiểm tra. 4.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm Là phương pháp nghiên cứu mà người ta đưa vào quá trình giảng dạy những nhân tố mới được nghiên cứu và phải làm sáng tỏ tính ưu việt của chúng so với các nhân tố khác. Ở đây tác giả sử dụng kết quả thu được sau thực nghiệm chính là thành tích được kiểm chứng sau khi kiểm tra kết thúc nội dung học tự chọn các lớp đã chọn làm đối tượng nghiên cứu, kết quả giải bóng đá nữ của trường, thành tích tại Hội khỏe Phù Đổng ở những năm 2000, 2004, 2008, 2012. 4.5. Phương pháp toán học thống kê. Dùng để xử lý số liệu. 5. Thời gian nghiên cứu
  9. Từ tháng 01/2012 đến tháng 4/2013 6. Đối tượng, địa điểm nghiên cứu - Đối tượng cụ thể gốm các đội tuyển Hội khỏe Phù Đổng trong các năm 2000, 2004, 2008, 2012, ba lớp 12B4, 12B5, 12B6 trường THPT Thống Nhất B. - Đối tượng chung là học sinh THPT. - Địa điểm nghiên cứu Trường THPT Thống Nhất B 7. Nội dung biện pháp thực hiện 7.1. Tìm hiểu thực trạng giáo dục thể chất trong nhà trường ở bậc THPT. Trích theo chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020 trong đó nêu lên thực trạng giáo dục thể chất trong nhà trường hiện nay: “Về công tác giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường, đến năm học 2007 – 2008 cả nước có trên 70% số trường học triển khai áp dụng chương trình giáo dục thể chất chính khóa và một số trường đã có hoạt động ngoại khóa thường xuyên. Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc và Đại hội Thể dục, thể thao sinh viên toàn quốc được tổ chức theo chu kỳ 4 năm/lần cùng với hàng chục giải thể thao của học sinh, sinh viên đã thu hút hàng chục triệu lượt học sinh, sinh viên tham gia, góp phần tạo nguồn tài năng thể thao trẻ cho thể thao đỉnh cao quốc gia” Đồng thời trong chiến lược cũng nêu lên những tồn tại và yếu kém: Công tác giáo dục thể chất trong nhà trường và các hoạt động thể thao ngoại khóa của học sinh, sinh viên chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và nâng cao sức khỏe cho học sinh, là một trong số các nguyên nhân khiến cho thể lực và tầm vóc người Việt Nam thua kém rõ rệt so với một số nước trong khu vực. Các cơ sở giáo dục đào tạo còn thiếu sân bãi, phòng tập, dụng cụ phục vụ cho nhu cầu tập luyện, thi đấu và vui chơi giải trí của học sinh, sinh viên; đội ngũ giáo viên thể dục còn thiếu; chương trình chính khóa cũng như nội dung hoạt động ngoại khóa còn nghèo nàn, chưa hợp lý, không hấp dẫn học sinh tham gia các hoạt động thể dục, thể thao ngoại khóa. Từ năm học 2005 – 2006 thể dục được đưa vào học chính khóa điều đó thể hiện sự quan tâm tới phát triển thể chất trong nhà trường. Hình thức học thể dục ngoại khóa đã có chỉ đạo thành lập câu lạc bộ thể thao trong nhà trường thế nhưng hình thức này còn quá ít ở các trường THPT. Mục tiêu giáo dục thể chất trong nhà trường đến năm 2025 của nước ta là: “Xây dựng và bước đầu hoàn thiện giáo dục thể chất trường học từ cấp mần non đến cấp đại học, thực hiện dạy thể dục một cách nghiêm túc và thực hiện chế độ giáo dục thể chất trong nhà trường” Bộ GD&ĐT đang quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên TDTT ở bậc THPT có bằng cấp đạt chuẩn và ngày càng đáp ứng được yêu cầu giáo dục thể chất trong nhà trường. Ngành TDTT đang có những dự án lớn đang được triển khai nhằm cải thiện phong trao, thành tích thể thao, nâng cao tầm vóc con người Việt Nam dần dần ngang tầm với khu vực và thế giới. Mục tiêu GDTC trong nhà trường là duy trì, củng cố và nâng cao sức khỏe và sâu xa hơn nữa là nâng cao tầm vóc, cải thiện giống nòi. Đó là những đòi hỏi
  10. rất lớn trong thời gian tới khiến những ai làm công tác thể dục thể thao cũng phải quan tâm đầu tư để hoàn thành mục tiêu đề ra. Hiện tại hiệu quả giáo dục thể chất trường học còn thấp, chưa thể đáp ứng được mục tiêu yêu cầu đề ra. Đặc biệt hiện nay kết quả thể dục chỉ đánh giá “đạt” hay “không đạt” tuy nó làm giảm áp lực học cho học sinh song nó cũng tồn tại tiêu cực trong học tập. Một trong những tiêu cực xảy ra đối với những học sinh có tố chất và kỹ năng vận động thể thao tốt, nhiều khi các em không quan tâm tới việc học thể dục, với mức đánh giá chung hiện nay thì những học sinh này không cần cố gắng, chỉ học qua loa cũng có thể “đạt” chính điều này cũng làm cho hiệu quả GDTC giảm sút trong học sinh. Do vậy Bộ GD&ĐT cần chú ý trong việc đánh giá học sinh “đạt” hay “không đạt”. Cần có sự đổi mới về nội dung, thay đổi cách đánh giá. Cần có một tiêu chuẩn cụ thể rõ ràng mới, trong đó chú trọng tới vấn đề ý thức tập luyện để “đạt” Ngoài ra giáo viên cũng phải thường xuyên đổi mới phương pháp và hình thức tập luyện, thường xuyên động viên quan tâm khuyến khích học sinh học tập, có như thế may ra có thể kích thích được số học sinh giỏi nhưng lại lười vận động này. Những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả GDTC trường học thấp. Thứ nhất: Nội dung chương trình học chính khóa còn quá ôm đồm, dàn trải nhiều môn, học sinh học nhiều môn thể thao với 2 tiết/tuần thì không thể hình thành nên một kỹ năng thể thao nào. Thứ hai: Hình thức hoạt động thể thao ngoại khóa trong các câu lạc bộ thể thao còn quá ít trường áp dụng, nội dung học tập còn khô cứng, hình thức đơn giản chưa kích thích được người học. Thiếu HDV, HLV, Giáo viên hoạt động ở hình thức này. Thứ ba: Ngồn cán bộ giáo viên giảng dạy trong nhà trường tuy đã chuẩn hóa về bằng cấp nhưng xem ra trình độ thực sự thì chưa đạt chuẩn, khả năng nắm vững nguyên tắc và phương pháp giáo dục thể chất còn hạn chế. Từ trước tới nay đầu vào các trường đại học ngành thể dục thể thao chỉ chú trọng tới năng khiếu, ít quan tâm tới văn hóa, đạo đức của người học, dẫn tới kết quả đào tạo giáo viên thể dục chưa đạt chuẩn kiến thức chuyên môn, không nắm vững phương pháp và nguyên tắc giảng dạy. Thứ tư: Cơ sở vật chất còn thiếu thốn rất nhiều đặc biệt là ở vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa. Thứ năm: Đa số học sinh chưa hiểu được tầm quan trọng của thể dục đối với sức khỏe con người, hầu hết các em chỉ học theo tính chất đối phó, học để kiểm tra chứ chưa hiểu được ý nghĩa của nó. Mặt khác chương trình học văn hóa của học sinh quá nhiều, học ở trường, học thêm ở nhà cả ngày lẫn đêm khiến cho các em không có thời gian để vui chơi, tập luyện thể dục. Thứ sáu: Xã hội hiện nay coi thể dục chỉ là môn phụ không cần quan tâm, ngay cả trong nhà trường cũng chỉ quan tâm nhiều tới các môn văn hóa, đặc biệt là các môn thi tốt nghiệp, còn thể dục thì “nhẹ nhàng” với các em làm sao các em đều “đạt” để thời gian tập trung học các môn khác. Các bậc phụ huynh cũng chỉ quan tâm tới kết quả các môn văn hóa chứ cái “đồ thể dục” (môn thể dục) học giỏi cũng chẳng làm được gì. Phần lớn xã hội hiện nay đều chạy theo thành tích luôn coi nhẹ việc tập luyện thể dục để nâng cao sức khỏe, các bậc phụ huynh và học sinh luôn tìm cách
  11. để giảm việc học thể dục cho con em mình. Họ nghĩ rằng cứ ăn uống cho đầy đủ thì cũng đủ sức khỏe rồi. Quan niệm như vậy là hết sức sai lầm. Chỉ khi chúng ta đánh giá đúng tầm quan trọng của thể dục thì khi đó sức khỏe con người mới được tăng lên, chỉ khi con người ta xác định tập thể dụng quan trọng như nhu cầu ăn uống hàng ngày thì khi đó mới mong sức khỏe con người được nâng lên và sống cuộc sống thật khỏe mạnh. Hướng giải quyết những nguyên nhân trên: - Cần đưa TTTC vào trường học không chỉ bó hẹp trong một số tiết mà nó phải được tiến hành chuyên môn hóa một môn do học sinh chọn trong ba năm THPT. - Hình thức hoạt động thể thao ngoại khóa trong các câu lạc bộ cần được nhân rộng và cần được sự quan tâm đầu tư từ nhà trường và Nhà nước. - Có kế hoạch đầu tư dài hạn để đào tạo cán bộ giáo viên, hướng dẫn viên thể dục thể thao đạt chuẩn chuyên môn, đầu vào của các loại hình đào tạo này cần có điểm sàn văn hóa, có đạo đức lối sống tốt thì mới đảm bảo chất lượng phục vụ cho công tác hoạt động TDTT. - Nhà nước cần quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng nhiều hơn nữa đặc biệt là vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa để cơ sở có điều kiện học tập. - Phải có sự huy động kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng xã hội làm công tác tuyên truyền, giáo dục cho mọi người hiểu được mục đích ý nghĩa tầm quan trọng của TDTT đối với sức khỏe con người và đối với phát triển của xã hội. Để giải quyết những nguyên nhân trên chúng ta cần quan tâm đầu tư nghiên cứu để từng bước khắc phục những tồn tại yếu kém. Học thể thao tự chọn một xu hướng học tập tiên tiến đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng sẽ phần nào khắc phục được những hạn chế của việc học thể dục hiện nay nhằm đem lại cho người học hiệu quả cao nhất về tập luyện để nâng cao sức khỏe. 7.2. Xây dựng nội dung chương trình học thể dục tự chọn cho học sinh trường THPT Thống Nhất B Hiện tại theo phân phối chương trình nội dung thể thao tự chọn được phân bố gồm các môn: bơi, bóng chuyền, bóng đá, bóng rổ, đẩy tạ. Trong một năm học giáo viên có thể dạy một trong các môn tự chọn này, như vậy trong ba năm THPT một học sinh có thể học với ba môn tự chọn với ba Thầy (Cô) khác nhau. Thời lượng cho môn TTTC mỗi năm học không nhiều, bằng với thời gian một nội dung bắt buộc trong phân phối chương trình. Việc học nội dung TTTC nào thường cũng do giáo viên trực tiếp giảng dạy chọn chứ học sinh không có quyền được lựa chọn. Như vậy thì việc đem lại hiệu quả học tập cũng giống với các nội dung khác. Với mong mốn đem lại hiệu quả cao trong việc học Thể dục tại trường học tác giả có ý định chuyển từ học Thể dục hiện tại sang học Thể dục tự chọn (để cho học sinh chọn môn học thể dục). Trong ba năm học chỉ tập trung cho một môn, do vậy học sinh có kỹ năng cơ bản tốt về một môn thể thao. Ngoài ra việc cho học sinh tự chọn sẽ giải quyết được vấn đề hứng thú học tập, giảm bớt áp lực về môn học. Mục tiêu giáo dục luôn hướng tới giáo dục con người phát triển toàn diện các tố chất thể lực, các tố chất thể lực cần hướng tới để hình thành và dần hoàn
  12. thiện cho học sinh đó là: nhanh, mạnh, bền, dẻo và khéo léo. Do vậy mà trong quá trình dạy TTTC giáo viên cần lựa chọn các bài tập thể lực phù hợp hay những trò chơi để hoàn thiện các tố chất vận động cho học sinh. Đây là việc hết sức cần thiết và không thể thiếu đối với việc giảng dạy các môn tự chọn. Vì vậy khi lập phân phối chương trình giảng dạy cần chú ý xen kẽ các nội dung tập luyện để hoàn thiện tố chất thể lực, phân chia thời gian hợp lý dạy kỹ thuật cơ bản thật kỹ sau đó nâng cao kỹ thuật lên dần đảm bảo cho học sinh có nền tảng tốt nhất về thể dục. Việc đăng ký học thể dục tự chọn được tiến hành lần 1 ngay khi học sinh mới bước vào lớp 10. Sau khi đăng ký giáo viên bắt đầu dạy TTTC cho học sinh học kỳ I của năm lớp 10. Hết học kỳ I của năm lớp 10 giáo viên tiến hành cho học sinh đăng ký học thể dục tự chọn lần 2, lần lựa chọn này sẽ quyết định nội dung học thể dục cho thời gian còn lại. Việc cho học sinh đăng ký lại lần 2 nhằm mục đích đánh giá chính xác lại môn học mà học sinh đã lựa chọn, lần 2 này cũng là cơ hội để học sinh đăng ký lại môn học phù hợp hơn vì lần 1 lỡ chọn nội dung học không phù hợp với cá nhân. Đăng ký học TTTC có thể xảy ra tình trạng môn này đăng ký nhiều, môn khác đăng ký ít. Môn học chỉ được tiến hành khi có ít nhất đủ một lớp đăng ký. Như vậy môn có học sinh đăng ký nhiều có thể do 2 hay nhiều giáo viên dạy và một giáo viên lúc này có thể dạy từ một đến hai môn. Học TTTC lúc này có lớp mới khác với lớp học các môn văn hóa. Do vậy cũng cần phải xây dựng thêm bộ hồ sơ học sinh mới để thuận tiện trong việc kiểm đánh giá. Kết quả cuối cùng vẫn được thể hiện và thông báo cho học sinh thông qua hồ sơ lớp học văn hóa. Nói là tự chọn nhưng không phải là học sinh chọn môn học nào cũng được. Lựa chọn môn học trên cơ sở có định hướng của giáo viên, tùy vào điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn giáo viên sẵn có để hướng cho học sinh lựa chọn môn học phù hợp. Giáo viên đưa ra các môn mà nhà trường có thể đáp ứng cho việc dạy và học từ đó học sinh sẽ lựa chọn. Trong điều kiện khó khăn về cơ sở vật chât, giáo viên chưa đảm bảo về tất cả các môn học nhưng chúng ta vẫn có thể cho học sinh học thể dục tự chọn được một số môn nhằm tận dụng tối đa vật lực và tài lực sẵn có của trường đem lại tối đa sự phát triển thể chất cho học sinh. Do vậy khi áp dụng học thể dục tự chọn mỗi trường đều khác nhau tùy vào điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, đặc điểm học sinh từ đó định hướng cho học sinh lựa chọn nội dung học phù hợp. Trước khi áp dụng dạy TTTC các trường cần đăng ký với Sở GD&ĐT. Đăng ký những môn Trường có thể tổ chức dạy học, từ đó nhà trường có thời gian chủ động chuẩn bị kế hoạch giảng dạy và cũng để cấp trên có cơ sở kiểm tra quản lý được dễ dàng thuận tiện. Thời gian học tập vẫn được tiến hành giống như học thể dục trước đây, ngoài ra có thể lồng ghép với hình thức hoạt động thể thao ngoại khóa trong câu lạc bộ nếu trường có điều kiện. Với các điều kiện sẵn có của trường THPT Thống Nhất B sau khi tham khảo ý kiến của các Thầy trong tổ Thể dục, các Thầy trong Ban Giám Hiệu, tác giả đưa ra các nội dung học thể dục mà học sinh có thể lựa chọn gồm: thể dục nhịp điệu, bóng đá, bóng chuyền, võ thuật, cầu lông. Ở những nội dung này tuy điều kiện cơ sở vật chất trang thiết bị tập luyện không tốt nhưng Nhà trường có thể cải tạo và áp dụng.
  13. Đối với nội dung võ thuật tùy vào chuyên môn của giáo viên để có thể soạn nội dung phân phối chương trình cho phù hợp. Khi dạy võ thuật cần có sự kết hợp với võ đạo. Do võ thuật mang tính bạo lực nên khi dạy cần chú trọng tới võ đạo để khắc chế tính hiếu chiến, nóng nảy làm cân bằng tính cách người học. Những phần học binh khí cần sử dụng binh khí giả tạo, mền, không bắt mắt, không gây sát thương khi tập luyện. Về trình độ chuyên môn võ thuật của giáo viên trường THPT Thống Nhất B hiện nay có một giáo viên đang theo học Võ thuật cổ truyền tại Huyện Thống Nhất. Hội Võ thuật cổ truyền Tỉnh Đồng Nai đã chứng nhận giáo viên này đạt trình độ Huấn luyện viên trung cấp (cấp 13/18) và đến tháng 6/2013 thi lên cấp 14. Đối với trình độ chuyên môn các môn còn lại giáo viên đều được đào tạo bài bản ở trường Đại học và cũng đã được kiểm chứng qua các lần thi Hội Khỏe Phù Đổng, những lần tham gia trường đều đạt giải cao trong Tỉnh Đồng Nai. Tác giả xin đưa ra hai phân phối chương trình THTP cho hai môn bóng chuyền và võ thuật để Hội đồng khoa học và các Thầy Cô cùng tham khảo (phụ lục 1, phụ lục 2 được trình bày ở cuối đề tài) Phân phối chương trình môn Bóng chuyền đã được sử dụng để huấn luyện đội tuyển và đã cho thấy tính hiệu quả cao. Còn phân phối chương trình Võ thuât tác giả đưa ra trên cơ sở tổng hợp kinh nghiệm và trình độ chuyên môn của những người trong nghề để mọi người cùng tham khảo và có thể áp dụng đối với học sinh THPT. 7.3. Đánh giá khách quan tính hiệu quả khi áp dụng dạy thể dục tự chọn ở trường THPT Thống Nhất B Tính hiệu quả của dạy học TTTC được minh chứng rõ ràng nhất thông qua kết quả những lần trường THPT Thống Nhất B tham gia Hội khỏe Phù Đổng. Ngoài ra tính hiệu quả của TTTC còn được thể hiện qua quá trình thực nghiệm khi tiến hành giảng dạy với ba lớp 12B4, 12B5 và 12B6. 7.3.1. Kết quả học thể dục tự chọn được áp dụng dạy theo phân phối chương trình của Sở GD&ĐT quy định. Theo phân phối chương trình nội dung thể thao tự chọn của khối 12 năm học 2012 – 2013 có các nội dung: Bóng chuyền, bóng đá, bóng rổ, bơi, đẩy tạ. Nội dung thể dục tự chọn hiện nay ở các trường THPT hầu hết là do giáo viên chọn cho học sinh chứ học sinh không có quyền chọn. Lí do: Thứ nhất: Trình độ chuyên môn của giáo viên, đa số giáo viên đều chọn môn sở trường để dạy, nếu để học sinh chọn môn mà giáo viên không giỏi thì hiệu quả giảng dạy sẽ kém đi nhiều. Thứ hai: Tùy vào điều kiện cơ sở vật chất để bố trí tiết học tự chọn cho phù hợp, nếu để học sinh tự chọn mà điều kiện nhà trường không cho phép học môn đó thì không được. Ví dụ: Nếu học sinh chọn nội tự chọn là môn Bơi mà Thầy không giỏi môn Bơi, nhà trường lại không có hồ bơi thì không thể tổ chức học bơi được. Do vậy đối với học sinh thì nội dung học tự chọn về hình thức cũng giống như các nội dung khác học theo phân phối chương trình, tức là đã có nội dung sẵn học sinh chỉ biết học theo nội dung đã chọn.
  14. TTTC chỉ có tính linh động đối với nhà trường, tùy vào điều kiện nhà trường có thể tổ chức dạy nội dung cho phù hợp. Như vậy trong ba năm học THPT học sinh có thể học ba môn tự chọn khác nhau. Từ lớp 10 các em có thể học Thầy A với môn bóng đá nhưng sang lớp 11,12 các em lại học Thầy B với môn đẩy tạ hoặc môn khác. Vì vậy mà kỹ năng môn thể thao tự chọn cũng chỉ giống các môn khác, vẫn chỉ ở mức thô sơ, không có căn bản. Năm học 2012 – 2013 tác giả được phân công dạy 3 lớp 12B4, 12B5, 12B6 và làm công tác kiêm nhiệm. Tác giả tiến hành dạy TTTC đối với 3 lớp trên trong năm học 2012-2013. Khi đưa ra các nội dung học tự chọn và cho học sinh tự chọn môn yêu thích trong các môn đã được quy định (lấy phần đa số học sinh trong lớp để quyết định ý kiến) lớp 12B4 chọn môn Bóng đá, lớp 12B5, 12B6 chọn môn Bơi. Do điều kiện nhà trường chỉ cho phép học Bóng đá nên giáo viên bắt buộc học sinh 3 lớp trên đều phải học Bóng đá. Như vậy nội dung tự chọn giống với nội dung mà lớp 12B4 đã chọn. Là giáo viên dạy ba lớp trên trong từ năm lớp 10 cho lớp 12, thông qua các lần kiểm tra các nội dung học thể dục tác giả nhận thấy khả năng thể dục thể thao của hai lớp 12B4 và 12B6 là tương đương, còn lớp 12B5 thì yếu hơn. Qua thời gian tiến hành giảng dạy, tác giả lấy 2 lớp có sỹ số và trình độ tương đương nhau để so sánh là 12B4 và 12B6, còn lớp 12B5 dùng để tham khảo thêm. Lớp 12B4 sỹ số 43 gồm 11 nam, 32 nữ. Lớp 12B6 sỹ số 44 gồm 13 nam, 31 nữ. Lớp 12B5 sỹ số 39 gồm 12 nam, 27 nữ. Kết thúc nội dung học, tiến hành kiểm tra nội dung đã quy định “đá bóng bằng mu giữa bàn chân”. Kết quả cho thấy lớp 12 B4 tốt hơn so với lớp 12B6 và 12B5. Kết quả kiểm tra được đánh giá thông qua ba giáo viên tổ Thể dục chấm điểm sau đó lấy trung bình cộng điểm (được làm tròn) của ba thầy: Phan Văn Quân (tác giả của đề tài) thầy Vũ Thái Hòa và thầy Bùi Như Phong. Thang điểm từ 1 – 10 và phân ra các nhóm điểm được xếp theo các mức (9-10), (7-8), (5-6), (3-4), (1-2) Về ý thức tự giác tích cực trong quá trình học tập theo tác giả (giáo viên trực tiếp giảng dạy) nhận thấy lớp 12B4 trội hơn lớp 12B6. Ở lớp 12B6 giáo viên phải vất vả thường xuyên theo dõi nhắc nhở học sinh tập luyện còn ở lớp 12B4 thì công việc này giáo viên ít phải làm do các em được học môn mà đa số các bạn trong lớp đã lựa chọn. Kết quả kiểm tra của hai lớp 12B4 và 12B6 được thể hiện qua BẢNG I và BẢNG II. BẢNG I: KẾT QUẢ KIỂM TRA NỘI DUNG TỰ CHỌN “ĐÁ BÓNG BẰNG MU GIỮA BÀN CHÂN” CỦA LỚP 12B4 Lớp 12B4 Điểm 9 - 10 Điểm 7 - 8 Điểm 5 - 6 Điểm 3 - 4 Điểm 1 - 2 Số HS 8/43 23/43 7/43 3/43 2/43 T/lệ % 18.6% 53.4% 16.3% 7% 4.7%
  15. BẢNG II: KẾT QUẢ KIỂM TRA NỘI DUNG TỰ CHỌN “ĐÁ BÓNG BẰNG MU GIỮA BÀN CHÂN” CỦA LỚP 12B6 Lớp 12B6 Điểm 9 - 10 Điểm 7 - 8 Điểm 5 - 6 Điểm 3 - 4 Điểm 1 - 2 Số HS 5/44 14/44 15/44 6/44 4/44 T/lệ % 11.4% 31.8% 34.1% 13.6% 9.1% Lớp 12B5 có thành tích thấp hơn hai lớp trên. Từ kết quả BẢNG I và BẢNG II cho thấy sự chênh lệch về điểm ở các mức như sau: Điểm 9 – 10 của lớp 12B4 có 8/43 học sinh chiếm (18.6%) > lớp 12B6 có 5/44 học sinh (11.4%) Điểm 7 – 8 của lớp 12B4 có 23/43 học sinh chiếm (53.4%) > lớp 12B6 có 14/44 học sinh (31.8%) Điểm 3 – 4 của lớp 12B4 có 3/43 học sinh chiếm (7%) < lớp 12B6 có 6/44 học sinh (13.6%) Điểm 1 – 2 của lớp 12B4 có 2/43 học sinh chiếm (4.7%) < lớp 12B6 có 4/44 học sinh (9%) Kết quả trên cho thấy tỉ lệ học sinh có điểm 7 – 10 của lớp 12B4 lớn hơn lớp 12B6. Tỉ lệ học sinh có điểm 1 – 4 của lớp 12B4 bé hơn lớp 12B6. Điều đó chứng tỏ nếu được học các môn phù hợp với sở thích và sở trường của bản thân thì thành tích sẽ cao hơn rất nhiều. Giáo viên đỡ vất vả trong giảng dạy học sinh lại có thành tích cao từ đó cho thấy hiệu quả giáo dục thể chất được tăng lên. Giả sử nếu lớp 12B4 không được học nội dung tự chọn bóng đá mà thay vào đó là nội dung khác thì chắc chắn hiệu quả giáo dục thể chất cũng giống như lớp 12B6 kết quả kiểm tra sẽ thấp hơn nhiều. Kết quả kiểm tra nội dung bóng đá của hai lớp được thể hiện qua biểu đồ dưới đây.
  16. Tỷ lệ % 60 50 12B4 12B6 40 30 20 10 0 Điểm 9-10 7-8 5-6 3-4 1,2 Biểu đồ thể hiện mức chêch lệch điểm kiểm tra của hai lớp 12B4 và 12B6 Ngoài ra thành tích thể thao của hai lớp trên còn được kiểm chứng thông qua giải bóng đá nữ trường THPT Thống Nhất B được tổ chức chào mừng ngày 26-3-2013. Lớp 12B4 đạt giải Nhất. Lớp 12B6 bị loại từ vòng 2 (lớp 12B5 bị loại ngay vòng đầu tiên) Điều này càng chứng tỏ tính hiệu quả của việc tự chọn nội dung học của học sinh trong việc nâng cao thể lực và kỹ thuật môn học. Ở đây kết quả mới chỉ đánh giá với mức độ bình thường với thời lượng giảng dạy không nhiều nhưng nó cũng đánh giá được tính hiệu quả trong việc lựa chọn nội dung học tự chọn của học sinh. Nếu cùng nội dung này được thực hiện giảng dạy trong ba năm học THPT thì kết quả kiểm tra còn cao hơn rất nhiều. 7.3.2. Đánh giá kết quả qua các kỳ thi Hội khỏe Phù Đổng những năm gần đây. Trong nhiều năm gần đây trường THPT Thống Nhất B luôn có sự đầu tư cho việc dạy và học thể dục trong đó có sự đầu tư huấn luyện đội tuyển Hội khỏe Phù Đổng (HKPĐ). Qua các kỳ Hội khỏe tham gia trường đều đạt được những thành tích nhất định. Năm 2000 trường tham gia với ba nội dung: bóng chuyền nam, bóng chuyền nữ và cờ vua. Kết quả huy chương vàng Bóng chuyền nam, huy chương bạc bóng chuyền nữ.
  17. Đội bóng chuyền nam được đại diện cho Tỉnh Đồng Nai thi tài tại Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc tại Đồng Tháp. Năm 2004 trường tham gia với 5 nội dung: Bóng chuyền nam, bóng chuyền nữ, cờ vua, điền kinh, taekwondo. Kết quả đạt: 01 huy chương bạc Taekwondo, 01 huy chương vàng và 01 huy chương bạc Cờ vua nam, 01 huy chương vàng đồng đội Cờ vua nam. Huy chương đồng Bóng chuyền cả nam và nữ. Cả hai đội tuyển bóng chuyền nam và nữ đều được đại diện cho Tỉnh Đồng Nai tham gia Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc tại Huế. Năm 2008 trường tham gia các nội dung: Bóng chuyền nam, Bóng chuyền nữ, Điền kinh và Cờ vua. Kết quả đạt: huy chương đồng Bóng chuyền nữ. 01 huy chương bạc, một huy chương đồng Điền kinh. 01 huy chương vàng, 01 huy huy chương bạc đồng đội nam môn cờ vua. Năm 2012 trường tham gia với các môn: Bóng chuyền nam, Bóng chuyền nữ, Cờ vua, Taekwondo, bóng đá nữ, điền kinh. Kết quả đạt: huy chương bạc Bóng chuyền nam, huy chương đồng Bóng chuyền nữ, huy chương đồng Bóng đá nữ, 02 huy chương đồng môn Taewondo, 01 huy chương vàng, một huy chương đồng và 01 huy chương bạc đồng đội nam môn cờ vua. Có thể nói trong các kỳ Hội khỏe Phù Đổng gần đây mà trường THTP Thống Nhất B tham gia đều gặt hái được những thành tích cao. Điều đó cho thấy Nhà trường đã có sự đầu tư đúng hướng. Để có được thành tích như vậy tổ Thể dục cùng nhà trường phải lên kế hoạch luyện tập chuẩn bị trong hai năm rưỡi. Từ năm học thứ nhất qua cuộc họp tổ đầu năm, các thành viên trong tổ tự đăng ký môn huấn luyện cho Hội khỏe Phù Đổng. Ngay từ khi học sinh vào học lớp 10 lứa tuổi mà khi học lên hết học kỳ I cuả lớp 12 thì vừa đúng với kỳ tổ chức Hội khỏe Phù Đổng. Tổ Thể dục tiến hành cho học sinh chọn các môn thể thao mà các giáo viên trong tổ đã đăng ký từ trước để tiến hành tuyển chọn và tập luyện phục vụ cho Hội khỏe. Sau đó tiến hành tập luyện hết học kỳ I của năm thứ nhất, sang học kỳ II giáo viên phụ trách từng bộ môn sẽ tuyển chọn những học sinh nổi trội hơn để tiến hành tập luyện trong những năm tiếp theo, những học sinh yếu hơn bị loại ra khỏi đội tuyển. Trong những năm tiếp theo giáo viên phụ trách huấn luyện nếu phát hiện học sinh có đủ điều kiện tập luyện và thi đấu thì có thể bổ sung lực lượng cho đội tuyển. Như vây các đội tuyển Hội khỏe Phù Đổng chủ yếu là các em học sinh tự đăng ký vào, với lòng yêu thích các môn thể thao các em đã chọn và tình nguyện tập luyện để thi đấu cho Nhà trường. Đội tuyển HKPĐ được chọn sẽ được xếp lớp riêng cũng với 2 tiết/01 tuần trong thời gian hai năm rưỡi các em được huấn luyện từ cớ bản đến nâng cao của môn mà các em đã lựa chọn. Như vậy một đội tuyển tập luyện chú trọng cho một môn thể thao cho thấy những học sinh này có kỹ năng tốt về môn thể thao đó, sau này ra trường các em có thể sử dụng kỹ năng thể thao này phục vụ cho các cuộc thi tài đỉnh cao nếu được tiếp tục tập luyện. Việc huấn luyện đội tuyển do các giáo viên trong tổ thực hiện chủ yếu là tình nguyện chứ kinh phí đem lại không đáng bao nhiêu. Công việc giảng dạy với các lớp học giáo viên vẫn đảm bảo đầy đủ hiệu quả theo sự phân công chuyên môn.
  18. Hiệu quả của việc tập luyện thể thao tự chọn phục vụ cho Hội khỏe như chúng ta đã thấy ở trên, các nội dung của trường tham gia đều đạt giải cao. Điều đó chứng tỏ việc học TTTC đem lại hiệu quả cao về thành tích cũng như cho việc phát triển thể chất cho học sinh. Về thể lực, về kỹ năng thể thao các em đội tuyển hội khỏe đều hơn các học sinh còn lại ở trường, khi các em chỉ được học thể dục theo phân phối chương trình của Sở GD&ĐT. Có thể nói rằng những học sinh được chọn đa số đều có tố chất cũng như năng khiếu nổi trội hơn các bạn còn lại, nhưng nếu số học sinh này không được học thể dục tự chọn, không được huấn luyện trong ba năm cấp ba thì thành tích thể thao của các em cũng chẳng hơn các bạn còn lại trong trường là bao nhiêu. Ngược lại nếu số học sinh đang học theo phân phối chương trình nếu được học tự chọn một môn thể thao trong ba năm học thì chắc chắn kỹ năng thể thao về môn đó cũng được hoàn thiện và thể lực cũng được tăng lên rất nhiều so với trước.
  19. III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI - Về nghiên cứu thực trạng GDTC trong nhà trường hiện nay: Giúp những người làm công tác GDTC trường học thấy được thực trạng đang diễn ra hiện nay, những tồn tại yếu kém, nguyên nhân gây ra, từ đó tìm ra biện pháp khắc phục. - Về xây dựng nội dung chương trình học thể dục tự chọn Tạo ra chương trình mở về TTTC cho các trường có thể tham khảo và lựa chọn nội dung và cách làm phù hợp nhất. Dự đoán những khả năng có thể xảy ra khi áp dụng dạy học TTTC từ đó giúp cho các trường chủ động thực hiện kế hoạch giảng dạy. Tạo nguồn lực lượng dồi dào, đa dạng phục vụ cho cho các cuộc thi TDTT và đặc biệt là Hội khỏe Phù Đổng. Với hai phân phối chương trình Võ thuật và Bóng chuyền góp phần tạo thêm nguồn tài liệu sử dụng cho dạy TTTC, những trường có điều kiện có thể áp dụng phân phối chương trình này cho giảng dạy. - Về tính hiệu quả khi áp dụng dạy học TTTC + Tính hiệu quả khi áp dụng với TTTC dạy theo phân phối chương trình của Sở GD&ĐT. Kết quả nghiên cứu cho thấy về thành tích cũng như tính tự giác tích cực khi học TTTC của lớp 12B4 cao hơn lớp 12B6. Thành tích điểm kiểm tra của lớp 12B4 từ 7  10 điểm chiếm 72% lớn hơn so với lớp 12B6 chiếm 45.2%. Thành tích điểm kểm tra của lớp 12B4 từ 1 4 điểm chiếm 11.7% ít hơn nhiều so với lớp 12B6 chiếm 22.7% Tính hiệu quả còn được thể hiện thông qua giải bóng đá trường Thống Nhất B với giải nhất thuộc về lớp 12B4, còn lớp 12B6 chi vượt qua vòng 1 rồi bị loại. Từ đó có thể cho thấy tính hiệu quả GDTC. Một khi học sinh được lựa chọn môn học phù hợp với bản thân thì các em sẽ tích cực tự giác tập luyện và đem lại kết quả cao. + Tính hiệu quả khi được áp dụng dạy TTTC trong ba năm học THPT cho học sinh Nếu như thành tích học TTTC theo phân phối chương trình cuả Sở GD&ĐT chỉ dừng lại ở việc kiểm tra trên lớp với những quy định về thang điểm tương đối dễ dàng thì thành tích khi học TTTC trong hai năm rưỡi để thi HKPĐ được đánh giá tiêu chuẩn về thành tích cao hơn nhiều. Đây có thể nói là cuộc thi tài đỉnh cao ở lứa tuổi học sinh, vậy mà trường THTP Thống Nhất B vẫn đạt được nhiều thành tích cao trong các lần tham dự. Tại cuộc thi này thành tích thể thao của trường đã được ghi nhận bằng nhiều huy chương Vàng, Bạc, Đồng. Từ đó có thể thấy việc áp dụng cho học sinh học TTTC chuyên môn hóa một môn trong ba năm THPT thì sẽ thu được thành tích cao, điều đó chứng tỏ hiệu quả GDTC trong nhà trường được nâng lên nhiều so với chương trình học hiện tại.
  20. Áp dụng dạy TTTC sẽ giải quyết được vấn đề hứng thú học tập, được học môn học theo sở thích sẽ thúc đẩy học sinh tự giác tích cực, nghiêm túc trong học tập Đối với giáo viên chỉ phải tập trung chuyên môn cho một hoặc hai nội dung thay vì phải dàn trải chuẩn bị nhiều nội dung như trước, như vậy giáo viên sẽ có thời gian đầu tư chiều sâu về chuyên môn hơn, tạo điều kiện tốt nhất cho giảng dạy. Trong dạy học TTTC đa số học sinh đều có ý thức tập luyện do đó giáo viên cũng giảm bớt gánh nặng trong việc phải luôn kèm cặp thúc dục học sinh học tập. Với mục đích nâng cao hiệu quả GDTC trường học, dạy học TTTC đã đáp ứng được mục đích đó và được kiểm chứng qua quá trình nghiên cứu với đối tượng học sinh THPT. Dạy học TTTC đã đem lại hiệu quả cao trong việc phát triển tố chất và kỹ năng vận động, nâng cao sức khỏe cho học sinh, góp phần trong kế hoạch lâu dài để cải thiện giống nòi. Đó cũng chính là mục đích cao nhất của GDTC trường học. IV. ĐỀ XUẤT VÀ KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG - Giáo dục thể chất trường học hiện nay rất cần được các cấp các ngành đầu tư đổi mới toàn diện về cơ sở vật chất trang thiết bị, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên, hướng dẫn viên, huấn luyện viên TDTT, đổi mới nội dung chương trình học, phương pháp giảng dạy … - Dạy TTTC áp dụng cho đội tuyển HKPĐ tại trường THPT Thống Nhất B cần được duy trì. Ngoài ra cần được áp dụng cho toàn trường được học TTTC. - Cần có chính sách đãi ngộ hợp lý tới những người làm công tác TDTT. - Dạy học TTTC cần được áp dụng cho trường THPT Thống Nhất B nói riêng và các trường THPT nói chung.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản