intTypePromotion=1

Khóa luận tốt nghiệp: Thủ tục hải quan đối với hàng gia công xuất khẩu ở Việt Nam - Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện

Chia sẻ: Vdfv Vdfv | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:99

0
442
lượt xem
94
download

Khóa luận tốt nghiệp: Thủ tục hải quan đối với hàng gia công xuất khẩu ở Việt Nam - Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày doanh nghiệp xuất khẩu ký xác nhận giao hàng cho doanh nghiệp nhập khẩu vào 04 tờ khai hải quan, doanh nghiệp nhập khẩu tại chỗ và doanh nghiệp xuất khẩu tại chỗ phải làm thủ tục hải quan.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khóa luận tốt nghiệp: Thủ tục hải quan đối với hàng gia công xuất khẩu ở Việt Nam - Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G K H O A KINH T Ế NGOẠI T H Ư Ơ N G KHOA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài: THỦ TỤC HẢI QUAN ĐỐI VÓI H À N G GIA C Ô N G XUẤT KHAU Ở VIỆT NAM THỤC TRẠNG VÀ MỘT s ố GIẢI PHÁP H O À N THIỆN Giáo viên HD : ThS. Nguyễn Hoàng Á n h Sinh viên TH : Phạm Thị Hương Lan Lớp : Trung Ì K38E H à N i
  2. MỤC LỤC Trang L ờ i nói đầu Ì Chương ì: Tổng quan về gia công xuất khẩu và hoạt động gia 3 công xuất k h ẩ u ở V i ệ t Nam ì. Lý luận chung về gia cõng xuất khẩu 3 /. Khái niệm gia công và gia công xuất khẩu 3 1.1. Khái niệm gia công 3 1.2. Khái niệm gia công xuất khẩu 4 2. Phân loại quan hệ gia công xuất khẩu 6 2.1. Theo quyền sở hữu nguyên vật liệu 6 2.2. Theo cách tính giá gia công 6 2.3. Theo số bên tham gia vào quan hệ gia công 7 3. Hợp đổng gia công và các điều khoản chủ yếu của hợp đồng gia công Ì n. Lịch sử phát triển của hoạt động gia cõng xuất khẩu ở Việt Nam 8 I U . Thớc trạng triển khai hoạt động gia công xuất khẩu ở Việt 11 Nam t r o n g những n ă m gần đây /. Hoạt động gia cóng hàng da giày Ì I 2. Hoạt động gia công hàng may mặc ị6 3. Hoạt động gia công hàng điện tử 22 Chương li: T h ủ tớc H ả i quan đỏi với hàng gia công xuất k h ẩ u ỏ 26 Việt Nam ì. T ầ m quan trọng của việc quản lý và làm t h ủ tớc H ả i quan đói 26 vói hàng gia công xuất khẩu li. Quy trình t h ủ tớc H ả i quan đôi với hàng gia cõng xuất k h ẩ u 27 /. Thủ tục tiếp nhận hợp đồng gia công 2X 1.1. Nhiệm vớ của doanh nghiệp khi nộp và xuất trình hổ sơ 28 Ì .2. Nhiệm vớ cùa Hải quan khi tiếp nhận hợp đổng gia công 29 2. Thủ tục nìiập khẩu nguyên phụ liệu phục vụ dĩa hoạt động ẹa công mất khẩu 29 2. Ì. Thù tớc Hải quan đối với nguyên liệu gia công nhập khẩu 29
  3. theo hợp đồng gia công 2.2. Thủ tục Hải quan đối với nguyên liệu dùng cho hợp đổng 34 gia công m à số nguyên liệu này do bên nhận gia công tự cung ứnti 3. Thủ tục xuất khẩu sản phẩm gia công 36 3.1. Hồ sơ Hải quan 36 3.2. Trình tự làm thù tục Hải quan để xuất khẩu sản phẩm gia công 36 4. Thủ tục xuất nhập khẩu tại chỗ đôi với sản phẩm gia công 40 5. Thủ tục giao nhận gia công chuyền tiếp 41 ó. Thủ tục Hải quan đối với sản phẩm gia công dùng để thanh toán 44 phí gia công 7. Thủ tục thanh khoản hợp đổng gia công 44 7. Ì. Hổ sơ thanh khoản 46 7.2. Hải quan kiểm tra hổ sơ thanh khoản 46 7.3. Giải quyết nguyên liệu thừa, phế liệu, phếphẩm, máy móc, 47 thiết bộ mượn (nếu có) 7.4. Hoàn thành thủ tục thanh khoản 50 I U . Thực trạng cõng tác làm t h ủ tục H ả i quan đối vói hàng gia 51 công xuất khẩu ở Việt Nam hiện nay /. \ ấn dê quản lý nguyên phụ liệu 51 1.1. Về độnh mức nguyên phụ liệu 51 Ì .2. Về thuế đối với nguyên phụ liệu nhập khẩu 52 1.3. Về chếđộ xử phạt các vi phạm 52 ĩ. \ ấn để quản lý nguyên phụ liệu dư thừa 53 3. Xử lý phế liệu, phế phẩm 55 4. \ ấn đề nhãn mác hàng gia công xuất khẩu 56 5. Ì 'ấn đê thanh khoản hợp đ ng gia công 58 Chương n i : M ộ t số giải pháp n h à m hoàn thiện quy trình t h ủ tục 61 H ả i quan đôi vói hàng gia công xuất khẩu ì. Đánh giá về thực trạng làm t h ủ tục H ả i quan đối vói hàng gia 61 công xuất khẩu /. Những thành công đạt được 61
  4. 1.1. Về cơ chế chính sách 6 1 1.2. Về hình thức khai báo Hải quan 62 1.3. Về công tác nghiệp vụ 63 2. Những tồn tại cần khắc phục 64 2.1. Về nhân viên Hải quan 64 2.2. Về kiểm tra, giám sát, quản lý hàng gia công 64 2.3. Về thanh khoản hợp đổng gia công 65 2.4. Về hình thức khai báo Hải quan 65 li. Phương hướng phát t r i ể n của hoạt động gia công xuất k h ẩ u ờ 66 Việt Nam t r o n g thời gian tói ì. Tiền đề cho sự phát triển của hoại động gia công xuất khẩu ỞViệl Nam 66 2. Định hướng phút triển trong th i gian tới 68 I U . M ộ t số giải pháp khắc phục nhịng tổn t ạ i và hoàn thiện q u y 71 trình t h ủ tục H ả i quan đôi với hàng gia công xuất khẩu /. \ é phía Tổng cục Hải quan 72 1.1. Hoàn thiện các vẫn bản pháp luật về quản lý và làm thủ tục 72 Hải quan đối với hàng gia công xuất khẩu Ì .2. Cải tiến quy trình thù tục Hải quan 74 1.3. Kết hợp chật chẽ giịa đào tạo và nâng cao trình độ cán bộ 74 Ì .4. Trang bị máy móc, kỹ thuật mới hiện đại 77 Ì .5. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Hải quan 79 1.6. Tăng cường chỉ đạo các Cục Hải quan tỉnh, thành phố xo 2. \ 'ế phía các doanh nghiệp gia công hàng xuất khẩu XÌ 2. Ì. Tuân Ihủ các quy định của pháp luật 81 2.2. Căn cứ tình hình thực tế để đưa ra các kiến nghị kịp thời XÌ Kết luận X2
  5. 'K/tiír/ /ỉíếht /si ttọ/í/ệp Mỉ)'ỉ nẻ ỉ (Tảíi Trải qua một thời kỳ dài đầy khó khăn. gian khổ, đến nay nền kinh tê Việt Nam đã được vực dậy từng bước và xét một cách khách quan thì nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước này đã bắt đầu có những dạu hiệu khởi sắc. Trong thành tựu đáng kể đó của toàn nền kinh tế không thể không nhắc đến sự đóng góp to lớn của hoạt động xuạt khạu nói chung và hoạt động gia công xuạt khẩu nóiriêng.K h i chạt lượng nguyên liệu của một quốc gia chưa cao, cộng thêm sự tụt hậu về kỹ thuật, công nghệ và chi phí sản xuạt rẻ thì hoạt động gia công xuạt khẩu là giải pháp tốt nhạt không chỉ cho nước nhân gia công m à còn cho cả nước đặt gia công - những quốc gia sở hữu công nghệ hiện đại, nguồn nguyên liệu phong phú, chạt lượng cao nhưng chi phí sản xuạt cũng rạt cao. Trong những năm gần đây hoạt động gia công xuạt khẩu đã phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam và đương nhiên với những gì thu được thòng qua hoạt động kinh tế này chúng ta không thể phủ nhận được những lợi ích về mặt kinh tế - xã hội m à bàn thân phương thức đem lại. Tuy nhiên, hoạt động gia công là một hoạt động kinh tế phức tạp bao gồm nhiều công đoạn đòi hỏi các cơ quan quản lý một mặt phải tạo điều kiện thông thoáng để phát triển phương thức, mặt khác phải kiểm soát chặt chẽ hoạt động gia công từ khâu nhập khẩu nguyên liệu đến khâu xuạt khẩu sản phẩm. V ớ i lư cách là cơ quan quản lý, Hải quan là cư quan có nhiệm vụ quản lý, giám sát và làm thủ tục xuạt nhập khẩu cho hàng gia cóng. Trước diễn biến phức tạp của phương thức gia công và sự chưa hoàn thiện của hệ thống luật pháp hiện nay, nhiệm vụ của ngành Hải quan còn hết sức nặng nề. V ớ i kiến thức tích l ũ y sau thời gian học tập tại trường Đ ạ i học Ngoại Thương và đặc biệt là dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của Thạc sỹ Nguyễn Hoàng Ánh, tôi viết khóa luận v ớ i để tài "Thủ tục H ả i Ì
  6. quan đối v ớ i hàng gia công xuất khẩu ở V i ệ t Nam - Thực trạng và một sổ giải pháp hoàn thiện". M ụ c đích của khóa luận là phân tích những mặt đã đạt đưừc và những điểm còn tồn tại trong công tác làm thủ tục H ả i quan cho hàng gia công xuất khẩu, từ đó đề ra m ộ t số giải pháp khắc phục. Khóa luận gồm 3 chương: Chuông Ị : Tổng quan về gia công xuất khẩu và hoạt động gia công xuất khẩu ử Việt Nam Chương l i : Thú tục Hải quan đối với hàng gia công xuất khẩu ở Việt Nam Chương n i : M ộ t số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình thú tục Hải quan đối với hàng gia công xuất khẩu Do những hạn chế về trình độ cũng như thời gian và nguồn l i liệu nên à khóa luận không thể tránh đưừc những sai sót, phiến diện. Tôi rất mong đưừc sự góp ý của các thày cô và các bạn sinh viên đế khóa luận này đưừc hoàn thiện hơn. 2
  7. ~%/ltíếf /ỉ/ỢM /ới ttự/t/ệp CHƯƠNG ì TỔNG QUAN VỀ GIA CÔNG XUẤT KHAU VÀ HOẠT ĐỘNG GIA C Ô N G XUẤT KHAU Ở VIỆT NAM Ị. Lý luân chung về gia cõng xuất k h ẩ u Ì. Khái n i ệ m gia cõng và gia công xuất k h ẩ u 1.1. Khái niệm gia công Hoạt động gia công đã xuất hiện từ rất lâu đời và trong suốt một thời gian dài nó đã trở thành một phưcíng thức phổ biến ở nhiều nước. Cũng như các quốc gia khác trên thế giới, hoạt động gia công đã sớm xuất hiện ở Việt Nam, nhưng mãi cho tới khi Luật Thương mại Việt Nam ra đời thì hoạt động này mới thực sự được coi là một hoạt động kinh tế trong tổng thọ nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, bàn về gia công, mỗi quốc gia lại có một cách hiọu khác nhau. Luật Thương mại Việt Nam được Quốc hội nước C H X H C N Việt Nam khoa IX. kỳ họp thứ l i thông qua ngày 10/05/1997, điều 128 quy định: "(Ha công trong thượng mại là hành vi thương mại, theo đó bẽn nhận iỊÌa công thực hiện việc gia công hàng hóa theo yêu cầu, bằng nguyền liệu, vái liệu của bên đại gia công đê hưởng tiền gia công; bên đại gia công nhận hàng hóa đã ỳa công đề kinli doanìi thương mại và phải trả tiền %ia công cho bén nhận %ia cóng". Hoạt động gia công hình thành trong rất nhiều lĩnh vực và ngành nghề. Trong Luật Thư
  8. thức này được áp dụng phổ biến và chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp và thủ công nghiệp. Ngay từ khi khoa học công nghệ chưa phát triển, sản xuất phần lớn dựa trên những công cụ thô sơ thì phương thức gia công đã được áp dụng. Phương thức này được phát triển khi thương nhân ra đời. V ớ i nhiệm vụ làm cầu nội giữa người sản xuất và người tiêu dùng, đảm nhận khâu lưu thông hàng hóa, thương nhân nắm được tình hình sản xuất cũng như nhu cầu tiêu thụ trên một thị trường nào đó: có nơi hàng hóa có thể tiêu thụ được nhưng lại không có khả năng sản xuất do thiếu nguyên vật liệu. máy móc, thiết bị. Bới vậy, để có hàng hóa đem bán trên thị trường, thương nhân cung cấp cho người sản xuất một sộ máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu. thúc họ sản xuất ra cho mình loại hàng hóa đó rồi mang tiêu thụ và trả cho người sản xuất một khoản thù lao tương xứng với công sức m à họ bỏ ra. Hoạt động sàn xuất của người được thuê chính là hoạt động gia công hàng hóa trong thương mại, hoạt động này gắn liền với việc tiêu thụ hàng hóa. Xét về mặt kinh tế xã hội, phương thức tổ chức sản xuất này thực sự đã bộc lộ rất nhiều ưu điểm, đó là: mở rộng quy m ô và tập trung hóa được sàn xuất m à không cần đầu lư cơ sử sản xuất mới; tận dụng được tiềm năng của cóng nghiệp nhỏ, thủ công nghiệp; tận dụng được khả năng lao động và thời gian lao động của mọi lực lượng lao động. 1.2. Khái niệm gia công xuất khẩu Khi nền kinh tế hàng hóa ngày càng phái biển, sự chật hẹp về thị trường đã thôi thúc quá trình buôn bán trao đổi hàng hóa diễn ra giữa các nước khác nhau trên thế giới. Phân cõng lao động xã hội phát triển thành phân cóng lao động quộc tế. Và theo đó phương thức kinh doanh gia công quộc tế cũng ra đời. Điều 132 Luật Thưtmg mại 1997 quy định: "Gia công với thương nhân nước ngoài là việc gia công thương mại, theo đó bèn đặt gia công, bén nhận IỊÍCI công là thương nhăn có trụ sở chính hoặc nơi cư trú thường xuyên tại các nước khác nhau nhưng phải có một bên là thương nhãn hoạt động thương mại lại \ lệt Nam". 4
  9. 'K/itú/ ùỉậỉLtóittạ/í/ệp Trong nghị định số 57/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31 tháng 7 năm 1998 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu. nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hóa với nước ngoài thì "Gia công hàng hóa với thương nhăn nước ngoài là việc thương nhân \ iệì Nam, doanh nghiệp được thành lập theo Luật Đẩu tư nước ngoài lại Việt Nam nhận gia công hàng hóa tại Việt Nam cho thương nhân nước ngoài hoặc đật gia công hàng hóa ở nước ngoài". Theo tinh thần của nghị định này, trong hoạt động gia công với thương nhân nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam có thể đóng vai trò là bên đặt gia công (thuê thương nhân nước ngoài gia công tại nước ngoài) hoặc bên nhận gia công (gia công cho thương nhân nước ngoài tại Việt Nam). Tuy nhiên do điều kiện thực tế ở Việt Nam nên hoạt động thuê thương nhân nước ngoài là rất ít. Gia công quốc tế ở Việt Nam thường đưỹc hiểu là thương nhân Việt Nam là bên nhận gia công cho thương nhân nước ngoài và hoạt động này còn đưỹc gọi là gia công xuất khấu. Gia công xuất khẩu ra đời là hệ quả tất yếu của sự chênh lệch về trình độ kinh tế, về công nghệ, kỹ thuật giữa các quốc gia và một phần l do lỹi à thế về t i nguyên, về nhân công khác nhau của mỗi nước. Thực tế cho thấy à phần lớn các hỹp đồng gia công quốc tế đưỹc ký kết giữa một doanh nghiệp của m ộ i quốc gia có nền kinh tế kém phái triển nhưng lại có nguồn nhân lực dổi dào, giá nhân công rẻ với một doanh nghiệp của một quốc gia có nền kinh tế phát triển và trình độ kỹ thuật công nghệ cao. Trong quan hệ gia công cho bên nước ngoài, bên nhận gia công dựa vào cơ sở vật chất, kỹ thuật và lao động sẵn có để tiến hành gia công, đôi khi bên đặt gia công còn trỹ giúp bên nhận gia công về máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất, kỹ thuật viên... Việc tiến hành phương thức kinh doanh gia công quốc tế thực sự đã mang lại lỹi ích nhiều mặt cho các bên tham gia, trở thành phương thức khá phổ biến trong buôn bán ngoại thương của nhiều nước. Trong quá trình phát triển theo xu hướng chuyên m ô n hóa ngày càng sâu rộng của nền kinh tế thế 5
  10. giới, trên cư sở phát huy tối đa những lợi thế của mỗi quốc gia thì đây là một loại hình kinh doanh rất phù hợp. 2. Phán loại quan hệ gia công xuất k h ẩ u 2.1. Theo quyền sở hữu nguyên vật liệu 2.1.1. Gia công chủ động: Bên đặt gia công bán đứt (xuất khẩu) nguyên vật liệu cho bèn nhận gia cóng rồi sẽ mua lại (nhập khẩu) thành phẩm được bên nhận gia công sần xuất ra từ nguyên vật liệu đó. N h ư vậy quyền sở hữu nguyên vật liệu đã chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công. Theo hình thức này, bên nhận gia công có quyền chủ động hơn trong sần xuất, được trầ thù lao cao hơn và phần nào tạo dựng được uy tín trên thị trường. Tuy nhiên đồng nghĩa với nó là bên nhận gia công phầi bỏ nhiều vốn hem và chịu nhiều rủi ro hơn. 2.1.2. Gia công bị động: Bèn đặt gia công giao nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công và sau thời gian sần xuất, chế tạo, bên đặt gia công sẽ thu lại thành phẩm đồng thời thanh toán phí gia công. Trong thời gian này, quyền sở hữu nguyên vật liệu vẫn thuộc về bên đặt gia công. Tuy gia công theo hình thức này bèn nhận gia công hầu như không phầi bỏ vốn cũng như không phầi chịu rủi ro nhưng loại hình gia công này không khuyến khích tinh thần sáng tạo của bên nhận gia công và phí gia công thường rất thấp. 2.1.3. Gia công hổn hợp Đây là hình thức kết hợp của gia công chủ động và gia công bị động, theo đó bên đặt gia công chỉ cung cấp những vật liệu chính còn bên nhận gia công tự tìm nguyên vật liệu phụ. 2.2. Theo cáchtínhgiá giá gia công 2.2.1. Hợp đồng thực chi thực thanh: Bên nhận gia công thanh toán với bên đặt gia công toàn bộ những chi phí thực tế đã bỏ ra trong quá trình gia công cộng với tiền thù lao gia công. 2.2.2. Hợp đồng khoán: 6
  11. 'X/tỉí*/ /ịỉtùt /ã/ Mạ/t/ệp Hai bên xác định một giá định mức cho mỗi sản phẩm, bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức. Việc thanh toán giữa hai bên chỉ dựa trẽn giá đinh mức đó m à không tính tới chi phí thực tế m à bèn nhận gia công đã bỏ ra. 2.3. Theo sô bên tham gia vào quan hệ gia cóng 2.3.1. Gia cóng hai bên: Chỉ có hai bên tham gia quan hệ gia công là bên đặt gia công và bên nhận gia công. 2.3.2. Gia công chuyển tiếp: Có nhiều bên tham gia vào quan hệ gia công, sản phẩm gia công của hạp đồng gia cóng này đưạc sử dụng làm nguyên vát liệu gia công cho hạp đồng gia công khác. Nói một cách khác, có nhiều bên nhận gia công và thành phẩm của một đơn vị này là bán thành phẩm hay nguyên vật liệu của một đơn vị khác. 3. Hạp đồng gia công và các điều khoản chủ yêu của hạp đồng gia công Theo Luật Thương mại Việt Nam 1997, điểu 131 quy định: hạp đồng gia công trong thương mại phải lập thành văn bản giữa bên nhận gia công và bên đặt gia công. Thông tư số 07/2000/TT-TCHQ của Tổng cục Hải quan quy định hạp đồng gia công có thể ký trực tiếp hoặc qua điện tín (fax, telex...). Hạp đồng gia công đưạc lập bằng hai thứ tiếng là tiếng V i ệ t và tiếng Anh hoặc một thứ tiếng nước ngoài khác do hai bên thoa thuận. Trường hạp hạp đồng đưạc lập bằng tiếng nước ngoài thì doanh nghiệp phía Việl Nam phải có bản dịch chính thức ra tiếng Việt, doanh nghiệp Việt Nam phải ký và đóng dấu, chịu trách nhiệm về nội dung của bản dịch đó. Theo điều 12 Nghị định 57/1998/NĐ-CP và khoản 2 phân l i thông tư số 07/200/TT-TCHQ của Tổng cục Hải quan ngày 02/11/2000 hướng dẫn thi hành Chương I U Nghị định số 57/1998/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại và hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hóa với nước ngoài thì một hạp đồng gia cóng phải bao gồm những điều khoản chủ yếu sau: - Tên, địa chí của các bên ký hạp đồng - Tên, số lưựng sản phẩm gia công 7
  12. - Giá gia công - Thời hạn thanh toán và phương thức thanh toán - Danh mục, số lượng, trị giá nguyên liệu, phụ liệu, vật tư nhập khẩu và nguyên liệu, phụ liệu, vật tư sản xuất trong nước (nếu có) để gia công; định mức sử dụng nguyên liệu, phụ liệu, vật tư; đinh mức tiêu hao và tỷ lệ hao hụt trong gia công. - Danh mục và trị giá máy móc thiết bị cho thuê, cho m ư ợ n hoọc tọng cho để phục vụ gia công (nếu có). - Biện pháp xử lý phế liệu, phế thải và nguyên ác xử lý máy móc, thiết bị thuê mượn, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư dư thừa sau khi kết thúc hợp đồng gia công. - Địa điểm và thời gian giao hàng - Nhãn hiệu hàng hóa và tên gọi xuất xứ hàng hoa - Thời hạn hiệu lực của hợp đồng li. Lịch sù nhát t r i ể n của hoạt đỏns; gia còng xuất k h ẩ u ả V i ệ t N a m Hoạt động gia công xuất khẩu đã xuất hiện ở Việt Nam ngay từ khi nước ta vừa bước ra khỏi hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược. Thời kỳ này, nền kinh tế nước ta thực sự rơi vào tình trạng kiệt quệ, cơ sở vật chất kỹ thuật bị tàn phá, trang thiết bị phục vụ cho sản xuất còn lạc hậu, chấp vá, không đồng bộ, trình độ tay nghề của người lao động cũng như quan hệ đối ngoại của quốc gia còn hạn chế. Bởi vậy, trong suốt một thời gian dài kể từ sau giải phóng cho đến trước khi thực hiện chính sách mở cứa nền kinh tế, hoạt động gia công xuất khẩu ỏ Việt Nam tuy đã đạt được một vài kết quả về mọt kinh tế - xã hội nhưng quy m ô và năng lực sàn xuất còn hạn chế, thị trường còn hạn hẹp, hiệu quả kinh tế không cao. Hoạt động gia công xuất khẩu của nước ta giai đoạn này có một sô đọc điểm sau: Về mặt hàng gia công: Chủ yếu gia công hàng may mọc, thêu ren, dệt thảm và một số sản phẩm công nghiệp nhẹ như sản xuất dụng cụ cầm tay... \ 'ế thị trường gia công: Bạn hàng chủ yếu của ta thòi gian này là Liên X ô và các nước thuộc khối X H C N ở Đông  u và một số nưóc gần chúng ta về mọt địa lý như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản... 8
  13. ^//fífí ////hi /ói fiợ/t/ệp Về phương thức gia công: Nhìn chung thời kỳ này ta chù yếu gia công theo phương thức bị động tức là nhận nguyên vật liệu, giao thành phẩm m à không có sự chuyển giao quyền sở hữu nguyên vật liệu. Bởi vậy sự phụ thuộc của ta vào bên đặt gia công là rất lản, thu nhập thực tế của công nhân rất thấp và nếu ta duy t ì hoạt động gia công theo phương thức này sẽ không nâng cao r được hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên ngay sau khi thực hiện chính sách mả cửa nền kinh tế, nhất là trong xu thế hội nhập hiện nay, Việt Nam đang từng bưảc khẳng định vị thế của mình bằng sự mở rộng và phát triển mạnh mẽ của các hoạt động kinh tẽ đối ngoại. Trong đó sự đóng góp của hoạt động gia công xuất khâu trong tổng k i m ngạch xuất nhập khẩu không phải là nhỏ thể hiện ở sự phát triển phong phú về phương thức, đa dạng về mặt hàng, tăng trưởng về k i m ngạch và mả rộng về thị trường. Về mại hàng gia công: Đ ế n thời kỳ này, l ũ y đã có nhiều cải tiến về mặt kỹ thuật nhưng trong cơ cấu hàng gia công thì hàng may mặc, giày dép, thêu ren, túi xách... vẫn chiếm tỷ trọng lản. M ộ t số doanh nghiệp cũng đã mạnh dạn gia công cho phía nưảc ngoài những mặt hàng đòi hỏi hàm lượng kỹ thuật cao và công nghệ phức tạp như gia công mặt hàng linh kiện điện tử cho Nhật Bản, Hàn Quốc... Gần đây chúng ta còn nhận gia công phần mềm đây là mặt hàng gia công có hàm lượng công nghệ cao nhất. Về thị trường gia công: Sau sự sụp đổ của Liên X ó và hệ thống X H C N ở Đông Âu, đứng trưảc thứ thách của mở cửa và hội nhập, Việt Nam đã cố gắng duy t ì những thị trường truyền thốngvà không ngừng m ở rộng thị r trường sang các nưảc phát triển như Pháp, C H L B Đức, Italia, Hà Lan, Malaysia, Canada,... trong đó điều đáng nói nhất là chúng ta đã thâm nhập được vào thị trường M ỹ - một thị trường nổi tiếng là khó tính và có nhiều rào cản thương mại, chính trị vào loại bậc nhất trên thế giải. Về phương thức gia công: Các doanh nghiệp không chỉ bỏ sức lao động ra để gia công m à còn đầu tư vốn để tận dụng nguồn nguyên liệu trong nưảc, 9
  14. nâng cao tỷ lệ nội địa hóa cho sản phẩm gia công đồng thời tăng thu nhập bằng ngoại tệ. Với cách làm này chúng ta đã có được sự chủ động hơn và hiệu quả kinh tế cũng cao hơn. M ộ t số doanh nghiệp Việt Nam còn tiến hành nhập khứu nguyên phụ liệu từ một nước thứ ba theo đúng những tiêu chuẩn về mẫu mã, chứt lượng m à bên đạt gia cõng yêu cầu rồi giao sản phẩm cho bên đặt gia công đúng 1 0 0 % so với các quy định của hợp đồng sau khi quá trình gia công hoàn tứt. Ngoài ra họ còn sử dụng phương thức gia công chuyển tiếp, vừa đẩy nhanh được quy trình, vừa rút ngắn được thời gian gia công. \ 'ế kim ngạch hàng gia cóng: K i m ngạch xuứt nhập khẩu hàng gia công tăng lên không ngừng. Hiện nay, mặt hàng gia công đang chiếm khoáng 3 0 % tổng kim ngạch xuứt nhập khẩu của Việt Nam với số tuyệt đối tương đối lớn. Bảng 1: K i m ngạch xuứt nhập khẩu hàng gia công của Việt Nam Đơn vị linh: USD Năm 2000 2001 2002 Dự kiến 2003 Xuứt gia công 4344,81 4508,1 4959,0 5912,4 Nhập gia công 3522,63 4848,6 5790,0 7200,0 Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam và Bộ Thương mại Từ những đặc điểm trên la thứy, cho đến nay hoạt động gia cóng xuứt khẩu ở Việt Nam đã có những bước đi đáng kể. Ngoài những thành tựu mang ý nghĩa kinh tê đã đạt được, hoạt động gia công xuứt khẩu còn đem lai hiệu quả xã hội vô cùng to lớn: giải quyết việc làm cho một sô lượng lớn lao động, giảm thiểu tê nan xã hội, phát huy được tính sáng tao của các cá nhãn, nhứt là những lao động trẻ, góp phần cải thiện đời sống và nâng cao chứt lượng lao động. Tuy vậy, hoạt động gia công xuứt khẩu Việt Nam vẫn bộc lộ rứt nhiều ở hạn chế như giá gia công thứp, có doanh nghiệp do thiếu vốn nên phải chứp nhận những phưcmg thức gia công bứt lợi cho mình, các doanh nghiệp gia cóng còn phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên phụ liệu của nước ngoài, và hiện nay còn phải đối mặt với sự cạnh tranh rứt lớn từ các nước khác, đặc hiệt là Trung Quốc. Những hạn chế này không phải ngày một ngày hai m à có thể khắc lo
  15. tí/tát/ /t/ậfí tài ttạ/í/ệp phục được, nó đòi hỏi cần phải có sự nỗ lực từ hai phía Chính phủ và doanh nghiệp để cải thiện tình hình hoạt động gia công xuất khẩu ờ Việt Nam. n i . Thực trang triển khai hoạt đòng gia công xuất kháu ờ Việt Nam trong những n ă m gán đây 1. Hoạt động gia công hàng da giày Tình hình hoạt động gia công hàng da giày những năm qua Ngành da giày ậ nước ta đã cótòrất lâu đời nhưng cho mãi tới năm 1987 nó mới trậ thành một ngành kinh tế kỹ thuật riêng biệt. Từ đây, ngành công nghiệp da giày ậ Việt Nam đã có sự đổi thay nhanh chóng, mức tăng trưậng hàng năm cao, k i m ngạch xuất khẩu không ngừng tăng năm sau cao hơn năm trước và hiện nay, ngành công nghiệp da giày được coi là một trong những ngành mũi nhọn trong chiến lược phái triển hàng tiêu dùng hướng ra xuất khẩu. 1.1.1. Về kim ngạch và chủng loại hàng gia công Nếu từ năm 1991 trậ về trước hầu như mật hàng giày dép chỉ tiêu thụ nội địa, không có xuất khẩu thì đến năm 1992 đã xuất khẩu được 5 triệu USD và tăng liên túc vôi tốc độ cao trong những năm sau đó đến nay. Tính đến năm 2001, tức là 9 năm sau kể từ năm 1992, k i m ngạch xuất khẩu giày dép đã gấp 312 lần, bình quân một năm tăng tới 89,3%. Đây là tốc độ tăng rất cao, nhờ vậy giày dép tiếp tục là một trong bốn m ạ i hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta hiện nay. Cụ thể k i m ngạch xuất khẩu hàng da giày qua m ộ i số năm gần đây như sau: Bảng 2: K i m ngạch xuất khẩu hàng da giày của Việt Nam qua các năm Đơn vị tính: triệu USD Năm 1995 1998 1999 2000 2001 2002 D ư kiến 2003 Kim 296,4 1031,0 1387,1 1471,7 1559,5 1830,0 2200,0 ngạch Nguồn: Tổng cục thống kê Với k i m ngạch xuất khẩu như trên, Việt Nam là nước đứng thứ tư trong tóp 10 nước xuất khẩu giày dép lớn nhất thế giới chỉ sau Trung Quốc, Hồng Ì Ì
  16. Rông, Italia và đứng thứ ba trong khu vực. Trong những con số đã đạt được này có một phần đóng góp không nhỏ của hàng gia công xuất khẩu, tỷ trọng hàng gia công chiếm tới 7 0 % tổng k i m ngạch xuất khẩu. Sị dĩ như vậy là do chất lượng hàng gia công của ta đã được nâng lên rõ rệt và tạo được uy tín trên thị trường. Nhờ vậy, một số doanh nghiệp gia công đã thu hút được sự chú ý của các hãng nổi tiếng trên thế giới như Nike, Adidas, Clarks, Lotto, Converse, Umbro, Reebok... Tuy nhiên, chủng loại giày dép gia công hiện nay vẫn còn rất nghèo nàn, chủ yếu là chúng la nhận gia công loại giày thể thao cho phía đối tác. 1.1.2. Về phương thức gia công Theo thống kê của Hiệp hội da giày Việt Nam, toàn ngành hiện có 233 doanh nghiệp (ngoài ra còn có hàng nghìn gia đình và cơ sị sản xuất nhỏ) và các doanh nghiệp này chủ yếu vẫn làm hàng gia công cho nước ngoài. Trên thực tế, nguyên vật liệu trong nước dùng để sản xuất giày dép rất phong phú, giá rẻ nhưng công tác thu gom, sản xuất còn thiếu nên chỉ đáp ứng được khoảng 2 0 % tổng nhu cầu, còn lại 8 0 % nguyên liệu sử dụng cho sản xuất vẫn phải nháp khẩu. Hiên nay trong ngành gia cóng giày, các doanh nghiệp kinh doanh gia công đã tự cung cấp được một phần nguyên phụ liệu như đế giày, bồi vải... hoặc công cu sản xuất như dao chặt đê đảm bảo được cấp Form A khi xuất khẩu sang thị trường EU, Canada, Nauy... Việc nhập khẩu của các doanh nghiệp này chủ yếu là nhập khẩu da, nhãn mác, vải... Bịi vậy so với thời kỳ trước, phương thức gia công của các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã có sự thay đổi tuy chưa mấy tích cực. Từ phương thức gia công bị động, tức là ta nhập nguyên liệu và giao thành phẩm cho bên đặt gia công, dần dần các doanh nghiệp Việt Nam đã giành một phần quyền chủ động về phía mình bằng cách bỏ vốn đầu tư để tận dụng nguồn nguyên liệu trong nước, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa cho sản phẩm gia công và tăng thu ngoại tệ cho đất nước. Tuy nhiên, về lâu dài chúng ta phải có kế hoạch từng bước chuyển dần phương thức gia công sang mua nguyên liệu bán thành phẩm hoặc tự sản xuất để xuất khẩu. 1.1.3. Về giá gia công 12
  17. Hiện nay chúng ta đã gia công được những sản phẩm giày dép đòi hỏi kỹ thuật cao và đúng tiêu chuẩn m à bên đặt gia công đặt ra như giày thể thao cao cấp đạt giá trị từ 18 đến 20 USD/đôi. Nhưng thật trớ trêu, tiền công trả cho những người thợ làm ra những đôi giày có chất lượng cao như v ậ y lại rất rứ mạt, trung bình chỉ khoảng 0,9 USD/đôi, thậm chí giá gia công giày thể thao với Đài Loan tính đồng loạt 0,7 ƯSD/đói không kể đến tính đơn giản hay phức tạp của mẫu mã. 1.1.4. Về thị trường gia công Xét về thị trường gia công, nếu trước đây bạn hàng chủ yếu cùa Việt Nam là Liên Xô, Đông Âu, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản... thì trong những năm gần đây chúng ta đã không ngừng m ở rộng thị trường hướng sang các nước phát triển. Thị trường giày dép của Việt Nam đã mớ rộng tới 129 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có 48 nước và vùng lãnh thổ đạt trên 1.2 triệu USD, có 18 thị trường đạt trên l o triệu USD, trong đó đứng đầu là Anh 220 triệu USD, Đ ứ c 210,6 triệu USD (trong đó 9 5 % giày nhập khẩu vào Đúc là hàng gia công), Bỉ 155,4 triệu USD, Pháp 139,6 triệu USD, Hà Lan 133 triệu USD, M ỹ 87,3 triệu USD, Italia 86,5 triệu USD, Nhật Bản 79,8 triệu USD, Tây Ban Nha 39,2 triệu USD, Hàn Quốc 38,8 triệu USD. Xét theo khu vực. EU là thị trường lớn nhất, năm 2001 chiếm tới 8 2 % k i m ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam, sang đầu năm 2002, mặc dù lượng tăng khá nhưng do giá giảm, k i m ngạch chỉ tăng 8%, thấp hơn tốc độ chung nên tỷ trọng giảm xuống còn khoảng 79%. Thị trường M ỹ tuy k i m ngạch chưa lớn nhưng là một thị trường đầy tiềm năng, nhất là sau khi hiệp định thương mại Việt - M ỹ được ký kết. Trong số 129 nước và vùng lãnh thổ nhập khẩu giày dép từ Việt Nam thì Nga đứng thứ 17 với 10,3 triệu USD, Ba Lan đứng thứ 22 với 7.3 triệu USD, Hungari đứng thứ 42 với 2,2 triệu USD, Ucraina đứng thứ 44 với hơn 1,8 triệu USD. Grudia đứng thứ 48 với hơn 1,2 triệu USD, Latvia đứng thứ 67 với 225 nghìn USD, Slovakia đứng thứ 68, Bungari đứng thứ 69, Bêlarut đứng thứ 70, Rumani đứng thứ 84, Tatgikistan đứng thứ 107, Adecbaizan đứng thứ 113... Như vậy cho đến thời kỳ này thị trường truyền thống Nga và Đóng  u Ì3
  18. *ĩ?/ỉỉĩ
  19. XAíía /nặn /tứ đế, nhất là trong các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài. Sẽ thật dể hiếu khi thời gian qua nhiều doanh nghiệp da giày đã rơi vào tình trạng thiếu lao động trầm trọng, số lượng lao động chuyển khỏi ngành da giày đã lên tới con số xấp xí 3 0 % do thu nhập thấp và việc làm không ổn định. Thứ hai: Trong những năm gần đây, thẻc tế cho thấy năng lẻc sản xuất của ngành da giày tăng nhanh nhưng năng lẻc cạnh tranh lại chưa cao do có quá nhiều chi phí gián tiếp, chi phí trung gian đội giá thành gia công lên trong khi giá gia công rẻ. M ộ t số thị trường lớn của Việt Nam như EU, Nhạt Bản và thị trường tiềm năng M ỹ đồng thời cũng là thị trường chính của nhiều nước lân cận như Thái Lan, Hàn Quốc... trong đó đáng kể nhất là Trung Quốc - nước láng giềng của chúng ta. Điều này đòi hỏi cấc doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt hơn. Do đó nâng cao năng lẻc cạnh tranh của hàng gia công Việt Nam trên thị trường thế giới là vấn đề sống còn của các doanh nghiệp nhận gia công. Thử ba: Cho tới nay các doanh nghiệp gia công ở nước ta còn phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên phụ liệu của nước ngoài, 8 0 % nguyên liệu cho sản xuất hiện vẫn còn nhập khẩu. Hiện nay cả nước mới chỉ có hai nhà máy thuộc da nhưng cũng không đủ da để chế biến, phải nhập da muối lừ nước ngoài, da thuộc trong nước mới chỉ đápứng được sản xuất giày da nội địa. Tuy nhiên, trong danh mục ưu đãi đầu tư hiện nay không có mặt hàng nguyên phụ liệu cho ngành da giày, dẫn tới việc chúng ta chưa quan tâm đúng mức tói công nghiệp sản xuất nguyên phụ liệu tại chỗ, chất lượng của một số nguyên phụ liệu trong nước chưa đápứng được yêu cẩu chất lượng sản phẩm gia công. Do phụ thuộc vào nguồn nguyên phụ liệu cùa đối tác nước ngoài nên giá trị ngoại tệ thu được từ giá gia công không đáng kể. Hơn nữa, trong xu thế hiện nay, sẽ là bất lợi cho các doanh nghiệp của ta nếu không chủ động được nguồn nguyên phụ liệu cho sàn xuất vì ta sẽ không được hưởng ưu đãi đối với xuất xứ hàng hoa khi xuất sang những thị trường lớn như EU, Mỹ, điều này đồng nghĩa với việc hàng hóa của ta sẽ phải chịu mức thuế nhập khẩu rất cao và mất dần khả năng cạnh tranh. 15
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2