intTypePromotion=1
zunia.vn Tuyển sinh 2024 dành cho Gen-Z zunia.vn zunia.vn
ADSENSE

Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Đất nước và con người trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long

Chia sẻ: Tiêu Sở Hà | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:75

15
lượt xem
9
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Đất nước và con người trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long được thực hiện với mục tiêu nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa con ngƣời đối với thiên nhiên vùng đất mới. Đồng thời phân tích để tìm ra cái hay, cái đẹp trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khóa luận tốt nghiệp Văn học: Đất nước và con người trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long

  1. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC VOÕ TRÖÔØNG TOAÛN KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI TRONG CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG QUÁCH VĨNH TUẤN Hậu Giang, tháng 05 năm 2013
  2. TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC VOÕ TRÖÔØNG TOAÛN KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI TRONG CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: TS. TRẦN VĂN NAM QUÁCH VĨNH TUẤN Hậu Giang, tháng 05 năm 2013
  3. LỜI CẢM TẠ  Để hoàn thành luận văn hoàn chỉnh như hôm nay, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám Hiệu, quý thầy cô khoa Khoa học cơ bản, thư viện Đại học Võ Trường Toản, trung tâm học liệu Đại học Cần Thơ, thư viện thành phố Cần Thơ đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này. Tôi chân thành cảm ơn thầy Trần Văn Nam đã nhiệt tình hướng dẫn và chỉ dạy tôi trong suốt quá trình làm luận văn. Sinh viên thực hiện Quách Vĩnh Tuấn
  4. LỜI CAM ĐOAN  Tôi xin cam đoan đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất cứ đề tài nghiên cứu khoa học nào. Sinh viên thực hiện Quách Vĩnh Tuấn
  5. MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................. 1 2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................. 2 3. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................... 5 4. Phạm vi nghiên cứu ......................................................................................... 6 5. Phương pháp nghiên cứu................................................................................. 6 Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1.1 . Vài nét về Đồng bằng sông Cửu Long ............................................................ 7 1.1.1. Địa lý và lịch sử khai phá Đồng bằng sông Cửu Long .............................. 7 1.1.2. Con người Đồng bằng sông Cửu Long và những nét sinh hoạt văn hóa xã hội …………………………………………………………………………………12 1.2 . Ca dao và ca dao Đồng bằng sông Cửu Long ……………………………..14 1.2.1. Ca dao …………………………………………………………………...14 1.2.2. Giới thuyết về ca dao Đồng bằng sông Cửu Long………………………15 Chương 2 ĐẤT NƯỚC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG CA DAO 2.1. Nét hoang sơ và cảnh sắc thiên nhiên Đồng bằng sông Cửu Long ……….17 2.1.1. Nét hoang sơ trong buổi đầu khai phá…………………………………...17 2.1.2. Cảnh sắc thiên nhiên Đồng bằng sông Cửu Long……………………… 22 2.2. Sự giàu có, phong phú về sản vật, làng nghề……………………………….31 2.2.1. Sản vật…………………………………………………………………...31 2.2.2. Làng nghề………………………………………………………………..37 Chương 3 CON NGƯỜI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG CA DAO 3.1. Hình ảnh những người đi khai phá và người nghĩa sĩ Đồng bằng sông Cửu Long trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm…………………………...40 3.1.1. Những người đi khai phá……………………………………………… 40
  6. 3.1.2. Người nghĩa sĩ (chiến sĩ) trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm (trước 1945)………………………………………………………………………...44 3.2. Tính cách người Đồng bằng sông Cửu Long……………………………….49 3.2.1. Sự hào phóng và lòng hiếu khách………………………………………..49 3.2.2. Tính bộc trực ngang tàng………………………………………………...53 3.2.3. Tinh thần trọng nghĩa khinh tài…………………………………………..59 KẾT LUẬN…………………………………….………………………………….66 TÀI LIỆU THAM KHẢO
  7. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Nói đến kho tàng văn học Việt Nam chúng ta không thể không nhắc tới văn học dân gian – một bộ phận không thể thiếu của nền văn học dân tộc. Trong đó, phải kể đến ca dao là một bộ phận không thể tách rời của văn học dân gian. Với những câu hát, câu hò, những lời đối đáp êm ái, mƣợt mà. Đó là những lời ca tiếng hát chân thành mộc mạc của ngƣời bình dân để thổ lộ tâm tình và nói lên những suy nghĩ của mình về cuộc sống. Ca dao là một thể loại thuộc dòng văn học truyền miệng. Có thể nói, ca dao là tấm gƣơng phản ánh đời sống vật chất và tinh thần dân tộc một cách chân thực nhất. Nội dung ca dao vô cùng phong phú, chứa đựng mọi cung bậc tình cảm của ngƣời bình dân. Tìm hiểu ca dao sẽ đem đến nhiều thú vị, nhiều cái hay cái đẹp, khơi nguồn cảm xúc mới cho mỗi chúng ta. Và chính nguồn cảm xúc đó sẽ lƣu truyền gìn giữ vốn văn hóa mà ông cha ta đã bao đời gây dựng cho con cháu đời sau. Ca dao Đồng bằng sông Cửu Long nằm trong hệ thống ca dao Việt Nam. Nó vừa mang những nét chung vừa mang những nét riêng của vùng sông nƣớc. Vốn là mảnh đất còn rất trẻ về lịch sử khai phá. Nhƣng nó đã chứng kiến biết bao thăng trầm của cuộc sống. Cùng với ca dao cả nƣớc, ca dao Đồng bằng sông Cửu Long đã đóng góp vào kho tàng ca dao Việt Nam, làm cho nó ngày càng phong phú và đa dạng hơn. Ai sinh ra trên cõi đời này ắt hẳn có một quê hƣơng, nơi để lại biết bao kỷ niệm vui buồn, bao giá trị tinh thần khó quên: “Quê hương là gì hở mẹ Mà cô giáo dạy phải yêu Quê hương là gì hở mẹ Ai đi xa cũng nhớ nhiều” (Quê Hƣơng - Đỗ Trung Quân) Là một ngƣời dân sống trên mảnh đất Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, việc tìm hiểu lịch sử hình thành vùng đất và con ngƣời nơi đây không chỉ giúp tôi nâng cao sự hiểu biết, vốn sống mà nó còn làm tƣơi đẹp thêm cho vƣờn hoa tâm hồn và tình cảm của mỗi con ngƣời. Khi nhận đƣợc đề tài: Đất nước và con người trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long, tôi cảm thấy thích thú với đề tài này vì nó giúp tôi hiểu rõ hơn về vùng đất và con ngƣời nơi tôi sinh ra và lớn lên. Đó chính là lý do khiến tôi chọn đề tài này làm luận văn tốt nghiệp. 1
  8. 2. Lịch sử vấn đề Vấn đề đất nƣớc và con ngƣời trong ca dao thì rất phong phú và đa dạng, xoay quanh vấn đề này từ trƣớc đến nay đã có rất nhiều công trình của các nhà khoa học, giới nghiên cứu quan tâm. Chúng tôi nhận thấy chúng đƣợc nghiên cứu ở nhiều vùng miền với các dân tộc khác nhau, ở đây do sự giới hạn của đề tài: Đất nước và con người trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long. Chúng tôi xin liệt kê một vài công trình nghiên cứu tiêu biểu. Những công trình này ít nhiều có liên quan đến đề tài mà chúng tôi nghiên cứu. Công tác sƣu tầm ca dao trong cả nƣớc có rất nhiều công trình tập hợp những câu ca dao trong cả ba miền, đồng thời các tác giả còn đƣa ra nhiều ý kiến xoay quanh vấn đề nghiên cứu ca dao. * Quyển: Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Vũ Ngọc Phan, Nxb Khoa học Xã hội, 1978. Tập hợp cả ba thể loại của văn học dân gian, không chỉ giới thiệu đến độc giả những câu hát dân ca, những câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm của ông cha mà còn có những câu ca dao phong phú nội dung thể hiện đầy đủ cung bậc cảm xúc qua từng đề tài. * Quyển: Lịch sử văn học Việt Nam, tập 1, do Liên tổ văn học Việt Nam biên soạn. Trong phần nội dung ca dao, các tác giả có đề cập đến các vấn đề nhƣ: lao động sản xuất, đấu tranh giai cấp và đời sống tình cảm của nhân dân lao động. Sƣu tầm ca dao Nam Bộ thì không ít công trình có đóng góp trong lĩnh vực này, các nhà nghiên cứu cố gắng sƣu tầm và bổ sung, từ đó làm cho số lƣợng ca dao trong kho tàng ca dao Việt Nam ngày càng phong phú đa dạng hơn. * Ca dao dân ca Nam Bộ, Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1984. Đây đƣợc xem là công trình có quy mô lớn, tập hợp nhiều bài viết về vùng đất này. Quan trọng hơn hết, quyển sách là bộ sƣu tập nhiều bài ca dao dân ca sƣu tầm ở Nam Bộ. Quyển sách còn là sản phẩm khẳng định vị thế của Văn hóa Nam Bộ “qua hàng trăm thử thách Nam Bộ, trong đó có phần ca dao dân ca đã góp phần vào văn hóa chung của dân tộc Việt Nam một bông hoa đậm hương sắc.” [4;tr.18] Đồng thời những nghiên cứu về ca dao dân ca Nam Bộ trong quyển này cũng cho thấy thiên nhiên nơi đây có vai trò rất lớn trong biểu hiện tâm tƣ tình cảm của con ngƣời “thiên nhiên Nam Bộ mang nhiều sắc thái độc đáo rất dễ phân biệt với các miền khác của đất nước. Đây là xứ sở của đồng lúa, vườn cây, và sông ngòi.” [4;tr.2] * Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ, nhóm tác giả Thạch Phƣơng, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh, Nxb Khoa học Xã hội, 1992. Nội dung chủ yếu trình bày về văn hóa ngƣời Việt ở Nam Bộ, bao gồm: quá trình hình thành làng xã, thị tứ, dấu ấn thiên nhiên trong sinh hoạt văn hóa dân gian; đặc điểm và vị trí 2
  9. của sinh hoạt lễ hội truyền thống, … Phần tổng quan tác giả có đề cập đến khái niệm dân gian. Bên cạnh đó nhóm tác giả còn đƣa ra giới hạn của công trình “không chỉ dừng lại ở việc giới thiệu nhiều loại hình văn nghệ dân gian người Việt ở Nam Bộ, mà còn đề cập đến nhiều dạng sinh hoạt vật chất, nhiều phong tục tập quán và sinh hoạt tính ngưỡng, hội hè của dân chúng trong vùng.” [22;tr.21] Còn đây là công trình nghiên cứu văn học dân gian Nam Bộ với gốc nhìn văn hóa học thông qua sự kết hợp với văn học dân gian. * Văn hóa dân gian Nam Bộ những phác thảo – Nguyễn Phƣơng Thảo, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997. Quyển sách có ý nghĩa giới thiệu và giải mã văn hóa dân gian của một vùng – vùng sông nƣớc Cửu Long và bổ sung vào vốn văn hóa cả nƣớc. Quyển sách còn đề cập đến những vấn đề cụ thể trong lĩnh vực đời sống tâm linh của con ngƣời. * Diện mạo văn hóa dân gian Nam Bộ, Nguyễn Văn Hầu (gồm 2 tập), Nxb Trẻ, 2004. Tập 1 đã khái quát về các thể loại văn học dân gian ở Nam Bộ nhƣ truyện cổ tích, tục ngữ, câu đố, ca dao, hò,... bƣớc đầu cho ngƣời đọc hình dung diện mạo của văn hóa dân gian trong không gian Lục tỉnh. Đối với văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và ca dao nói riêng đƣợc các tập thể, cá nhân tập hợp và biên soạn ra mắt bạn đọc góp phần làm cho kho tàng ca dao Việt Nam phong phú hơn * Công trình nghiên cứu tập thể Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long, Khoa Ngữ văn Trƣờng Đại học Cần Thơ, Nxb Giáo dục 1997. Sƣu tầm những sáng tác dân gian thuộc nhiều thể loại ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có một phần lớn là ca dao. Ở phần Cùng bạn đọc, từ những sáng tác dân gian nhƣ truyện, vè, ca dao, tục ngữ tập thể tác giả đã giới thiệu về văn hóa văn minh sông nƣớc miệt vƣờn ruộng rẫy Nam Bộ, “Trên vùng đất này, những dòng sông, con kênh, con rạch đan xen vào nhau, uốn quanh những vườn cây sum suê, trĩu quả, những cánh đồng mênh mông, “cò bay thẳng cánh”. Đồng bằng sông Cửu Long là châu thổ phì nhiêu, phù sa màu mỡ, với thế mạnh của ruộng lúa, vườn cây, đã và hiện vẫn là khu vực có sản lượng nông nghiệp lớn nhất nước.” [28;tr.5] * Thơ văn Đồng Tháp, tập 1, do Trƣờng Đại học Sƣ phạm thành phố Hồ Chí Minh và Trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm Đồng Tháp biên soạn, Nxb tổng hợp Đồng Tháp, 1986. Trong lời giới thiệu, nhà nghiên cứu Lê Trí Viễn có giải thích tại sao lấy tên công trình là Thơ văn Đồng Tháp. Theo giải thích, do công trình bao gồm các thể loại văn học (văn học dân gian và văn học viết) đƣợc tập hợp theo thời gian từ khi có địa danh Đồng Tháp, đến năm 1986. Lê Trí Viễn đã phân tích về lịch sử hình thành theo từng giai đoạn – mốc thời gian, tên gọi, cảnh quan thiên nhiên từ buổi hoang sơ đến khi đô thị phát triển, sinh hoạt ăn ở, các sản vật thiên nhiên tiêu 3
  10. biểu, ngôn ngữ - cách nói năng của con ngƣời nơi đây. Đặc biệt Lê Trí Viễn đã đi sâu vào phân tích tính cách con ngƣời với những điểm nổi bật: cƣơng trực, nghĩa khí phóng khoáng, ngang tàng bộc trực, thật thà và tình cảm sâu đậm. Ông kết luận: “Nảy nở trên đất này, thấm mồ hôi, xương máu của con người, từng qua bao cơn vui mừng, lo lắng, bao nỗi sung sướng, thương đau, thơ văn này là tiếng nói chung thống nhất cho hơn chịu đồng bào tỉnh nhà. Thống nhất giữa Đồng Tháp với Nam Bộ, nơi miền Nam và cả nước, một nắm đất là một phần cơ thể Tổ quốc; thống nhất giữa lịch sử Đồng Tháp với lịch sử nước nhà, ba trăm năm mà vẫn còn là bốn ngàn năm; thống nhất trong văn mạch phía Nam và mạch cả nước.” [27;tr.58] Nhƣ vậy, dù là thơ văn Đồng Tháp (nhất là phần văn học dân gian) nhƣng cũng là của Nam Bộ và đồng thời tính cách con ngƣời Đồng Tháp cũng là tính cách con ngƣời Nam Bộ. * Ca dao Đồng Tháp Mười, Đỗ Văn Tân (chủ biên), Nxb Sở Văn hóa Thông tin Đồng Tháp, năm 1984. Sƣu tập những bài ca dao của quê hƣơng Đồng Tháp. Gồm các mối quan hệ gia đình, xã hội, tình yêu – hôn nhân, ca ngợi Đảng Bác Hồ và những bài ca dao chống thực dân Đế quốc. Trong phần lời của nhóm biên soạn có đoạn: “chúng ta tìm trong ca dao Đồng Tháp Mười có rất nhiều câu lưu lại đậm nét mầm dã thưở sơ khai của vùng đất mới này.”[23;tr.7] Còn có nhiều bài ca dao ca ngợi khá đầy đủ những đặc trƣng cảnh trí và sản vật của địa phƣơng. * Văn học dân gian Tiền Giang, Nxb Sở Văn hóa Thông tin Tiền Giang, 1985. Đây là công sức của cán bộ giảng dạy và nhiều khóa sinh viên khoa văn Trƣờng Đại học Sƣ phạm Tp. HCM, kế đến là công trình tập thể nhiều năm của cán bộ, nghệ nhân nghiên cứu văn hóa và hoạt động văn nghệ tỉnh nhà. Quyển sách bao gồm nhiều bài ca dao xuất xứ tại quê hƣơng Tiền Giang và các bài ca dao xuất xứ từ các vùng miền khác nhƣng đƣợc lƣu hành phổ biến ở Tiền Giang. * Đồng bằng sông Cửu Long nét sinh hoạt xưa, Sơn Nam, Nxb Trẻ, Tp. HCM, 1987. Tác giả đã khái quát bức tranh sống động về những sinh hoạt văn hóa của vùng ĐBSCL vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Ngoài các công trình trên còn có các tạp chí, các bài tham luận, các bài luận văn, khóa luận tốt nghiệp nhƣ: * Ca dao Nam Bộ - ca dao vùng đất mới, Trần Văn Nam, tập san Khoa học Xã hội, số 5, 1998. Bài viết giới thiệu về vẻ hoang vu của thiên nhiên Nam Bộ qua những bài ca dao, về hình ảnh của những con ngƣời đi khai hoang, ca dao của vùng sông nƣớc. Qua bài viết này, chúng ta biết thêm về thiên nhiên Nam Bộ phản ánh cái nhìn của con ngƣời buổi đầu mở đất. * Tính cách Nam Bộ qua biểu trưng ca dao, Trần Văn Nam, trang mạng e- cadao.com, bài viết bao gồm: biểu trƣng với tinh thần trọng nghĩa khinh tài, biểu 4
  11. trƣng với tính cách ngang tàng. Bài viết phần nào cho chúng ta thấy đƣợc tính cách con ngƣời Nam Bộ thể hiện qua một số bài ca dao. * Cần Thơ đất nước con người trong ca dao, Trần Văn Nam, báo Cần Thơ, 20.02.2005. Giải thích nguồn gốc địa danh Cần Thơ qua ca dao, đƣợc nhìn nhận qua hai góc độ: những bài ca dao về Cần Thơ, các tên riêng thuộc Cần Thơ,... và nhóm bài ca dao đề cập đến nhân vật lịch sử, văn hóa, phong tục và sản vật,... của địa phƣơng. * Đất nước và con người trong ca dao Nam Bộ, Nguyễn Thị Hoàng Lâm, luận văn tốt nghiệp Sƣ phạm Ngữ văn, Đại học Cần Thơ, 1994. Luận văn đã làm nổi bật hình ảnh đất nƣớc và con ngƣời vùng đất Nam Bộ buổi đầu khai phá. * Bài Thử nhìn văn hóa Nam Bộ qua lăng kính ca dao, Trần Văn Nam, đăng trong Thông báo Văn hóa dân gian 2001. Bài viết chú ý đến “hiệu quả kép” về mặt ý nghĩa của các hình ảnh đƣợc tác giả dân gian sử dụng. Theo tác giả bài viết thì khi sử dụng các hình ảnh này vừa “diễn đạt nội dung bài ca dao”, vừa “thể hiện đặc điểm văn hóa của tập thể tác giả dân gian”. Tác giả bài viết đã khảo sát các hình ảnh trong ca dao Nam Bộ qua hai khía cạnh: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Thông qua lăng kính ca dao, tác giả bài viết đã khẳng định: “Những hình ảnh này mộc mạc được hình thành từ đặc điểm văn hóa Nam Bộ, mặt khác chúng góp phần biểu hiện những đặc điểm văn hóa đó”. Bài viết này đã giúp chúng tôi có cái nhìn bao quát về văn hóa của vùng đất Nam Bộ với những nét sinh hoạt và những tập quán, tín ngƣỡng, … Từ đó, giúp chúng tôi dễ dàng đi vào nghiên cứu đề tài của mình. Qua những công trình nghiên cứu mà chúng tôi tìm thấy đƣợc thì chƣa có công trình nào đi sâu tìm hiểu về đất nƣớc và con ngƣời trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long. Những công trình nghiên cứu trên sẽ là tiền đề để chúng tôi nghiên cứu đề tài Đất nước và con người trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long. Thực hiện đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ có đóng góp dù là rất nhỏ trên con đƣờng tìm hiểu văn học dân gian vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long. 3. Mục đích nghiên cứu Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long rất phong phú đa dạng, thực hiện đề tài trên, trƣớc hết ngƣời viết nhằm tìm hiểu, bổ sung thêm về một mảng trong sáng tác văn học dân gian của vùng đó là ca dao đặc biệt là ca dao về đất nƣớc và con ngƣời. Qua đó chúng tôi mong muốn tìm hiểu mối quan hệ giữa con ngƣời đối với thiên nhiên vùng đất mới. Đồng thời phân tích để tìm ra cái hay, cái đẹp trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long. Yêu cầu ở đây là phải nắm đƣợc những đặc trƣng cơ bản về lịch sử, địa lí, con ngƣời, vùng đất và văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long nhằm cung cấp cho 5
  12. ngƣời viết kiến thức cần thiết để hiểu và cảm nhận ca dao Đồng bằng sông Cửu Long một cách sâu sắc. Thực hiện đề tài này ngƣời viết tiếp cận ca dao Đồng bằng sông Cửu Long theo bốn chủ đề chính: tình yêu quê hƣơng đất nƣớc, tình cảm nam nữ, tình cảm gia đình và các mối quan hệ khác. 4. Phạm vi nghiên cứu Với đề tài này, ngƣời viết giới hạn phạm vi nghiên cứu là ca dao Đồng bằng sông Cửu Long. Cụ thể hơn là nghiên cứu đất nƣớc và con ngƣời trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long. Do dung lƣợng luận văn có hạn, vấn đề nghệ thuật của mảng ca dao Đồng bằng sông Cửu Long về đất nƣớc, con ngƣời sẽ đƣợc nghiên cứu, trình bày riêng. Phạm vi tài liệu là những công trình có các vấn đề liên quan tới nội dung nghiên cứu trên. Trong đó, tài liệu tham khảo chính là cuốn Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long, tập thể cán bộ Khoa Ngữ văn Đại học Cần Thơ biên soạn, Nxb Giáo dục, 1997. Cuốn Ca dao Đồng Tháp Mười, nhóm tác giả biên soạn: Đỗ Văn Tân, Vũ Hoàng Đoàn, Đinh Thiên Hƣơng, Cái Văn Thái và Lê Hƣơng Giang, Sở Văn hóa Thông tin Đồng Tháp, 1984. Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu ngƣời viết còn tham khảo một số tài liệu có liên quan nhƣ: Ca dao dân ca Nam Bộ, Thơ văn Đồng Tháp, Văn học dân gian Tiền Giang, … để làm sáng tỏ vấn đề. 5. Phương pháp nghiên cứu Thực hiện đề tài này ngƣời viết đã sử dụng chủ yếu các phƣơng pháp sau: * Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết: Đây có thể đƣợc xem là phƣơng pháp đƣợc sử dụng rộng rãi trong công tác nghiên cứu của mọi vấn đề. Ở đây, ngƣời viết đã thu thập các tài liệu có liên quan đến luận văn, chọn lọc và ghi nhận những nội dung cần thiết để làm cơ sở dữ liệu cho luận văn. * Phƣơng pháp thống kê, phân tích: Phƣơng pháp này giúp ngƣời viết biết đƣợc tình hình nghiên cứu và tài liệu liên quan đề tài có định hƣớng phù hợp với yêu cầu đề tài. * Phƣơng pháp tổng hợp, so sánh: Để so sánh thiên nhiên và con ngƣời trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long với ca dao vùng miền khác. So sánh, đối chiếu với ca dao cổ truyền để thấy nét riêng trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long về quê hƣơng đất nƣớc. Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện đề tài ngƣời viết còn sử dụng các phƣơng pháp liên ngành đặt trong mối liên hệ giữa văn học dân gian với văn hóa học, dân tộc học, … nhằm tổng hợp và hệ thống lại vấn đề đã nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề, những nhận định mới đƣợc đƣa ra. 6
  13. Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 1.1. Vài nét về Đồng bằng sông Cửu Long 1.1.1. Địa lí và lịch sử khai phá Đồng bằng sông Cửu Long * Về địa lí: Vùng đất Nam Bộ có diện tích hơn 63.277,2 Km², nằm ở phía nam của Việt Nam thuộc hạ lƣu sông Mê kong. Do đặc điểm cấu tạo nên Nam Bộ đƣợc chia làm hai miền: Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Đồng bằng sông Cửu Long còn gọi là vùng Đồng bằng Nam Bộ hoặc miền tây Nam Bộ hoặc theo cách gọi của ngƣời dân miền Nam ngắn gọn là Miền Tây. Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 40.548,2 Km², dân số trong vùng là 17.330.900 ngƣời, có 12 tỉnh và một thành phố trực thuộc Trung Ƣơng: An Giang, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Thành phố Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long. Tây Nam Bộ có địa hình đồng bằng tƣơng đối thấp, bằng phẳng, vùng đất đƣợc bồi tụ phù sa của sông Cửu Long nên đất đai màu mỡ phì nhiêu, Đồng bằng sông Cửu Long còn là trung tâm nông nghiệp, vựa lúa lớn nhất cả nƣớc, khí hậu tƣơng đối mát mẻ, điều hòa. Một năm chỉ có hai mùa: mùa mƣa và mùa nắng. Nhắc đến Đồng bằng sông Cửu Long cũng là nói về một vùng sông nƣớc. Toàn vùng có 2.500 Km sông tự nhiên, 3.000 km kinh đào, khoảng 150 cù lao trên sông. Đồng bằng sông Cửu Long có vùng đất ngập nƣớc đa dạng sinh học nhất Châu Á trải từ U Minh Thƣợng đến Mũi Cà Mau. Đồng bằng sông Cửu Long còn có hệ thống núi đá vôi Kiêng Lƣơng (Kiên Giang) nhƣ thành lũy thiên nhiên phía Tây Nam Tổ quốc, đảo Phú Quốc (Kiên Giang) đẹp và lớn nhất Việt Nam, hệ thống rừng ngập mặn ven biển, rừng gỗ lớn thƣờng xanh ở Phú Quốc, rừng rụng lá theo mùa ở An Giang, rừng chồi bụi trên núi đá vôi ở Kiên Lƣơng. Đặc biệt sông còn là đƣờng giao thông quan trọng trong việc đi lại và vận chuyển hàng hóa của ngƣời dân nơi đây. Đặc điểm nổi bật của Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống sông ngòi chằng chịt. Ngoài hệ thống sông Cửu Long, nơi đây còn có hệ thống sông nhỏ đổ ra Vịnh Thái Lan: “Trên vùng đất này, những con sông, con kênh, con rạch đan xen vào nhau, uốn quanh những vườn cây sum suê, trĩu quả, những cách đồng mênh mông cò bay thẳng cánh.”[28;tr.5] Bên cạnh những dòng chảy tự nhiên, con ngƣời còn “khai mương” làm vƣờn, đào kênh xả phèn cho ruộng, môi trƣờng sông nƣớc đã sản sinh ra nền “văn minh kênh gạch”. Do có nhiều dòng chảy nên giao thông đƣờng thủy là hệ thống quan trọng của nhân dân từ buổi đầu khai hoang cũng nhƣ 7
  14. trong suốt mấy thế kỷ qua. Sinh hoạt trên sông nƣớc của họ chủ yếu gắn liền với ghe, xuồng. Từ chiếc xuồng ba lá buổi đầu đến chiếc vỏ lãi máy đuôi tôm là cả một quá trình lao động, sáng tạo. Hầu hết cuộc sống cƣ dân nơi đây gắn liền với chiếc ghe (ghe làm nhà ở, ghe bán hàng, ghe đi làm thuê, ghe làm phƣơng tiện chăn nuôi,…). “Chèo ghe đi bán cá vồ, Nước chảy ồ ồ chẳng có ai mua” [28;tr.321] Ở Đồng bằng sông Cửu Long ngƣời ta còn nhắc đến văn minh gắn liền với cây trái, ruộng đồng sông nƣớc, đó là văn minh miệt vƣờn. Vƣờn ở đây xuất hiện tƣơng đối sớm và phát triển khá mạnh. Vƣờn ở Đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn và trồng cây chuyên canh quanh năm nhƣ Xoài Cao Lãnh – Đồng Tháp, cam Long Tuyền – Cần Thơ… “Hòa An phong cảnh mơ màng, Có vườn mận đẹp, có làn nước xanh” [28;tr.318] Công việc làm vƣờn đòi hỏi con ngƣời sáng tạo mà kinh nghiệm của dân ruộng không thể làm đƣợc. Ngƣời ta phải đắp bờ quanh cù lao ngăn nƣớc, khai mƣơng lên liếp rồi đến kỹ thuật ƣơm cây, chiết cành. Công việc này diễn ra quanh năm nhƣng lại không chịu sự thúc bách của thời vụ nhƣ làm ruộng khiến cuộc sống trở nên khoan thai, con ngƣời trở nên điềm đạm, thanh thản hơn. Về mặt đơn vị cơ sở của tổ chức xã hội, làng ngƣời Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều đặc điểm khác với làng ở Bắc và Trung Bộ. Nếu làng ở Bắc Bộ có tính khép kín thì làng ở Đồng bằng sông Cửu Long lại có tính chất mở, hầu hết cƣ dân sinh sống trên các trục kênh mƣơng hay trục giao thông tiện bề đi lại cũng nhƣ mua bán trao đổi hàng hóa. Nếu làng Bắc Bộ có sự phân biệt giữa dân chính cƣ và dân ngụ cƣ nhằm duy trì sự ổn định của cộng đồng thì làng ở Đồng bằng sông Cửu Long lại không có sự phân biệt này, cƣ dân ở Nam Bộ sẵn sàng đến bất kỳ nơi nào có thể đáp ứng đƣợc đời sống vật chất và tinh thần cho họ. Con ngƣời ở đây thƣờng hƣớng tới cái “nghĩa”, vì thế tính cách của con ngƣời Nam Bộ hào phóng và lòng hiếu khách, thái độ bộc trực và tinh thần trọng nghĩa khinh tài. Thành phố Cần Thơ là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, du lịch của vùng Đồng bằng sông Cửu Long với các khu công nghiệp, các trƣờng Đại học, có nhiều điểm du lịch nổi tiếng nhƣ: Bến Ninh Kiều, Chợ nổi Cái Răng, … thu hút khách du lịch trong và ngoài nƣớc đến tham quan. Đây là trung tâm buôn bán trao đổi hàng hóa và là “thủ phủ” của Miền Tây. 8
  15. “Cần Thơ gạo trắng nước trong Đậm tình non nước gợi lòng khách du” [4;tr.134] * Lịch sử khai phá: Trƣớc thế kỷ XVII, Đồng bằng sông Cửu Long còn là một nơi hoang dã. Vùng đất này còn ngủ yên trong vẻ hoang sơ u tịch với số dân bản địa ít ỏi và thƣa thớt. Quang cảnh thiên nhiên hoang sơ chỉ có những bụi mây dài, cây to, cát vàng, lau sậy trắng, cây cối um tùm, rễ phụ thòng xuống bám đất, tàng cây che tối om làm thành hang cho cọp sinh sống. Tre gai mọc rất nhiều gần nhƣ thành rừng; lúa ma, lau trắng sậy đế mọc khắp nơi, … cảnh vật hoang sơ, độc địa: “Muỗi kêu như sáo thổi Đỉa lội tợ bánh canh Cỏ mọc thành tinh Rắn đồng biết gáy” [23;tr.28] Hay “U Minh, Rạch Giá thị quá Sơn Trường Dưới sông sấu lội trên bờ cọp um” [28;tr.320] Muôn thú sống thích ứng với cảnh hoang dã. Loài cọp quen uống nƣớc suối, dạo chơi quanh sƣờn núi, xuống đây phải làm quen với hoàn cảnh sống mới: uống nƣớc bùn, lội bì bõm trên sình lầy, không có hƣơu nai để ăn phải ăn cá thòi lòi, ăn cua, bơi lội vụng về nhƣ chó từ bờ sông qua cù lao để rình mồi giữa bụi dừa nƣớc. Loài cá sấu sống ung dung hơn. Loại sấu lửa màu vàng đen, lớn bằng chiếc ghe tam bản, rất dữ. Nó thƣờng dùng đuôi đập vào con ngƣời, ngƣời ngã xuống sông bị cá sấu nuốt. Voi đi từng bầy, dặm đất sình, phá phách vƣờn tƣợc, hoa màu. Heo rừng, trâu rừng sống theo bầy tàn phá rất lớn đối với cây trái; Rắn sinh sôi nảy nở rất nhanh vì sống phù hợp với khí hậu ẩm thấp vùng rừng nhiệt đới; Khỉ sống thành từng bầy, kêu hú vang dội ven sông rạch trong rừng. Miền nhiệt đới, khí hậu ẩm thấp là thiên đƣờng của côn trùng và vi trùng nhƣ muỗi, đỉa, vắt, mọt, mối, kiến,… Muôn vật nhƣ bao trùm lên một cảnh hoang sơ bí hiểm khiến con ngƣời càng trở nên nhỏ bé làm cho họ có tâm trạng lo sợ trƣớc cảnh vật lạ lùng. Chính điều này làm cho con ngƣời phải có cách ứng xử để thích ứng với môi trƣờng sống mới, để có thể tồn tại và phát triển. “Tới đây xứ sở lạ lùng Chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng ghê” 9
  16. Hay: “Chèo ghe sợ sấu cắn chưn Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma” [4;tr.134,153] Công cuộc khai hoang ở Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và Nam Bộ nói chung đƣợc tiến hành có quy mô bắt đầu từ thế kỷ XVII. Vào năm 1698, Nguyễn Hữu Kỉnh đƣợc lệnh vào Nam lập phủ Gia Định. Thành phần những ngƣời vào Nam khai phá khá phức tạp. Những ngƣời có tiền của vào Nam theo chế độ của nhà Nguyễn, họ thuê mƣớn nhân công lao động, khai phá theo kiểu điền chủ lớn, kiểu nông trại theo lối quảng canh, việc khai hoang có nhiều thuận lợi. Những ngƣời nghèo đi riêng lẻ, họ là những ngƣời trốn khỏi vòng thiết chế phong kiến khắc nghiệt ở vùng ngoài, đi tìm vùng đất mới để sinh cơ lập nghiệp. Những ngƣời lính thú, tội đồ bị đƣa vào Nam lập các đồn điền trấn giữ biên ải. Lúc đầu làm ăn theo lối quảng canh vì đất rộng ngƣời thƣa, mà không có cơ giới, họ phải dùng sức ngƣời là chính, nên một năm làm ruộng một mùa, không bón phân, cũng không tận dụng đất, nơi nào thuận thì làm, không thuận thì bỏ hoang. Thay đổi nghề nhanh chóng, nguồn lợi tự nhiên dồi dào nhƣ bắt cá đồng, cá biển, đốn củi, nghề câu cá sấu,… thu lợi nhanh hơn làm ruộng. Với việc thay đổi thành phần xã hội khá nhanh, ngƣời giàu có đứng ra làm chủ, mƣớn nhân công, phá sản lại trở về làm công. Về canh tác, trong tình hình lúc bấy giờ, khai thác trên diện tích rộng, ngƣời dân sớm thích nghi với điều kiện thời tiết: khí hậu nhiệt đới với hai mùa mƣa nắng rõ rệt là môi trƣờng cho sinh vật phát triển. Về thổ nhƣỡng, tùy theo đất mà cày hoặc không cày. Ở những nơi đất nhiều phù sa dọc hai bên bờ sông Tiền, sông Hậu làm theo lối phát cỏ đến đâu cấy đến đấy, thu hoạch đƣợc nhiều. Có nơi phải cày trâu nhƣ ở Vàm Cỏ, Xoài Rạp, … Có nơi đất xấu khó làm ruộng đƣợc nhƣ ở Hà Tiên, Cà Mau. Về kinh tế làm theo kiểu kinh tế hàng hóa. Những kho hàng Cù Lao Phố, rồi Chợ Lớn, kho hàng Hà Tiên, Mỹ Tho, Bài Xãi (Sóc Trăng) hoạt động thƣờng xuyên nhờ hệ thống chân rết. Nguyên tắc của tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn là bế quan tỏa cảng. Vua quan nắm quyền ngoại thƣơng rồi ủy thác cho thƣơng gia ngƣời Hoa. Nhờ yêu cầu của thị trƣờng rộng lớn, ngƣời khẩn hoang bƣớc đầu đƣợc khích lệ, tạo ra nguồn hàng dồi dào, bảo đảm cạnh tranh về chất lƣợng. Nhƣ năm 1825, đời Minh Mạng có nhiều thuyền chở gạo vào chợ Hà Tiên. Đây là nơi ít ruộng, nhà vua đƣa ra chủ trƣơng đánh thuế nhẹ để khuyến khích sự trao đổi buôn bán. Cụ thể thuyền Xiêm chở 8/10 gạo trở lên thì hoàn toàn miễn thuế; chở 5/10 miễn 7/10 thuế. 10
  17. Ở đất mới, muốn phát triển sản xuất, phải nới rộng luật lệ, khuyến khích tự phát. Đời Minh Vƣơng Nguyễn Phúc Chu, chính sách rất tùy tiện, ngƣời dân ở Gia Định (Nam Bộ) có thể khẩn đất, canh tác tại đơn vị hành chính này nhƣng nộp thuế ở đơn vị khác. Năm 1779, đang lúc tranh chấp với Tây Sơn, Nguyễn Ánh chỉnh đốn thuế vụ nhằm cung cấp chi phí chiến tranh, đặt ra dinh Trƣơng Đồn (Long An), xem đây là trung tâm của đồng bằng lúc bấy giờ, giữa Vàm Cỏ Tây và sông Tiền. Đất mới khai phá miễn thuế ba năm theo lệ đời Gia Long, năm 1836 (năm Minh Mạng thứ 17), việc đo đạc ruộng đất tƣơng đối chính xác bằng sào, mẫu gần nhƣ không có. Trong địa bộ ghi khái quát một khoảnh đất hoặc hai dây đất với tên họ những ngƣời chủ đất ở bốn phía ranh, khai gian diện tích để đóng thuế nhẹ. Ranh giới giữa đồng bằng và đất Campuchia từ lâu chỉ là vạch ra trên nguyên tắc, trong thực tế cƣ dân hai bên vẫn qua lại dễ dàng. Chính quyền khuyến khích lập làng xã đễ dễ dàng kiểm soát dân số và thu thuế, mỗi làng quy tụ số dân đinh tối thiểu chừng mƣơi ngƣời, vì vậy cƣ dân sinh sống trải dài theo ven sông gạch, đất ruộng canh tác xen kẻ với những khoảng đất trống, đem lại nguồn lời dồi dào. Triều đình nhà Nguyễn ƣu tiên cho việc khẩn hoang, mở mang bờ cỏi. Chính sách của nhà Nguyễn khuyến khích ngƣời dân đi khẩn hoang nhƣ đối với vùng đất xấu, ngƣời dân không phải đóng thuế. Thậm chí, nhà Nguyễn không chỉ dùng chính sách khuyến khích động viên mà còn bắt buộc, cƣỡng bức dân lập đồn điền khẩn hoang. Năm 1790 Nguyễn Ánh lệnh cho các nha văn võ mộ ngƣời lập các đội nậu đồn điền. Năm 1791 Nguyễn Ánh lại ra lệnh cho các hạng dân và ngƣời đƣờng cũ, mới, ở đạo Long Xuyên, ai muốn làm đồn điền mà không đủ đồ làm ruộng thì nhà nƣớc cho vay… Kẻ nào không muốn làm đồn điền thì bắt phải thu dịch tòng chinh để răn những kẻ chơi bời lƣời biếng. Những ngƣời Phiên và ngƣời Đƣờng ở hai phủ Ba Xắc và Trà Vinh cũng cho khẩn đất làm đồn điền. Việc áp dụng chính sách đồn điền vừa nhằm mục đích kinh tế vừa nhằm mục tiêu bảo vệ an ninh. Trong tình hình mới khai phá, ngoài những xã thôn mới định hình, nhà Nguyễn cho tổ chức những nhóm nhỏ gọi là phƣờng, trại, nậu, … nhiều thôn xã họp lại thành tổng; đào kinh để mở mang ruộng; khuyến khích dân khẩn hoang; mở đƣờng giao thông để chuyên chở hàng hóa. Năm 1817, theo lệnh triều đình, Nguyễn Văn Thoại dốc sức đào kinh Thoại Hà, kinh Vĩnh Tế đƣa nƣớc sông Hậu mùa lũ lụt ra Vịnh Thái Lan, ở phía bắc sát biên giới. Trong việc đào kinh, sức khỏe và an ninh của những ngƣời dân phu không đƣợc bảo đảm. Giữa chốn đồng không hiu quạnh, ăn uống thiếu thốn, số ngƣời chết quá cao. Chiến tranh xảy ra liên miên đã ảnh hƣởng đến công cuộc khai hoang. Đời sống sinh hoạt của ngƣời dân bị xáo trộn, thời gian tạm ổn là vài tháng, đôi năm, chƣa hẳn là yên tĩnh. Những khoảng thời gian yên ổn giúp ngƣời dân ổn định cuộc sống, mở mang thêm đất mới. 11
  18. Trong 50 năm đầu thế kỷ XIX, sau khi đo đạc lại đất đai ở các tỉnh Nam Bộ, nhà Nguyễn tích cực phát triển chế độ công điền, công thổ. Thực tế, đây là một sự tƣớc đoạt ruộng đất của điền chủ và ngƣời khẩn hoang. Chế độ tƣ hữu về ruộng đất trƣớc kia trong bƣớc đầu khai hoang tạo ra sự hứng thú cho ngƣời khai khẩn. Ngƣợc lại, chế độ công điền không làm tăng đƣợc năng suất vì cày cấy tạm bợ trên thửa ruộng công mà sau ba năm làng xã lấy lại. Ngƣời canh tác thiếu hứng thú đầu tƣ công sức làm thủy lợi, đắp bờ, cải tạo đất. Chế độ đồn điền bị hủy bỏ ngay khi thực dân Pháp đến. 1.1.2. Con người Đồng bằng sông Cửu Long và những nét sinh hoạt văn hóa xã hội * Con người Đồng bằng sông Cửu Long: Đồng bằng sông Cửu Long là nơi cộng cƣ của nhiều tộc ngƣời nhƣ: Việt, Hoa, Khmer, Chăm,... trong những năm gần đây, một số ít dân tộc phía bắc cũng có mặt trên vùng đất này. Họ sống hòa hợp với nhau, tƣơng trợ và giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống. Hoàn cảnh môi trƣờng sống có tác động lớn đến việc hình thành tính cách con ngƣời Đồng bằng sông Cửu Long. Những ngƣời đi khẩn hoang phải đối đầu với thiên nhiên khắc nghiệt, họ bỏ quê hƣơng đến vùng đất mới. Họ đi tìm sự sống trong muôn vàn cái chết, trong gian khổ, hiểm nguy, họ cần có sự tƣơng trợ đùm bọc lẫn nhau. Sống xa quê hƣơng cố quán, con ngƣời cần tình bạn nên rất hiếu khách, kết nghĩa bạn bè rộng rãi: “Liều mình vào chốn chông gai Kề lưng cỗng bạn ra ngoài thoát thân” [28;tr.8] Những ngƣời vào đây khẩn hoang đa số là ngƣời nghèo, họ không thông thạo kinh sử. Nhƣng họ không dấu dốt, ham học hỏi, trọng ngƣời biết chữ, ƣu kẻ sĩ. Tình cảm con ngƣời Đồng bằng sông Cửu Long rất đậm đà, không khuôn sáo, chân thật, cởi mở. Nhƣng họ hào hiệp, ít chịu ràng buộc trƣớc những luật lệ kỷ cƣơng phong kiến, trọng nghĩa khinh tài, bộc trực, ngang tàng, có lòng yêu nƣớc nồng nàn, thiết thực, chuộng tiến bộ. Bên cạnh những nét đẹp trong tính cách, ngƣời Đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn một vài tính xấu. Thẳng thắn, bộc trực đôi khi dẫn đến nóng nảy, thiếu kiên nhẫn trong công việc. Chính vì nóng nảy nên khi việc lớn không thành thì mau nguội lạnh, không có một kế hoạch lâu dài mang tính chiến lƣợc. Và sự thoải mái, hào phóng trong cuộc sống tạo cho ngƣời Đồng bằng sông Cửu Long tính ỉ lại thiên nhiên, không có sự chuẩn bị chu đáo, đụng đâu làm đó. 12
  19. * Những nét sinh hoạt văn hóa xã hội: Do những điều kiện địa lí và lịch sử hình thành nên Đồng bằng sông Cửu Long có những nét đáng lƣu ý về mặt văn hóa. Văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long là dòng chảy hợp lƣu hội tụ, kết tinh của nhiều nguồn văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Bên cạnh hai nền văn hóa chính là nền văn hóa Ấn Độ (của ngƣời Khmer) và nền văn hóa Trung Hoa (của ngƣời Hoa) còn có nền văn hóa Islan (của ngƣời Chăm). “Đây là nơi diễn ra quá trình giao lưu văn hóa giữa các tộc người. Đặc biệt nơi đây diễn ra quá trình giao lưu văn hóa với các nước Đông Nam Á và với phương Tây rất sớm.”[28;tr.5] Ngƣời Việt đi khẩn hoang sớm thích ứng với hoàn cảnh sống, biết tận dụng địa lợi tạo ra nhân hòa, sáng tạo vƣợt qua mọi khó khăn, chan hòa giao lƣu văn hóa với nhau, trao đổi kinh nghiệm làm ăn với con ngƣời và văn hoá của các dân tộc khác mà vẫn giữ đƣợc phong cách riêng của mình. Đặc biệt lời ăn tiếng nói của ngƣời Việt ở Đồng bằng sông Cửu Long mang một dấu ấn của việc giao hòa với lời ăn tiếng nói của các dân tộc anh em. “Tiếng Việt là ngôn ngữ chính nhưng dân chúng vẫn đang sử dụng tiếng Khmer, tiếng Hoa trong giao tiếp.”[28;tr.6] Từ miền Bắc, miền Trung vào lập nghiệp, ngƣời Đồng bằng sông Cửu Long còn giữ đƣợc nhiều phong tục, tập quán của quê hƣơng mình, nhiều khi có pha tạp đi đôi chút trên đƣờng đi khẩn hoang do giao tiếp với các nền văn hóa Chăm, Hoa, Khơme. Do tính chất mở, không ổn định của làng. Ở Đồng bằng sông Cửu Long vấn đề gia phả không đƣợc chú ý nhƣ ở Bắc Bộ, Trung Bộ. Không phân biệt đƣợc huyết thống sang trọng quý tộc, nên giới điền chủ giàu có biểu dƣơng nếp sống của mình bằng cách xài tiền, càng xài rộng rãi thì càng sang trọng, xem đồng tiền là phù du. Áo bà ba là kiểu áo du nhập từ Mã Lai đƣợc nhân dân ta cải biến lại. Chiếc áo bà ba mang màu sắc đất đai, vừa kính đáo vừa duyên dáng, dễ thƣơng mang sắc thái riêng. Chiếc áo bà ba mang những nét đặc trƣng của con ngƣời Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Nó không đơn thuần là chiếc áo quê mà nó còn mang hồn quê một thuở, mang tâm tình một thuở. Chiếc áo bà ba còn là cái cớ để trai gái thổ lộ tâm tình: “Áo bà ba trắng không ngắn, không dài, Sao anh không bận, bận hoài áo thun? Hai đứa mình chẳng đặng nằm chung, Tháng này gió bấc, bận áo thun cho ấm mình” [28;tr.388] Nghe chuyện cái áo bà ba, cái áo thun “hiện đại” xen vào nhƣ nghe đƣợc một lời trách móc thầm kín của cô gái. Sao anh lại quên nét đẹp bình dị, nét làng quê mà vội đi theo những cái gì xa lạ? 13
  20. Các món ăn đậm đà hƣơng vị địa phƣơng, cách xây dựng nhà của xóm làng, các phƣơng tiện giao thông tất cả điều mang tính chất của vùng đồng bằng. Các lề lối sinh hoạt, các phong tục tập quán, cách ứng xử chân tình phóng khoáng nếp sinh hoạt và thẩm mỹ hƣớng về sự giản dị, hồn nhiên nhƣng không kém phần lễ độ. 1.2. Ca dao và ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 1.2.1. Ca dao Hiện nay các nhà nghiên cứu, giới học giả vẫn chƣa có sự thống nhất về khái niệm ca dao. Rất nhiều học giả trong quá trình nghiên cứu đƣa ra khái niệm ca dao nhƣng vẫn chƣa mang tính thuyết phục cao. Sau đây là một số khái niệm ca dao của một số học giả: Theo Dƣơng Quảng Hàm thì: “Ca dao (ca: hát, dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn được lưu truyền trong nhân gian, thường tả tính tình phong tục tập quán của người bình dân.”[5;tr.15] Thuần Phong cho rằng: “Ca dao tức là dân ca truyền miệng trong dân gian, hát thành nhiều giọng, đặt theo nhiều thể, diễn tả sự vật, thế tình, thói tục và tư tưởng của nhân dân.”[21;tr.24] Mã Giang Lân – Lê Trí Quế cho rằng: “Ca dao là những bài có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân tộc (thường là lục bát) để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm.”[11;tr.216] Còn theo Vũ Ngọc Phan thì: “Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các thể thơ khác và có thể xây dựng được thành các điệu dân ca”[20;tr.42]. Theo Đinh Gia Khánh thì: “Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt. Theo cách hiểu thông thường thì ca dao là lời của các bài hát dân ca đã bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy,... Hoặc ngược lại là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca.”[8;tr.436] Tiếp theo đây là ý kiến của Nguyễn Văn Hầu: “Ca dao là câu, là bài hát ngắn, được truyền miệng từ người này sang người kia và từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng những lời văn giản dị bình dân.”[7;tr.52] Hiện nay các khái niệm ca dao tƣơng đối phong phú, nhƣng tựu trung lại các tác giả đều có chung quan điểm ca dao là: những câu hát có vần điệu, thường được sáng tác bằng thể thơ lục bát, được lưu truyền rộng rãi trong khắp dân gian từ thế hệ này sang thế hệ khác. 14
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2