intTypePromotion=1
ADSENSE

Báo cáo giải pháp công tác quản lý Tiểu học: Một số biện pháp chỉ đạo công tác soạn giảng để nâng cao chất lượng giảng dạy ở trường tiểu học

Chia sẻ: Dung Hoang | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:13

9
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Báo cáo tìm hiểu thực trạng thiết kế, kế hoạch bài học và đề xuất một số biện pháp chỉ đạo công tác soạn giảng để nâng cao chất lượng giảng dạy ở trường tiểu học Lê Lợi.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo giải pháp công tác quản lý Tiểu học: Một số biện pháp chỉ đạo công tác soạn giảng để nâng cao chất lượng giảng dạy ở trường tiểu học

  1. CỘNG HÒA XàHỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập ­ Tự do ­ Hạnh phúc BÁO CÁO GIẢI PHÁP CÔNG TÁC QUẢN LÝ I. SƠ LƯỢC BẢN THÂN ­ Họ và tên: Phạm Văn Chung                                 Năm sinh: 1967 ­ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Đại học ­ Chức năng, nhiệm vụ được phân công: Phó Hiệu trưởng ­ Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Lê Lợi II. NỘI DUNG 1. Tên giải pháp: Một số biện pháp chỉ đạo công tác soạn giảng để nâng  cao chất lượng giảng dạy ở trường Tiểu học.  2.  Nêu thực trạng tình hình của tập thể  khi chưa thực hiện giải pháp   quản lý. 2.1. Thực trạng thiết kế, kế hoạch bài học. Trong năm học 2017­2018 qua kiểm tra kế hoạch bài học hàng tuần và  đột xuât́  cũng như  tổng kiểm tra hồ  sơ  2  lần trong năm học, chúng tôi nhận  thấy có sự  khác biệt  ở  các nhóm giáo viên khác nhau. Đối với giáo viên tuổi   cao hoặc hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn thì sự đầu tư cho soạn bài rất   hạn chế. Việc lập kế  hoạch bài học chỉ  như  là sao chép lại mà không có sự  đầu tư nào khác, không chú ý đến đối tượng học sinh cũng như cơ sở vật chất  phục vụ cho bài giảng. Những điều đó làm cho chất lượng giảng dạy hiệu quả  không cao. Đối với những giáo viên có trình độ  chuyên môn vững thì đã có sự  đầu tư nhất định. Khi lập kế hoạch bài học họ đã có sự lựa chọn phương pháp  giảng dạy cũng như tính đến các yếu tố: Học sinh, phương tiện dạy học, mày  mò tìm tòi các tài liệu tham khảo, chú trọng tới việc phát huy tính chủ  động,  sáng tạo của học sinh. Tuy nhiên số giáo viên này chỉ chiếm tỉ lệ không nhiều. Sau đây là kết quả phân loại hồ sơ giáo viên trong năm học 2017­2018.   Tổng số hồ sơ được xếp loại: 18 bộ/18 giáo viên 
  2. ­ Xếp loại tốt: 6 bộ; Tỉ lệ: 33,3%     ­ Xếp loại khá: 8 bộ; Tỉ lệ: 44,5%      ­ Xếp loại trung bình: 4 bộ; Tỉ lệ: 22,2%      Việc phân loại kế  hoạch bài học mới chỉ  dừng  ở  mức những tiêu chí  sau:    ­   Loại  tốt:   Đủ   bài   soạn,   không   nhầm   lẫn   kiến   thức,   không   cắt   xén  chương trình, đủ các bước lên lớp, trình bày sạch sẽ, có hệ  thống câu hỏi gợi  mở hướng dẫn học sinh.   ­ Loại khá: Như các tiêu chí của loại tốt nhưng còn một số bài soạn sơ  lược.    ­ Loại trung bình: Bài soạn sơ lược nhiều, trình bày chưa khoa học.  * Tóm lại: Một bộ  phận giáo viên nòng cốt có ý thức trách nhiệm tốt  đầu tư  nhiều cho bài soạn. Song song với những thiết kế  tốt vẫn còn nhiều  giáo án sơ  lược, chưa chú ý đúng mức đến phương pháp dạy học đặc thù đối  với từng đối tượng học sinh, những giáo án này thể hiện trình độ  chuyên môn  hạn chế của giáo viên, năng lực sư phạm hạn chế hoặc bị  ảnh hưởng của lối   làm việc được chăng hay chớ, thiêu đ ́ ầu tư suy nghĩ tìm tòi.  2.2. Thực trạng về thi công bài giảng trên lớp.               Đối với nội dung bài giảng, trong quá trình kiểm tra giờ  dạy của   Ban  giám hiệu cũng như qua các biên bản nhận xét giờ dạy của các tổ khối chuyên  môn có thể nhận định như sau.          Số lượng giờ lên lớp đảm bảo được mục tiêu đề ra chiếm khoảng 80%.   Số  giờ  dạy không sử  dụng đồ  dùng trực quan chiếm 25%, số giờ tổ  chức tốt   lớp học chiếm 75%. Số giờ dạy học chỉ chú ý đến phương pháp mà không chú  nhiều đến nội dung chiếm 20%. Số giờ áp dụng các phương pháp thuyết trình   một cách đơn thuần chiếm tới 25%.         Từ  những số  liệu nêu trên cho thấy việc thực hiện tốt cả  ba  phương  diện: Mục tiêu, nội dung, phương pháp chiếm tỉ lệ còn thấp. Đặc biệt các giờ  dạy chay chiếm quá nhiều cho thấy việc đầu tư  tìm tòi, tận dụng khả  năng  hiện có của cơ sở vật chất nhà trường cũng như bản thân giáo viên còn nhiều   hạn chế. Điều này một mặt do tâm lý ngại chuẩn bị  đồ  dùng dạy học, mặt 
  3. khác cũng cho thấy bộc lộ rõ nét việc sử dụng trang thiết bị dạy học còn nhiều   lúng túng  ở  nhiều giáo viên. Bên cạnh đó, việc thực hiện giờ  lên lớp đối với  giáo viên có thâm niên công tác lâu năm thì thường chú ý đến nội dung bài là  chính sao   cho truyền  đạt   hết nội dung  bài là  được,  còn  việc sử  dụng các  phương pháp dạy học tích cực thì thực hiện chậm. Còn các giáo viên trẻ  lại   theo xu hướng ngược lại, nghĩa là chú ý quá nhiều đến phương pháp mà không  mở rộng, làm rõ nội dung cần lĩnh hội cho học sinh.        Từ  thực trạng như vậy dẫn đến chất lượng học tập của học sinh chưa  được cao, học sinh tiếp nhận tri thức một cách thụ động, kiến thức không sâu,   thiếu tính bền vững.            Chất lượng giáo dục cuối năm học 2017 – 2018 là:  Tổng số học sinh: 267 (trong đó 05 học sinh khuyết tật không đánh giá) Hoàn thành tốt: 52 học sinh; Tỉ lệ: 19,9% Hoàn thành: 196 học sinh; Tỉ lệ: 74,8% Chưa hoàn thành: 14 học sinh; Tỉ lệ: 5,3% 3.  Những yếu tố khách quan, chủ quan trong việc đưa ra giải pháp.           Trong một vài năm trở  lại đây, xu hướng đổi mới công tác soạn giảng   ngày càng trở nên cần thiết. Một trở ngại không nhỏ cản trở quá trình đổi mới  việc soạn giáo án và thực thi giờ  dạy trên lớp chính là do thói quen ngại đổi   mới của một bộ phận không nhỏ  giáo viên. Thực tế cho thấy nhiều giáo viên  muốn giữ nề nếp soạn giáo án theo cách truyền thống mà ở đó giáo án chỉ là sự  ghi chép lại nội dung đã có ở sách giáo khoa mà không đưa ra các phương pháp  dạy học thích  ứng với từng giai  đoạn học tập của học sinh. Sự  lựa chọn  phương pháp giảng dạy cũng gặp nhiều khó khăn do thói quen dễ  dãi trong  soạn giảng, trình độ  giáo viên còn nhiều bất cập. Hiện tượng thầy giảng trò  nghe, trò chép vẫn là hiện tượng phổ  biến, từ  đó chất lượng giờ  giảng cho   hiệu quả thấp, không gây được hứng thú cũng như  óc sáng tạo, tích cực hoạt   động của trò.          Thực trạng soạn bài và thực hiện bài dạy  ở  trên lớp của giáo viên của   đơn vị những năm gần đây còn nhiều bất cập, đó là: Tính hình thức, soạn bài   mà không có sự  sáng tạo, linh hoạt trong quá trình chuẩn bị  bài dạy, ít được  
  4. đầu tư  công sức cho quá trình này. Việc lên lớp thực hiện bài dạy còn không   chú ý đến các hình thức dạy học, chưa coi trọng đổi mới phương pháp và ít sử  dụng đồ  dùng dạy học làm cho giờ dạy tẻ nhạt thiếu sức hút, không phát huy  hết tính tích cực các hoạt động của học sinh.  4. Các giải pháp quản lý. 4.1. Chỉ đạo công tác xây dựng kế hoạch giảng dạy hàng tuần. Tổ khối chuyên môn ở trường Tiểu học là đơn vị trực tiếp quản lý hoạt   động   chuyên   môn   của   mỗi   thành   viên   trong  tổ.   Để   tiện   cho   việc   chỉ   đạo  chuyên môn của tổ  trưởng nhà trường đã biên chế  3 tổ  chuyên môn.Tổ  1,Tổ  2+3,Tổ  4+5. Việc chỉ  đạo công tác xây dựng kế  hoạch giảng dạy được triển  khai trực tiếp từ ban giám hiệu tới tổ trưởng tổ chuyên môn. Trong quản lý chỉ  đạo xây dựng kế hoạch giảng dạy một mặt phải phát huy vai trò tự  chủ  sáng  tạo   của   tổ   đồng   thời   phải   chỉ   đạo   sát   sao   theo   kế   hoạch   chung   của   toàn  trường. Căn cứ để xây dựng kế hoạch giảng dạy là phân phối chương trình và   thời khoá biểu hàng ngày trong tuần. Bên cạnh đó là các hoạt động ngoài giờ  lên lớp của nhà trường hoặc các nội dung khác do Phòng Giáo dục chỉ đạo như  kế hoạch bồi dưỡng chuyên đề, bồi dưỡng sử dụng đồ dùng dạy học... Từ đó   các tổ chuyên môn sẽ bàn bạc và xây dựng kế hoạch lên lớp hàng ngày sao cho   đúng chương trình và thời khoá biểu, đồng thời vạch kế  hoạch sử  dụng đồ  dùng dạy học cho từng tiết học căn cứ  vào danh mục đồ  dùng dạy học hàng  tuần do cán bộ  thư  viện­thiết bị  trường lập. Kế  hoạch sau khi lập xong sẽ  được Ban giám hiệu ký duyệt trước một tuần và các thành viên trong tổ  thực  hiện. Đó chính là cơ sở pháp lý để kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch   bài học một cách chính xác, đảm bảo tính hệ  thống kiến thức, đảm bảo mục  tiêu từng bài học, tìm ra những phương pháp giảng dạy thích hợp cho từng nội   dung bài học, có tính định hướng trước cho học sinh chuẩn bị học tập.  4.2. Chỉ đạo công tác soạn bài để nâng cao chất lượng giảng dạy. *Nghiên cứu và xác định mục tiêu bài giảng. Tổ chuyên môn được giao nhiệm vụ nghiên cứu, vạch kế hoạch bàn bạc  thống nhất cách xác định mục tiêu cho các môn học sao cho phù hợp với đối  tượng học sinh và đảm bảo sát với yêu cầu cơ  bản về  kiến thức và kỹ  năng  chung do Bộ giáo dục ban hành. Trước hết các tổ chuyên môn sinh hoạt ít nhất  
  5. 2 lần/ tháng, ở đó tài liệu về yêu cầu cơ bản về kiến thức và kỹ năng của các  môn học được triển khai đến từng thành viên.  Các cuộc họp của tổ  chuyên  môn bao giờ  cũng có đại diện Ban giám hiệu dự để có ý kiến chỉ  đạo cụ  thể  và kịp thời. Từ  đó giúp giáo viên điều chỉnh lại mục tiêu để  phù hợp với tình  hình học sinh trong lớp mình và đảm bảo yêu cầu cơ bản tối thiểu so với mặt   bằng chung.       ́ ́ ́ ̀ ̀ ̀ ̣ .  *Thông nhât cach trinh bay bai soan        Thống nhất về  nội dung và hình thức thể  hiện các loại bài soạn. Với  những giáo viên khá giỏi, dạy lâu năm thì yêu cầu bài soạn khác với những   giáo viên mới ra trường. Hinh th ̀ ưc trinh bay bai soan phai phù h ́ ̀ ̀ ̀ ̣ ̉ ợp với nội dung  bài dạy. Tư đâu năm hoc nha tr ̀ ̀ ̣ ̀ ương phân công môt sô giao viên co kinh nghiêm ̀ ̣ ́ ́ ́ ̣   như  tô tr ̉ ưởng chuyên môn, giao viên day gioi tham gia vao viêc xây d ́ ̣ ̉ ̀ ̣ ựng câu ́  ̣ truc bai soan cho t ́ ̀ ưng môn hoc. Sau đo đ ̀ ̣ ́ ưa ra lây y kiên tham khao rông rai va ́ ́ ́ ̉ ̣ ̃ ̀  ́ ́ ̀ ̀ ̣ thông nhât chung, in thanh tai liêu phat cho t ́ ưng giao viên đê th ̀ ́ ̉ ực hiên. Nh ̣ ờ đó  ̣ ̀ ̣ ̉ moi bai soan cua giao viên trong tr ́ ương đêu theo môt câu truc thông nhât, chât ̀ ̀ ̣ ́ ́ ́ ́ ́  lượng bai soan đ ̀ ̣ ược nâng lên môt b ̣ ươc gop phân vao nâng cao chât l ́ ́ ̀ ̀ ́ ượng day ̣   ̣   hoc.       *Kiểm tra việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên. ̉ ̣         Kiêm tra viêc thống nhất cách soạn của từng môn học ở  từng khối lớp.  Các dạng bài soạn giờ  ôn tập, kiểm tra, thực hành. Yêu cầu về  giáo án của   giáo viên mới ra trường, của giáo viên giỏi, của giáo viên cần cố  gắng. Chọn   câu hỏi, xác định kiến thức trọng tâm của bài cần khắc sâu, rèn kỹ năng gì? Và   đồ dùng dạy học phải chuẩn bị.         Để quản lý tốt việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên, Ban   ́ ệu cần chú trọng đến các hình thức kiểm tra:  giam hi ­ Kiểm tra đột xuất.  ­ Kiểm tra trước giờ lên lớp.            ­ Kiểm tra sau dự giờ.  ­ Kiểm tra định kì cùng tổ trưởng chuyên môn.  ­ Kiểm tra chéo trong buổi sinh hoạt chuyên môn.  ̉ ­ Kiêm tra đồ dùng trực quan cho giờ dạy.
  6.   ­ Trang thiết bị cho giờ dạy.          ­ Giờ học ngoài trời (địa điểm học, kế hoạch quản lý học sinh).     4. 3. Tổ chức chỉ đạo nâng cao chất lượng giờ dạy.             * Xây dựng các giờ dạy mẫu.    Ban giám hiệu chỉ  đạo giáo viên cốt cán, thông thường là tổ  trưởng tổ  chuyên môn cùng xây dựng các giờ dạy có chất lượng, làm mẫu cho giáo viên  dự  giờ. Tiến hành rút kinh nghiệm, đánh giá những mặt tích cực về  phương  pháp dạy học, về nội dung và phong thái của giáo viên. Từ những giờ dạy mẫu  này, sau khi đã thử  nghiệm thì tiến hành nhân rộng ra toàn khối, toàn trường.  Việc xây dựng giờ dạy mẫu được tiến hành công phu, từ việc chọn bài dạy, tổ  chức thiết kế bài soạn, cân nhắc phương pháp giảng dạy nào phù hợp với từng   giai đoạn nào, cách sử dụng đồ dùng trực quan... Có như vậy giờ dạy mẫu mới   thành công và đem lại hiệu quả khi triển khai đại trà.       *Tăng cường dự giờ thăm lớp, bồi dưỡng giúp đỡ giáo viên.           Để  nâng cao chất lượng giờ  dạy một công việc quan trọng của nhà  trường là tăng cường công tác kiểm tra chuyên môn. Trong đó dự  giờ thường  xuyên các đối tượng giáo viên đặc biệt là những giáo viên  còn hạn chế  về  chuyên môn là công việc có ý nghĩa quyết định. Việc dự  giờ  được tiến hành  theo kế hoạch hàng tháng, hàng tuần một cách thường xuyên sẽ giúp giáo viên  đứng lớp trước hết có tâm thế vững vàng, bởi không ít giáo viên khi có người   dự thì dễ bị lúng túng, quan trọng hơn là giúp giáo viên có ý thức chuẩn bị bài   tốt hơn, tự tin và có cố gắng hơn trong việc áp dụng các phương pháp mới tích   cực hơn trong hoạt động của học sinh. Vì sau dự  giờ  đều có rút kinh nghiệm   chỉ rõ nhược điểm để khắc phục sửa chữa.          * Tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và trang thiết bị dạy học   trong giờ lên lớp.          Việc đầu tư cơ sở vật chất, đảm bảo điều kiện ghế ngồi, ánh sáng cho  học sinh góp phần quan trọng không nhỏ  giúp nâng cao chất lượng giảng dạy  nói chung và từng bài học nói riêng. Mặt khác, việc mua sắm thêm thiết bị đồ  dùng dạy học và sử dụng đồ dùng trực quan trong từng tiết học được chỉ đạo   sát sao. Trước hết cần sử  dụng có hiệu quả  đồ  dùng sẵn có, hàng tuần nhân  viên thư  viện thiết bị  đều có thông báo rõ ràng môn tiết, tên đồ  dùng để  giáo 
  7. viên nắm được và có kế hoạch mượn để sử dụng. Mặt khác mỗi giáo viên đều   có từ  1  đến  2 đồ  dùng tự  làm có giá trị  đóng góp vào kho đồ  dùng để  dùng  chung. Nhà trường định kì và đột xuất kiểm tra việc sử dụng đồ dùng trên lớp.   Tuy nhiên việc phát huy ý thức trách nhiệm của các cá nhân và vai trò giám sát,  chỉ  đạo của tổ  chuyên môn mang tính quyết định. Bên cạnh đó các lớp học  được trang bị đầy đủ mỗi lớp một tủ để giáo viên quản lí đồ dùng dạy học và  tiện lợi trong việc sử dụng.  .   4.4. Tổ  chức các phong trào thi đua, phát huy vai trò của các đoàn thể  trong việc nâng cao chất lượng dạy học.           Công đoàn và Đoàn thanh niên có vai trò rất lớn trong việc động viên các   đoàn viên của mình tham gia xây dựng tập thể và nâng cao chất lượng chuyên  môn. Thông qua các đợt thi đua, nhà trường phối hợp với Công đoàn – Chi đoàn   tạo ra những đợt thi đua sôi nổi, tạo không khí phấn khởi hào hứng trong cán  bộ giáo viên, qua đó ý thức chuẩn bị bài dạy, ý thức trách nhiệm trong giờ dạy  được nâng lên rõ rệt đã có tác động to lớn đến chất lượng chuyên môn nói  chung và chất lượng từng giờ dạy nói riêng. Tiếng nói chung của tập thể  bao   giờ  cũng lôi cuốn được mọi người tham gia khi đó trở thành phong trào tốt thì  hiệu quả là rất lớn.       4.5. Tổ chức công tác kiểm tra.        ̣ ́ ̉ ểm tra:  * Muc đich cua ki        Kiểm tra việc thực hiện chương trình nhằm giúp giáo viên:         ­ Thực hiện đúng, đủ chương trình từng môn học, ở từng khối lớp.         ­ Đảm bảo truyền thụ đủ, đúng nội dung kiến thức, kĩ năng cơ bản  của  từng môn học ở từng khối lớp của từng dạng bài.       ­ Có hình thức tổ chức dạy học phù hợp cho từng môn học của từng  khối lớp.       ­ Giúp giáo viên nắm vững chương trình của từng môn học của từng  khối lớp mà mình phụ trách.      * Kế  hoạch kiểm tra việc thực hiện chương trình ở  các môn học gôm: ̀        ­  Tổ  trưởng kiêm tra k ̉ ế  hoạch giảng dạy 1 tuần/lần, trước buổi sinh   hoạt chuyên môn, Ban giam hiêu ki ́ ̣ ểm tra việc lên kế hoạch giảng dạy của tổ  trưởng có đúng với kế hoạch giảng dạy do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định  
  8. và chỉ  đạo của Phòng Giáo dục và Đào tạo xong, sau đó mới cho phổ  biến  ở  tổ.         ­ Dự  các buổi sinh hoạt tổ  chuyên môn: Phân công để  trong môt tháng, ̣   sinh hoạt của môt t ̣ ổ  chuyên môn có môt đai diên  ̣ ̣ ̣ Ban giám hiệu vào dự, cùng  xây dựng và giải quyết những vấn đề  còn vướng mắc trong chuyên môn của  tổ.          ­ Dự giờ thăm lớp: Để chọn giáo viên dạy giỏi các cấp, để kiểm tra việc   triển khai chuyên đề, để kiểm tra theo định kì và bồi dưỡng nâng cao khả năng,  nghệ thuật giảng dạy cho giáo viên dưới hai hình thức: Báo trước và đột xuất.       *  Kiểm tra giơ day trên l ̀ ̣ ớp.         Mọi mặt của quá trình dạy học được phản ánh trong giờ lên lớp. Từ môṭ   giờ  lên lớp chúng tôi phát hiện ra nhiều mối liên hệ  đến vấn đề  học tập của  học sinh. Kinh nghiệm dạy và học và tình hình quản lý các bộ  phận phục vụ  trong trường (Thư viện, thiết bị dạy học).         Qua kiểm tra giờ  lên lớp của giáo viên Ban giam hiêu n ́ ̣ ắm được khả  năng tổ chức điều khiển học sinh học tập, truyền thụ kiến thức, phương pháp  dạy và học phù với từng đối tượng của lớp, việc thực hiện đổi mới phương  pháp dạy học. Việc rèn kỹ năng và hướng dẫn học sinh phương pháp học tập  từng bộ môn, cách học ở nhà, cách học ở lớp của từng giáo viên.  ̣         Ban giam hiêu đã v ́ ận dụng nhiều hình thức dự giờ khác nhau:         ­ Dự giờ các giáo viên khác nhau để kiểm tra chất lượng giảng dạy, học   tập của từng giáo viên trong lớp cụ thể.         ­ Dự giờ các giáo viên cùng môt b ̣ ộ môn ở các lớp khác nhau để so sánh   trình độ  của họ, rút ra  ưu nhược điểm chính của mỗi người, phát hiện ra  những vấn đề cần điều chỉnh trong phương pháp dạy và học môn đó.         ­ Dự  giờ  theo chuyên đề  nắm chắc trình độ  của môt giáo viên hay môt ̣ ̣  lớp học sinh nhằm rút kinh nghiệm về một nội dung cần tập trung giải quyết.  ̣          Ban giam hiêu đã th ́ ống nhất những việc cần làm khi dự  giờ  được tiến   ̣ hành theo môt quy trình thông nhât: Chu ́ ́ ẩn bị, dự giờ, phân tích trao đổi, đánh  giá,   kiến   nghị.        ­  Chuẩn bị:  Lập kế  hoạch dự  giờ, xác  định vị  trí  của bài học trong 
  9. chương trình, mục đích của bài giảng và dự  kiến hoạt động của thầy và trò.   Dự kiến nội dung cần quan sát và ước định những tiêu chuẩn đánh giá giờ dự.        ­ Dự giờ: Quan sát diễn biến thực tế  của bài lên lớp, thu thập thông tin   phục vụ cho mục đích dự giờ.         Quá trình quan sát này thực hiện theo tiến trình các tình huống dạy và   học, theo các tuyến thây ­  ̀ trò ­ thiết bị dạy học và phản ánh các sự kiện chính  của quá trình lên lớp cùng những nhận xét tức thời về các sự kiện đó.        + Phân tích ­ trao đổi: Chế biến những thông tin có được từ giai đoạn dự  giờ  trên cơ  sở  trình độ  tư  duy sư  phạm của từng thành viên trong   Ban giam ́   ̣ hiêu. Phân tích giờ học không đơn giản là sắp xếp lại các nhận xét vụn vặt về  giờ  học mà phải khái quát hoá sư  phạm nâng những nhận xét này thành nhận   định tổng quát hơn và nêu lên những lý lẽ  của những nhận định đó bằng cách  xác định tất cả  các mối liên hệ  của những hiện tượng quan sát được với các   căn cứ khoa học của tâm lý học và giáo dục học.          Công tác tổ chức giờ học xem việc chuẩn bị nền nếp lớp, không khí sư  phạm, phân phối thời gian.        ­ Nội dung của giờ học: Tính khoa học, tính giáo dục, trọng tâm của bài   học.        ­ Phương pháp dạy học:         Có phù hợp giữa nội dung dạy học và phương pháp dạy học, việc phát  huy tính tích cực độc lập sáng tạo cho học sinh.         ­ Đánh giá kết quả  giờ  học (mức độ  đạt so với mục đích bài giảng) và  chỉ  ra đặc điểm lao động của người dạy tổ  chức hướng dẫn hoạt động học  tập của học sinh. Trình độ  kiến thức khả  năng giảng dạy, tinh thần trách  nhiệm cũng như  lao động học tập của học sinh (kiến thức và kỹ  năng, năng  lực nhận thức, thái độ học tập).          Trong mỗi năm giáo viên phải được kiểm tra toàn diện hoặc kiểm tra  theo chuyên đề ít nhất môt l ̣ ần. Đối với giáo viên còn hạn chế về chuyên môn  hoặc giáo viên mới ra trường cần kiểm tra giờ lên lớp nhiều hơn. Khi kiểm tra  ̣ Ban giam hiêu ph ́ ải nói rõ được mục đích của việc dự kiểm tra và người được  kiểm tra. Đồng thời khi kiểm tra người cán bộ  quản lý cần có thái độ  đúng 
  10. mực. Sau khi kiểm tra có nhận xét đánh giá và giúp giáo viên khắc phục những   tồn tại.           Ngoài việc kiểm tra giờ  lên lớp kiểm tra khảo sát theo định kì cũng rất  quan trọng, đánh giá chất lượng dạy của giáo viên qua kết quả  học tập của  học sinh. Khi kiểm tra khảo sát chất lượng nên tổ chức cho giáo viên coi chéo  lớp, chấm điểm tại trường và chấm chéo. Sau khi kiểm tra có nhận xét học  sinh còn yếu về bộ môn nào? Sau đó Ban giám hiệu kiểm tra lại xem việc cho  điểm của giáo viên đã chính xác chưa. Qua kiểm tra sẽ  đánh giá đúng chất lượng của từng lớp, có nhận xét  trong hội đồng sư phạm nhà trường.  * Kiểm tra hoạt động tổ chuyên môn  Nội dung kiểm tra gồm:  ­ Kiểm tra tổ trưởng:  + Nhận thức về vai trò của tổ chuyên môn, của tổ trưởng chuyên môn.  + Nhận định của tổ trưởng về từng tổ viên.  ­  Kiểm tra hồ sơ chuyên môn:  + Các kế hoạch năm học của tổ nhóm cá nhân.  + Các loại sổ biên bản sinh hoạt.  + Các kết quả điều tra cơ bản về học sinh và giáo viên.  ­  Kiểm tra nề nếp sinh hoạt tổ:   +Thông qua bài, nộp bài soạn.  + Thông báo việc thực hiện chương trình.  + Khối lượng dự giờ, viêc ch ̣ ữa bài cho học sinh.  ­ Bồi dưỡng nghiệp vụ:  + Thực hiện các chuyên đề của nhà trường.  + Chuyên đề rút kinh nghiệm của tổ nhóm.  ­  Chỉ đạo phong trào học tập:  + Bồi dưỡng học sinh năng khiếu. 
  11. +Phụ đạo học sinh còn hạn chế về năng lực.  + Theo dõi học sinh còn hạn chế về năng lực.  ­ Chất lượng dạy học:  + Trình độ kiến thức nghiệp vụ của tổ viên.  + Chất lượng học tập của tổ viên.     Ban giám hiệu thống nhất hình thức kiểm tra:  ­ Dự sinh hoạt tổ xem thống nhất nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn.  ­ Trao đổi, phỏng vấn tổ trưởng, giáo viên.  ­ Xem xét hồ sơ thi đua, chú ý tính hệ thống và thống nhất của tài liệu.  ­ Xem giáo án, sổ theo dõi chất lượng của lớp.  ­ Nghe báo cáo, dự các buổi rút kinh nghiệm dự giờ.  ­ So sánh các hồ sơ.  ­  Dự giờ, khảo sát chất lượng.          Thành phần kiểm tra tổ  chuyên môn ngoài Ban giam hiêu còn thêm cán ́ ̣   bộ  cốt cán như  Chu t ̉ ịch Công đoàn, Tổ  trưởng các tổ  chuyên môn khác. Khi  kiểm tra xong phải có biên bản kiểm tra.  5. Minh chứng kèm theo giải pháp. Từ thực trạng của việc soạn bài và thi công bài giảng trong những năm  học qua và việc áp dụng một số  kinh nghiệm tổ  chức, chỉ đạo nâng cao chất  lượng soạn  giảng đem lại một số kết quả như sau:  ­ Đánh giá phân loại hồ sơ năm học 2018 – 2019 (tính đến tháng  4/2019):  Tổng số hồ sơ giáo án được xếp loại: 21 bộ/21 giáo viên (03 giáo viên  mới chuyển về từ cuối tháng 2/2019).  + Loại tốt: 09 bộ; Tỉ lệ: 42,9%  + Loại khá: 10 bộ; Tỉ lệ: 47,6 %  + Loại trung bình: 02 bộ; Tỉ lệ: 9,5 % 
  12.  So vơi năm hoc 2017­2018, sô hô s ́ ̣ ́ ̀ ơ xêp loai  ́ ̣ tốt tăng 9,6%; hô s ̀ ơ loai  ̣ ̀ ơ loai  khá tăng 3,1%; hô s ̣ trung bình giảm 12%.  Nhờ chất lượng công tác soạn giảng được nâng lên rõ rệt nên kết quả  xếp loại học lực của học sinh cũng được nâng lên đáng kể góp phần không  nhỏ vào việc hoàn thành nhiệm vụ năm học của đơn vị. Cụ thể chất lượng  giáo dục ở học kỳ I năm học 2018 ­2019 như sau:             Tổng số học sinh: 294 (trong đó 04 học sinh khuyết tật không đánh giá) Hoàn thành tốt: 61 học sinh; Tỉ lệ: 21,0% Hoàn thành: 216 học sinh; Tỉ lệ: 74,5% Chưa hoàn thành: 13 học sinh; Tỉ lệ: 4,5% So với năm hoc 2017­2018 ̣  chất lượng giáo dục có nhiều tiến triển, cụ  thể: Tỉ lệ hoàn thành tốt tăng 1,1%; Tỉ lệ hoàn thành giảm 0,3%; Tỉ lệ chưa  hoàn thành giảm 0,8%;     6. Định hướng phát triển giải pháp cho các năm học tiếp theo. ­ Đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thiết kế và hiệu quả  thực hiện bài giảng điện tử  trong công tác dạy và học của cấp Tiểu học nói  chung và trường Tiểu học nói riêng. XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ NGƯỜI LÀM BÁO CÁO      (Ký, đóng dấu)                Phạm Văn Chung   XÁC NHẬN UBND HUYỆN XÁC NHẬN PHÒNG GD&ĐT
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2