intTypePromotion=3

SKKN: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên ở trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh

Chia sẻ: Lê Thị Diễm Hương | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:26

0
513
lượt xem
73
download

SKKN: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên ở trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Kiểm tra nội bộ trường học là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình quản lý, đảm bảo mối tạo lập mối liên hệ ngược thường xuyên, kịp thời giúp Hiệu trưởng hình thành cơ chế điều chỉnh trong quá trình quản lý nhà trường. Đây là một công cụ quan trọng góp phần tăng cường hiệu lực quản lý trường học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, giảng dạy trong nhà trường. Mời quý thầy cô tham khảo sáng kiến “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên ở trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh”.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên ở trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh

  1. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI TRƯỜNG THPT NGUYỄN HỮU CẢNH Người thực hiện: Phạm Ngọc Lư Lĩnh vực nghiên cứu: - Quản lý giáo dục R - Phương pháp dạy học bộ môn: ............................ £ - Lĩnh vực khác: ....................................................... £ (Ghi rõ tên lĩnh vực) Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN £ Mô hình £ Phần mềm £ Phim ảnh £ Hiện vật khác Năm học: 2010-2011
  2. SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN 1. Họ và tên: Phạm Ngoc Lư 2. Ngày tháng năm sinh: 01 – 03 – 1970 3. Nam, nữ: Nam 4. Địa chỉ: A47 – Tổ 7 – Khu phố 9, Phường An Bình, Biên Hòa, Đồng Nai 5. Điện thoại: 061.3834289 (CQ)/ 0613.832239 (NR); ĐTDĐ: 0918402815 6. Fax: E-mail: lungocpham98@gmail.com 7. Chức vụ: Phó Hiệu trưởng 8. Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO - Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân khoa học - Năm nhận bằng: 1992 ( Sư phạm Ngữ văn), 2007(Cử nhân Giáo dục Chinh trị) - Chuyên ngành đào tạo: Sư phạm Ngữ văn. III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC - Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: - Số năm có kinh nghiệm: 18 năm - Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây: + Góp phần nâng cao khả năng nhận diện và phân tích ngữ nghĩa từ Hán Việt cho học sinh phổ thông. + Sử dụng phương pháp đối sánh làm nổi bậc tinh thần tự hào dân tộc trong Bình Ngô đại cáo. + “Lấy học sinh làm trung tâm trong việc tự rèn luyện để hình thành nhân cách”. + Công tác giáo dục tuyên truyền, phòng ngừa, ngăn chặn tệ nạn xã hội và phòng chống ma tuý trong học đường. + Giáo dục lịch sử truyền thống cho đoàn viên – thanh niên học sinh thông qua mô hình “ Mỗi tuần : một nhân vật – một sự kiện”. + Một số biện pháp xây dựng tổ chức Đoàn Thanh niên vững mạnh trong trường trung học phổ thông. + Xây dựng phòng học trực tuyến để nâng cao chất lượng giảng dạy và giáo dục ( chung đề tài với Thầy Phan Quang Vinh và Cô Nguyễn Thị Minh Huệ) I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1. Lý do khách quan:
  3. Kiểm tra là một trong những chức năng cơ bản của quản lý. Đó là công việc – hoạt động nghiệp vụ mà người quản lý ở bất kỳ cấp nào cũng phải thực hiện. Đồng chí Lênin đã nói: “Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo”. Trong lĩnh vực giáo dục, hoạt động kiểm tra là một chức năng quan trọng trong công tác quản lý của Hiệu trưởng. Qua công tác kiểm tra, Hiệu trưởng sẽ hiểu rõ hoạt động của các cấp có phù hợp với các yêu cầu, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch của nhà trường hay không. Trên cơ sở đó Hiệu trưởng có cơ sở chuẩn xác để điều chỉnh kịp thời các quyết định cho phù hợp mục tiêu và yêu cầu kế hoạch đã đề ra. Kiểm tra nội bộ trường học là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình quản lý, đảm bảo mối tạo lập mối liên hệ ngược thường xuyên, kịp thời giúp Hiệu trưởng hình thành cơ chế điều chỉnh trong quá trình quản lý nhà trường. Đây là một công cụ quan trọng góp phần tăng cường hiệu lực quản lý trường học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, giảng dạy trong nhà trường. Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói: “Nếu tổ chức việc kiểm tra được chu đáo thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười lần, gấp trăm lần”. 2. Lý do chủ quan: Công tác kiểm tra nội bộ trường học nói chung và công tác kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên ở trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh nói riêng trong những năm qua được Hiệu trưởng nhà trường quan tâm. Từ đó, chất lượng giáo dục nhà trường được nâng dần lên hàng năm. Qua phân tích thực trạng công tác kiểm tra nội bộ nói chung và kiểm tra hoạt động sư phạm nói riêng để rút ra kinh nghiệm trong công tác quản lý, tìm ra giải pháp cải tiến công tác kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên một cách có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường trong năm học 2010 – 2011 và những năm học tới, bản thân tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên ở trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh”. II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI: 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN: 1.1. Các khái niệm liên quan đến đề tài: Thanh tra giáo dục là thanh tra chuyên ngành về giáo dục, thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước về giáo dục nhằm bảo đảm việc thi hành pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực giáo dục. Thanh tra giáo dục thực hiện nhiệm vụ: - Thanh tra việc thực hiện chính sách và pháp luật về giáo dục; - Thanh tra việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch, chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục; quy chế chuyên môn, quy chế thi cử, cấp văn bằng, chứng chỉ; việc thực hiện các quy định về điều kiện cần thiết bảo đảm chất lượng giáo dục ở các cơ sở giáo dục; - Thực hiện nhiệm vụ giải quyết các khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực giáo dục theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo;
  4. - Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; - Thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục theo quy định của pháp luật về chống tham nhũng; - Kiến nghị các biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật về giáo dục; đề nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách và quy định của Nhà nước về giáo dục; - Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật. Kiểm tra: Theo từ điển tiếng Việt thì “Kiểm tra: Tra xét kỹ lưỡng xem việc làm có đúng hay không”. - Theo A.G Afanaxep “Kiểm tra là quan sát và kiểm nghiệm sự phù hợp của quá trình hoạt động của khách thể với các quyết định quản lý đã lựa chọn, xác định kết quả tác động của chủ thể tới khách thể, xác định những sai lệch so với yêu cầu quyết định quản lý so với các nguyên tắc tổ chức và điều hòa đã áp dụng”. Kiểm tra là một trong những chức năng cơ bản của quản lý. Đó là công việc – hoạt động nghiệp vụ mà người quản lý ở bất kỳ cấp nào cũng phải thực hiện để biết rõ kế hoạch, mục tiêu đề ra trên thực tế đã đạt được đến đâu và như thế nào. Từ đó đề ra những biện pháp động viên, giúp đỡ, uốn nắn và điều chỉnh nhằm thúc đẩy các cá nhân và tổ chức phát triển. Kiểm tra nội bộ trường học là hoạt động xem xét và đánh giá các hoạt động giáo dục cũng như các điều kiện dạy – học, giáo dục trong phạm vi nội bộ nhà trường nhằm mục đích phát triển sự nghiệp giáo dục nói chung, phát triển nhà trường, phát triển người giáo viên và học sinh nói riêng. Kiểm tra nội bộ trường học có vai trò to lớn, là chức năng quản lý quan trọng của chu trình quản lý, đảm bảo tạo lập mối liên hệ ngược phục vụ cho công tác quản lý: - Kiểm tra nội bộ trường học là yếu tố tạo nên chất lượng giáo dục - đào tạo trong nhà trường, có tác dụng đôn đốc, thúc đẩy, hỗ trợ, giúp đỡ đối tượng kiểm tra làm việc tốt hơn, có hiệu quả hơn. Hoạt động sư phạm của giáo viên là toàn bộ hoạt động mang tính nghề nghiệp của người giáo viên, từ việc chuẩn bị bài, giảng dạy, giáo dục học sinh ở trong và ngoài lớp đến việc thực hiện các qui định về chuyên môn như: thực hiện chương trình, kiểm tra và chấm bài học sinh, đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về hồ sơ chuyên môn, tự bồi dưỡng và tham gia bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ…và thực hiện các công việc chuyên môn khác theo yêu cầu của các cấp quản lý. Đặc biệt, hoạt động sư phạm của giáo viên còn thể hiện qua phẩm chất đạo đức lối sống của giáo viên. Kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên là hoạt động kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy – giáo dục và thực hiện quy chế chuyên môn của giáo viên theo yêu cầu của chương trình và nội quy của nhà trường. Trong trường phổ thông, tất cả giáo viên đều được kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy – giáo dục nhằm giúp đỡ giáo viên nâng cao năng lực sư phạm, nâng cao chất lượng giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, góp phần phát triển hệ thống giáo dục quốc dân.
  5. Kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên có ý nghĩa: - Giúp Hiệu trưởng có thông tin đầy đủ, chính xác về thực trạng hoạt động sư phạm của giáo viên trong đơn vị mình, là cơ sở trong việc phân công, bố trí sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, xếp loại, đãi ngộ giáo viên một cách hợp lý; - Phát hiện, lựa chọn, phổ biến kinh nghiệm giảng dạy, giáo dục, tạo nội lực cho giáo viên hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ của mình đồng thời uốn nắn, điều chỉnh những sai sót lệch lạc trong quá trình giảng dạy, giáo dục nhằm nâng cao năng lực sư phạm, nâng cao nhận thức, giữ gìn đạo đức, nhân cách của nhà giáo, nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, góp phần phát triển hệ thống giáo dục quốc dân; - Tạo động lực để giáo viên có ý thức tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tự kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ; - Giúp Hiệu trưởng nhận rõ kế hoạch, việc phân công, điều hành, chỉ đạo… có khoa học, khả thi không, từ đó có các biện pháp điều chỉnh, giải quyết kịp thời những khó khăn của giáo viên nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học, giáo dục. 1.2. Nguyên tắc kiểm tra: Trong quá trình kiểm tra, Hiệu trưởng phải nắm thật vững các nguyên tắc cơ bản của kiểm tra và giúp giáo viên hiểu rõ những nguyên tắc này. Khi giáo viên nắm rõ các nguyên tắc kiểm tra sẽ có được môi trường kiểm tra thuận lợi. 1.2.1. Kiểm tra phải chính xác, khách quan: Đây là nguyên tắc hàng đầu của kiểm tra. Kết quả kiểm tra phải phản ánh đúng thực trạng về đối tượng kiểm tra, tránh định kiến, suy diễn cũng như tránh làm hình thức, giả tạo, cần đảm bảo các thủ tục pháp lý theo quy định. 1.2.2. Kiểm tra phải có hiệu quả: Kiểm tra không phải là “bới lông tìm vết”. Kiểm tra phải có tác dụng đôn đốc, thúc đẩy việc thực hiện được tốt hơn. Kiểm tra còn nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, lấy hiệu quả quản lý làm chuẩn mực để đánh giá hoạt động quản lý. Các lợi ích kiểm tra mang lại phải lớn hơn các chi phí và các hậu quả do kiểm tra gây ra. 1.2.3. Kiểm tra phải thường xuyên, kịp thời: Không phải có “vấn đề” mới kiểm tra mà đây là công việc thường xuyên của nhà quản lý. Kiểm tra thường xuyên và kịp thời sẽ giúp người quản lý có cơ sở điều chỉnh các hoạt động thực thi nhiệm vụ phù hợp, đồng thời tạo điều kiện giúp giáo viên tự kiểm tra bởi vì lao động sư phạm mang tính nghệ thuật cao, khó có thể kiểm soát trọn vẹn từ bên ngoài vào. 1.2.4. Kiểm tra phải công khai: Đó là sự thể hiện dân chủ trong quản lý. Cần phải động viên, thu hút cá nhân, đơn vị tham gia vào quá trình kiểm tra, biến quá trình kiểm tra bên ngoài thành quá trình tự kiểm tra của các cá nhân, bộ phận trong nhà trường. 1.3. Nhiệm vụ của kiểm tra:
  6. 1.3.1. Kiểm tra: Xem xét việc thực hiện nhiệm vụ của đối tượng kiểm tra so với các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật và các hướng dẫn của các cấp quản lý. Yêu cầu của kiểm tra là phải tỉ mỉ, rõ ràng, chỉ rõ những điều làm được, chưa làm được của đối tượng kiểm tra. Người được kiểm tra phải hợp tác, chấp nhận nhận xét của Ban kiểm tra. 1.3.2. Đánh giá: Xác định mức độ đạt được trong việc thực hiện các nhiệm vụ theo quy định, phù hợp với bối cảnh và đối tượng để xếp loại đối tượng kiểm tra. Yêu cầu của đánh giá là khách quan, chính xác, công bằng đồng thời định hướng, khuyến khích tạo cơ sở cho sự tiến bộ của đối tượng kiểm tra. 1.3.3. Tư vấn: Nêu được những nhận xét, gợi ý giúp cho đối tượng kiểm tra thực hiện ngày càng tốt hơn nhiệm vụ của mình. Yêu cầu của tư vấn là các ý kiến tư vấn phải sát thực, khả thi giúp cho đối tượng kiểm tra nâng cao chất lượng công việc của mình. 1.3.4. Thúc đẩy: Là hoạt động kích thích, phát hiện, phổ biến các kinh nghiệm tốt, những định hướng mới và kiến nghị với các cấp quản lý nhằm hoàn thiện dần hoạt động của đối tượng kiểm tra, góp phần phát triển hệ thống giáo dục quốc dân. Yêu cầu của thúc đẩy là người kiểm tra phải phát hiện, lựa chọn được kinh nghiệm (của đối tượng kiểm tra, của người khác, của mình…); phổ biến được kinh nghiệm tốt, những định hướng mới cho đối tượng kiểm tra và có những kiến nghị xác đáng đối với các cấp quản lý nhằm phát triển tổ chức, phát triển cá nhân trong đơn vị. 1.4. Nội dung kiểm tra: 1.4.1. Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của người giáo viên: - Nhận thức tư tưởng chính trị với trách nhiệm của một công dân, một nhà giáo đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. - Chấp hành chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. - Chấp hành quy chế của ngành, quy định của nhà trường, tôn trọng kỷ luật lao động. - Đạo đức, lối sống, ý thức đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, được sự tín nhiệm trong đồng nghiệp, học sinh. - Tính trung thực trong công tác, đoàn kết trong quan hệ với đồng nghiệp, thái độ phục vụ nhân dân và học sinh. 1.4.2. Kết quả công tác được giao: * Trình độ nghiệp vụ, tay nghề: - Trình độ nắm bắt kiến thức, kỹ năng, thái độ cần xây dựng cho học sinh thể hiện qua việc giảng dạy.
  7. - Trình độ vận dụng phương pháp giảng dạy và giáo dục thông qua kiểm tra giờ dạy trên lớp của giáo viên. * Thực hiện quy chế chuyên môn: - Thực hiện chương trình kế hoạch giảng dạy, giáo dục. - Thực hiện các yêu cầu về soạn bài theo qui định. - Kiểm tra và chấm bài, quan tâm giúp đỡ các đối tượng học sinh. - Tham gia sinh hoạt tổ chuyên môn. - Thí nghiệm, sử dụng đồ dùng dạy học. Thực hiện các tiết thực hành theo qui - định. - Đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về hồ sơ và các qui định về chuyên môn. - Tự bồi dưỡng và tham gia bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. - Tuân thủ các qui định về dạy thêm, học thêm. * Kết quả giảng dạy, giáo dục (xem xét ở các khía cạnh): - Kết quả học tập, rèn luyện của học sinh qua các lần kiểm tra chung của toàn trường, khối lớp. - Kết quả lên lớp, tốt nghiệp của bộ môn ở các lớp mà giáo viên đã dạy các năm trước. - Kết quả kiểm tra trực tiếp của Ban kiểm tra. - Sự tiến bộ của học sinh kể từ khi giáo viên nhận lớp. * Tham gia các công tác khác: - Công tác chủ nhiệm (đối với giáo viên làm công tác chủ nhiệm). - Tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh, nhất là trong lớp mình dạy; - Thực hiện các công tác khác được phân công. 1.5. Phương pháp kiểm tra: 1.5.1. Phương pháp quan sát: Đây là phương pháp quan trọng nhất của kiểm tra. Quan sát nhằm mục đích chuyên môn là sự tập trung tâm trí của mình theo những nguyên tắc vào những vấn đề nhất định. Trong kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên là dự giờ, quan sát các hoạt động của thầy và trò. 1.5.2. Phương pháp phân tích tài liệu sản phẩm: Phương pháp này cho phép kiểm tra viên hình dung lại quá trình hoạt động của đối tượng kiểm tra. Người kiểm tra có thể phân tích nhiều loại tài liệu khác nhau trong quá trình kiểm tra. Trong kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên là các loại sổ sách, biên bản, giáo án, sổ chủ nhiệm, sổ điểm, đồ dùng dạy học tự làm, vở ghi và bài kiểm tra của học sinh… 1.5.3. Phương pháp tác động trực tiếp tới đối tượng: Trao đổi, phỏng vấn, kiểm tra qua học sinh, giáo viên đồng nghiệp, cán bộ phụ trách các phòng chức năng… 1.5.4. Phương pháp tham dự các hoạt động giáo dục cụ thể:
  8. Tham gia các sinh hoạt, hoạt động trong và ngoài lớp, ngoài trường, sinh hoạt đoàn thể… Chỉ có sử dụng nhiều phương pháp kiểm tra khác nhau và biết phối hợp tối ưu giữa chúng mới cho phép rút ra được những kết luận có căn cứ, chuẩn xác để đánh giá đúng đắn, khách quan việc thực hiện nhiệm vụ của giáo viên. 1.6. Hình thức kiểm tra: Kiểm tra toàn diện giáo viên với 1/3 giáo viên giảng dạy của nhà trường, có thể áp dụng nhiều hình thức: - Theo thời gian: + Kiểm tra đột xuất. + Kiểm tra định kỳ. - Theo nội dung: + Kiểm tra toàn diện. + Kiểm tra chuyên đề. - Theo phương pháp: + Kiểm tra trực tiếp. + Kiểm tra gián tiếp. - Theo thời điểm thực hiện việc kiểm tra: + Kiểm tra lường trước. + Kiểm tra đồng thời. + Kiểm tra phản hồi. 1.7. Quy trình kiểm tra: * Bước 1: Xây dựng kế hoạch kiểm tra: Kế hoạch kiểm tra phải được xây dựng ngay từ đầu năm học, đồng bộ và phù hợp với kế hoạch chung của nhà trường, được công khai trước tập thể. Kế hoạch cần chỉ rõ: - Mục đích, yêu cầu. - Nội dung. - Đối tượng kiểm tra. - Phương pháp tiến hành. - Hình thức. - Thời gian. - Lực lượng kiểm tra. - Các loại kế hoạch kiểm tra bao gồm: Kế hoạch toàn năm, kế hoạch tháng, kế hoạch tuần... * Bước 2: Tổ chức kiểm tra: - Xây dựng lực lượng. - Phân cấp kiểm tra.
  9. - Xây dựng chuẩn kiểm tra: + Chuẩn là công cụ để nhà quản lý xem xét, đánh giá đối tượng, vừa có ý nghĩa hướng dẫn đối tượng hành động. + Chuẩn gồm hai yếu tố: định tính và định lượng. + Xây dựng chuẩn phải dựa trên cơ sở những qui định và hướng dẫn của cấp trên và đặc điểm tình hình cụ thể của địa phương, đơn vị. + Qui trình xây dựng chuẩn là: Dự thảo chuẩn – Thảo luận – Điều chỉnh – Quyết định – Ban hành chuẩn và áp dụng trong thực tế. + Vận dụng chuẩn một cách hợp lý. - Xây dựng chế độ kiểm tra: + Qui định thể thức làm việc: hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, trong năm học… + Thời gian dành cho việc kiểm tra. + Chế độ chính sách ... * Bước 3: Chỉ đạo công tác kiểm tra: Ra các quyết định về kiểm tra (Ban kiểm tra, các văn bản…). Hướng dẫn, động viên, giúp đỡ lực lượng kiểm tra thực hiện nhiệm vụ: kiểm tra, đánh giá, tư vấn, thúc đẩy. Sử dụng và phối hợp các phương pháp, hình thức kiểm tra phù hợp với các nội dung cụ thể. Điều chỉnh sai lệch trong quá trình kiểm tra. Huấn luyện cán bộ và nhân viên thực hiện kiểm tra và tự kiểm tra. * Bước 4: Tổng kết và điều chỉnh: Tổ chức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm công tác kiểm tra. Điều chỉnh đối tượng kiểm tra, lực lượng kiểm tra và công tác quản lý. 2. CƠ SỞ PHÁP LÝ: Kiểm tra nội bộ trường học nói chung và kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên dựa trên các cơ sở pháp lý chính sau: - Luật giáo dục; - Mục tiêu kế hoạch đào tạo bậc trung học; - Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường trung học phổ thông có nhiều cấp học; - Thông tư 43/2006/TT-BGD&ĐT ngày 20/10/2006 hướng dẫn thanh tra toàn diện nhà trường, cơ sở giáo dục khác và thanh tra hoạt động sư phạm của nhà giáo; - Công văn 10227/THPT ngày 11/9/2001 hướng dẫn đánh giá và xếp loại giờ dạy ở bậc trung học;
  10. - Qui chế đánh giá, xếp loại giáo viên mầm non và giáo viên phổ thông công lập ban hành theo quyết định số 06/2006/QĐ-BNV ngày 21 tháng 3 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ; - Công văn số 3040/BGD&ĐT-TCCB ngày 17 tháng 4 năm 2006 hướng dẫn một số điều trong “Qui chế đánh giá, xếp loại giáo viên mầm non và giáo viên phổ thông công lập”; - Chỉ thị năm học của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo. - Kế hoạch năm học 2010 – 2011 của nhà trường. II. NỘI DUNG, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN CÔNG TÁC KIỂM TRA TẠI TRƯỜNG THPT NGUYỄN HỮU CẢNH NĂM HỌC 2010 – 2011: 1. Đặc điểm tình hình nhà trường: 1.1. Khái quát chung: Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh được thành lập năm 1998 theo quyết định số 3111/1998/QĐ-CT-UBT ngày 20/8/1998 của UBND Tỉnh Đồng Nai nhằm kỷ niệm 300 năm khai phá vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai. Trong những năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Sở Giáo Dục & Đào Tạo, Thành ủy, Ủy ban nhân dân và các ban ngành của thành phố Biên Hòa cộng với sự nỗ lực của tập thể sư phạm nhà trường, trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh đã có những bước tiến mạnh mẽ về nề nếp giảng dạy, học tập và hoạt động phong trào sôi nổi. Trường duy trì được sự ổn định về chất lượng giáo dục, hàng năm có tỉ lệ học sinh đậu tốt nghiệp và trúng tuyển vào các trường đại học thuộc diện cao. Tập thể giáo viên nhiệt tình năng động, tích cực đổi mới, cải tiến phương pháp giảng dạy, ứng dụng có hiệu quả CNTT vào quản lý và giảng dạy. Định hướng từ 2010 đến 2015, trường sẽ xây dựng, mở rộng đạt chuẩn quốc gia với quy mô 36 lớp và 1600 học sinh nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân trong thành phố Biên Hoà và các khu vực lân cận. 1.2. Tình hình đội ngũ: - Cán bộ quản lý gồm Hiệu trưởng và 02 Phó Hiệu trưởng (2 nam, một nữ). - Trường có 8 tổ chuyên môn: Toán – Tin, Lý – KTCN, Hóa, Sinh – KTNN, Ngữ Văn, Tổ Khoa học xã hội, Tổ Ngoại ngữ, Tổ Thể dục – Giáo dục quốc phòng. - Tổng số giáo viên: 65. Trong đó, có 03 giáo viên trên chuẩn, số còn lại đều đạt chuẩn. - Các tổ chuyên môn hàng năm đều đạt tổ Lao động tiên tiến. - Chi bộ trường được xếp loại trong sạch vững mạnh tiêu biểu liên tục trong khối giáo dục của tỉnh. - Đoàn thanh niên được Trung ương Đoàn tặng bằng khen và cờ thi đua xuất sắc dẫn đầu khối Trung học phổ thông. 1.3. Cơ sở vật chất:
  11. - Trường có 19 phòng học kiên cố, đạt chuẩn, 1 khu hiệu bộ với các phòng ban được trang bị đầy đủ máy vi tính, máy in, máy photocopy phục vụ tốt công tác quản lý và hỗ trợ giảng dạy. - Hai phòng máy vi tính với 50 máy phục vụ nhu cầu học tập của học sinh. Các máy vi tính đều được nối mạng internet, mạng không dây. - Trường xây dựng 03 phòng học trực tuyến nhằm giúp việc giảng dạy và đặc biệt là ôn tập, phụ đạo đạt được hiệu quả cao. - Hội trường của nhà trường có sức chứa 600 người phục vụ tốt cho việc hội họp và tổ chức các hoạt động giáo dục như đố em, học tập chính trị, kỹ năng hoạt động đoàn thể… 1.4. Chất lượng giảng dạy: Chất lượng giảng dạy của nhà trường trong những năm qua đã được Sở giáo dục và đào tạo Đồng Nai đánh giá cao. Chất lượng có tính ổn định và nằm trong tốp 10 trường của tỉnh Đồng Nai. Hàng năm, tỷ lệ học sinh Khá và Giỏi đạt trên 50%, tỷ lệ tốt nghiệp được duy trì trên 92% hàng năm. Trường cũng đạt được nhiều thành tích trong thi học sinh giỏi cấp tỉnh. 1.5. Những thuận lợi và khó khăn trong công tác kiểm tra: * Thuận lợi: - Tập thể giáo viên đa phần là trẻ, nhiệt tình. - Bầu không khí sư phạm vui vẻ, thoải mái, dễ tương tác trong công việc. - Giữa lãnh đạo và giáo viên, nhân viên có không khí thân mật, hoà đồng. - Các kế hoạch, công việc của nhà trường được giáo viên chấp hành thực hiện nghiêm túc. - Trường duy trì hoạt động kiểm tra chung các môn Toán, Lý, Hoá, Anh văn với hình thức chung đề, chung giờ, kiểm tra theo khối lớp chứ không kiểm tra tại lớp, mỗi phòng chỉ 24 em xếp theo tên ABC…Đây là hình thức vừa nhằm đánh giá học sinh khách quan, vừa hạn chế được tiêu cực trong dạy thêm – học thêm. - 100% giáo viên đạt chuẩn, đảm bảo kiến thức chuyên môn. - Được sự hỗ trợ của các ban ngành đoàn thể trong xây dựng tập thể nhà trường. * Khó khăn: - Lực lượng kiểm tra còn mỏng so với yêu cầu thực tiễn. - Số giáo viên trong Ban kiểm tra còn ít nên nhiều lúc không có giáo viên cùng chuyên ngành dự giờ đánh giá lẫn nhau (môn GDCD, KTCN, KTNN, Giáo dục quốc phòng). - Còn nhiều tổ ghép nên việc dự giờ đánh giá có khó khăn. - Ban kiểm tra nội bộ nhà trường chưa được đào tạo nghiệp vụ kiểm tra, thanh tra nên làm việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, truyền đạt cách làm kiểu cầm tay chỉ việc.
  12. - Cơ sở vật chất của nhà trường chưa đầy đủ, số phòng còn hạn chế nên việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới phương pháp giảng dạy còn chưa đồng bộ, thiếu không gian để triển khai. 2. Các biện pháp, giải pháp công tác kiểm tra tại trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh năm học 2010 – 2011: 2.1. Xây dựng kế hoạch kiểm tra: Ngay từ đầu năm học, Hiệu trưởng đã xây dựng kế hoạch kiểm tra. Trong đó, nêu rõ mục tiêu, các yêu cầu, đối tượng được kiểm tra và thời gian tiến hành kiểm tra. Thông qua kế hoạch kiểm tra, các tổ chuyên môn và giáo viên được kiểm tra xác định kế hoạch, tâm thế cho mình. Tuy nhiên, kế hoạch đã nêu rõ đối tượng kiểm tra, kiểm tra vào thời gian nào nên cũng có nhiều hạn chế. Chẳng hạn, giáo viên có tên trong kế hoạch kiểm tra sẽ cố gắng, nỗ lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, trong đó có hoạt động sư phạm còn những thành viên khác sẽ có tâm thế lơ là, thiếu sự đầu tư cố gắng trong công tác. Thời điểm kiểm tra cũng đã xác định nên thường khi qua thời điểm kiểm tra thì giáo viên lại buông xuôi, xem như đã “trả xong nợ”, đã hoàn thành nhiệm vụ và được “nghỉ xả hơi”. Do đó, tác dụng của việc kiểm tra có phần giảm đi. Những giáo viên không có tên trong danh sách kiểm tra sẽ dễ dẫn đến hiện tượng thiếu cố gắng hoặc lơ là, chểnh mảng. Kế hoạch kiểm tra nội bộ được Hiệu trưởng thông qua trong phiên họp Hội đồng sư phạm đầu năm, sau đó được niêm yết ở phòng giáo viên để theo dõi thực hiện. Trong quá trình thực hiện kế hoạch kiểm tra, có lúc bị thay đổi do nguyên nhân khách quan nhưng Hiệu trưởng chưa có sự bổ sung, điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp thực tiễn. * Các bước cải tiến đã thực hiện trong năm học 2010 - 2011: Kế hoạch kiểm tra đầu năm nên có độ khái quát cao, tránh cụ thể quá, không nêu rõ sẽ kiểm tra cá nhân nào; chỉ nêu sẽ kiểm tra số lượng giáo viên ở các tổ. Cần có kế hoạch kiểm tra từng học kỳ để cụ thể hóa kế hoạch của cả năm. Sở dĩ như vậy vì số lớp dạy, số tiết dạy, tên lớp dạy từng học kỳ sẽ có sự đổi thay do số tiết dạy của một số môn không đều ở hai học kỳ, số giáo viên nghỉ thai sản thường đông (mỗi năm 3 đến 4 giáo viên), hoặc do cơ cấu lại phân công giảng dạy theo hướng tiết kiệm ngân sách và có lợi cho học sinh…Vì những lẽ đó nên cần có kế hoạch kiểm tra của từng học kỳ để sát hợp với thực tiễn hơn. Trong kế hoạch kiểm tra từng học kỳ, có nêu tên những giáo viên được kiểm tra và khoảng thời gian sẽ kiểm tra, không nêu rõ ngày sẽ kiểm tra (vì sẽ nêu trong kế hoạch tháng). Thời điểm kiểm tra tránh rơi vào tuần cuối học kỳ vì sẽ có nhiều bận rộn từ phía người được kiểm tra và người đi kiểm tra, công việc chuẩn bị cho công tác kiểm tra cũng sẽ có nhiều khó khăn. Hơn nữa, tuần cuối học kỳ thường là những tiết ôn tập, bài tập nên cũng khó đánh giá năng lực giảng dạy, truyền thụ kiến thức mới cho học sinh của giáo viên. Tốt nhất, chỉ nên kiểm tra chậm nhất trước hai tuần khi kết thúc chương trình. Khi có biến động ảnh hưởng đến kế hoạch kiểm tra, cần có kế hoạch điều chỉnh, bổ sung để mục tiêu kiểm tra không bị ảnh hưởng.
  13. 2.2. Tổ chức kiểm tra: 2.2.1. Xây dựng lực lượng kiểm tra: - Đầu năm, Hiệu trưởng ra quyết định thành lập Ban kiểm tra chuyên môn do Hiệu trưởng làm Trưởng ban, Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn làm Phó trưởng ban, các Tổ trưởng chuyên môn làm thành viên. - Do số lượng Ban kiểm tra chuyên môn quá ít đối với mỗi bộ môn nên việc thực hiện dự giờ trên lớp đối với mỗi giáo viên có nhiều khó khăn. Thường việc dự giờ do Tổ trưởng chuyên môn là thành viên Ban kiểm tra chuyên môn đảm nhiệm. Trong quá trình dự giờ, Tổ trưởng thường gọi thêm một số thành viên khác trong tổ cùng đi dự giờ chung. Vô tình, tiết dự giờ kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên lại biến thành tiết dự giờ học hỏi lẫn nhau. Tuy có điểm tích cực nhưng đôi khi cũng mất tính trang nghiêm của công tác kiểm tra. Một số tiết sau khi dự giờ xong, những người đi dự giờ đóng góp ý kiến, tranh luận với nhau nhiều giờ khó kết thúc. Một số tổ ghép như Toán – Tin, Lý – KTCN, Sinh – KTNN, Khoa học xã hội thì nhiều lúc, Tổ trưởng không cùng chuyên môn với người được dự giờ đánh giá, vì vậy, việc dự giờ đánh giá gặp nhiều khó khăn. Trong công tác kiểm tra, các bước kiểm tra, đánh giá, tư vấn, thúc đẩy không được thực hiện đúng bài bản. Thường thì chỉ có hai bước kiểm tra, đánh giá là thực hiện đầy đủ. Các bước tư vấn, thúc đẩy đa phần bị lãng quên. Ban kiểm tra nhiều lúc quá chú trọng vào việc kiểm tra – đánh giá mà chưa chú trọng đến ý nghĩa sâu xa của công tác kiểm tra là nhằm uốn nắn những vấn đề chưa tốt, đưa ra những giải pháp, những khuyến nghị nhằm giúp cá nhân và tổ chức phát triển. Nguyên nhân là do người đi kiểm tra chưa có nghiệp vụ về công tác kiểm tra, thanh tra. Thậm chí nhiều lúc còn tỏ ra non kém hơn người được kiểm tra. Cũng có khi, người được kiểm tra lại là bậc trưởng bối, hoặc là thầy dạy ngày trước của người đi kiểm tra nên đôi lúc cũng có khó khăn cho trong nhận xét đánh giá. Danh sách Ban kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên năm học 2010 – 2011: Ghi STT Họ và tên Chức vụ Nhiệm vụ chú 1 Phan Quang Vinh Hiệu trưởng Trưởng Ban 2 Phạm Ngọc Lư Phó Hiệu trưởng P.Trưởng ban 3 Nguyễn Thị Minh Huệ Phó Hiệu trưởng P.Trưởng ban 4 Lê Quang Thân Tổ trưởng Tổ Toán - Tin Thành viên 5 Nguyễn Sa Duy Tổ phó Tổ Toán - Tin Thành viên 6 Nguyễn Trường Sơn Tổ trưởng Tổ Lý - KTCN Thành viên 7 Nguyễn Thị Kim Nga Tổ trưởng tổ Hoá Thành viên 8 Trần Thị Nụ Tổ trưởng Tổ Sinh- KTNN Thành viên 9 Lê Thị Thanh Hồng Tổ trưởng Tổ Ngữ Văn Thành viên 10 Nguyễn Thị Ngọc Hân Tổ phó Tổ Ngữ Văn Thành viên
  14. 11 Lý Thị Thanh Tâm Tổ trưởng Tổ Anh Văn Thành viên 12 Hoàng Văn Tâm Tổ trưởng Tổ KHXH Thành viên 13 Lê An Khương Tổ trưởng Tổ TD - GDQP Thành viên * Các bước cải tiến đã thực hiện trong năm học 2010 - 2011: - Khi xây dựng lực lượng kiểm tra, Hiệu trưởng bổ sung thêm vào Ban kiểm tra một số giáo viên có năng lực, có uy tín để mỗi tổ chuyên môn có ít nhất 02 giáo viên cùng trong Ban kiểm tra chuyên môn nhằm việc dự giờ giáo viên trên lớp được thuận lợi hơn. Bởi Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng chỉ nắm chắc chuyên môn ngành học được đào tạo nên thường mọi việc ủy quyền hết cho Tổ trưởng. Nếu ở từng môn học, Ban kiểm tra ít nhất có 02 người thì chí ít khắc phục được nhận định có phần chủ quan của người dự giờ. Nhiều lúc nếu không khách quan dễ dẫn đến đánh giá sai lệch đối với giáo viên và kết quả đó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả phấn đấu của giáo viên trong năm. - Ở một số tổ, lãnh đạo đã mạnh dạn cử những giáo viên có năng lực vào ban kiểm tra như tổ Toán – Tin, tổ Khoa học xã hội để việc đánh giá giáo viên các môn Tin học, Công dân được chuẩn hơn, tránh việc người đi kiểm tra nhận xét chung chung, xếp loại không sát thực tế giảng dạy. 2.2.2. Đào tạo lực lượng kiểm tra: Để lực lượng kiểm tra thực thi trách nhiệm có hiệu quả, hàng năm, Hiệu trưởng nên cử các Tổ trưởng chuyên môn, các thành viên khác trong Ban kiểm tra chuyên môn học nghiệp vụ thanh tra tại Trường cán bộ quản lý giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh. Điều này sẽ nâng cao hiệu quả công tác rất lớn trong công tác kiểm tra nội bộ của trường. Đồng thời, lực lượng được cử đi đào tạo sẽ cung cấp lực lượng thanh tra kiêm nhiệm có chất lượng cao cho Sở Giáo dục và Đào tạo. * Các bước cải tiến đã thực hiện trong năm học 2010 - 2011: Để việc kiểm tra có hiệu quả hơn, Hiệu trưởng cần xây dựng cơ chế kiểm tra rõ ràng cụ thể: - Thời gian: cần linh hoạt, có thể thay đổi so với kế hoạch kiểm tra ban đầu đề ra. - Chế độ chính sách: Do chưa có chế độ cho công tác kiểm tra nội bộ nên Hiệu trưởng nên đưa thêm mục này vào Quy chế chi tiêu nội bộ. Khi lực lượng giáo viên được huy động vào Ban kiểm tra, cần được tính quy đổi thành giờ làm thêm để tạo động lực cho công tác. Đồng thời qua đó, gắn ý thức trách nhiệm cho các cá nhân trong quá trình tham gia kiểm tra. 2.2.3. Xây dựng chuẩn kiểm tra: Từ trước đến nay, nhà trường chưa xây dựng chuẩn kiểm tra riêng cho đơn vị. Ban kiểm tra nhà trường chỉ sử dụng một số văn bản pháp lý làm cơ sở để tiến hành đánh giá hoạt động sư phạm của giáo viên. Đó là các văn bản như: - Thông tư số 43/2006/TT-BGDĐT ngày 20/10/2006 hướng dẫn thanh tra tòan diện nhà trường, cơ sở giáo dục khác và thanh tra hoạt động sư phạm của nhà giáo.
  15. - Qui chế đánh giá, xếp loại giáo viên mầm non và giáo viên phổ thông công lập ban hành theo quyết định số 06/2006/QĐ-BNV ngày 21 tháng 3 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ. - Công văn số 3040/BGD&ĐT-TCCB ngày 17 tháng 4 năm 2006 hướng dẫn một số điều trong “Qui chế đánh giá, xếp loại giáo viên mầm non và giáo viên phổ thông công lập”. - Công văn 10227/THPT ngày 11/9/2001 Hướng dẫn đánh giá và xếp loại giờ dạy ở bậc trung học. Tuy nhiên, qua thực tiễn vận dụng những văn bản này cho thấy còn có những khó khăn khi thực hiện đánh giá hoạt động sư phạm của giáo viên. - Công văn 10227 đã nêu tiêu chuẩn đánh giá, xếp loại giờ dạy ở bậc trung học . Trước đây, Ban kiểm tra dự giờ dự 02 tiết dạy của người được kiểm tra. Sau đó nhận xét, đánh giá chất lượng hoạt động sư phạm của giáo viên. Trong quá trình kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên, hầu như ban kiểm tra chỉ vận dụng thang bảng điểm để đánh giá giờ dạy là chính. Vì vậy mà giờ dạy gần như quyết định chính trong việc xếp loại giáo viên. Các mặt hoạt động khác hầu như chỉ nhận xét rất sơ sài. Từ đó việc đánh giá giáo viên sẽ trở thành phiến diện. Nếu Ban kiểm tra xếp loại chưa tốt thì coi như không có cơ hội để cải thiện mức độ xếp loại. Còn nếu được xếp loại tốt thì lại dễ bằng lòng với thực tại, thiếu sự vươn lên, thậm chí là còn thụt lùi sau khi kiểm tra. * Các bước cải tiến đã thực hiện trong năm học 2010 - 2011: Hiệu trưởng cần chỉ đạo kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường. Việc đánh giá giờ dạy chỉ là một mặt của hoạt động kiểm tra. Các mặt hoạt động khác của hoạt động sư phạm cần có chuẩn cụ thể, khoa học để đánh giá. Vì vậy, dựa trên nền tảng các văn bản mà Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Luật Thanh tra, Luật giáo dục, Điều lệ trường phổ thông…để xây dựng một số tiêu chuẩn để kiểm tra giáo viên cho phù hợp với thực tế của nhà trường và của địa phương. Chuẩn kiểm tra của nhà trường có thể thay đổi hàng năm cho phù hợp với những đổi thay của nhà trường. 2.2.4. Chỉ đạo kiểm tra: Sau khi lập kế hoạch, Hiệu trưởng ra quyết định thành lập Ban Kiểm tra, công bố kế hoạch kiểm tra. Hiệu trưởng hướng dẫn, động viên lực lượng kiểm tra kiểm tra để lực lượng kiểm tra thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Thường thì công tác hướng dẫn và động viên chưa được quan tâm đúng mức, Hiệu trưởng chỉ động viên chung chung như cố gắng khách quan, không thiên vị, không áp đặt, không định kiến… Trong công tác động viên lực lượng kiểm tra, chưa có phần khích lệ về mặt chế độ hay quyền lợi về vật chất, tinh thần cho lực lượng kiểm tra. 2.2.5. Thực hiện nhiệm vụ Kiểm tra, Đánh giá, Tư vấn, Thúc đẩy: Như phần trên đã nêu: Kiểm tra là xem xét việc thực hiện nhiệm vụ của đối tượng kiểm tra so với các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật và các hướng dẫn của các cấp quản lý.
  16. Yêu cầu của kiểm tra là phải tỉ mỉ, rõ ràng, chỉ rõ những điều làm được, chưa làm được của đối tượng kiểm tra. Trong quá trình kiểm tra, đánh giá, Ban kiểm tra phải thực hiện tư vấn thúc đẩy để công tác kiểm tra đi đúng mục tiêu xây dựng tập thể ngày càng phát triển. a. Kiểm tra phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của người giáo viên: Thực tế, Ban kiểm tra chưa thực thi đúng việc kiểm tra. Hiện nay, các nội dung này chủ yếu Ban kiểm tra chuyên môn mặc định cho giáo viên được kiểm tra được xếp vào mức thực hiện tốt. * Các bước cải tiến đã thực hiện trong năm học 2010 - 2011: Ban Kiểm tra cần dựa vào một số căn cứ hoặc thiết lập một số căn cứ để đánh giá phần này cho chuẩn xác hơn: - Đề nghị giáo viên được kiểm tra viết một bản tự nhận xét đánh giá về các tiêu chí nêu trên. - Tham khảo bản nhận xét đánh giá của địa phương về vấn đề thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” để có cơ sở nhận định đúng đắn hơn về phẩm chất cán bộ, giáo viên. - Thu thập thông tin từ tập thể giáo viên, đồng nghiệp trong tổ chuyên môn. - Thu thập thông tin từ phụ huynh học sinh, từ tập thể các lớp học sinh mà giáo viên đó tham gia giảng dạy. b. Kiểm tra kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao: Về trình độ nghiệp vụ, tay nghề: - Trình độ nắm bắt kiến thức, kỹ năng, thái độ cần xây dựng cho học sinh thể hiện qua việc giảng dạy. - Trình độ vận dụng phương pháp giảng dạy và giáo dục thông qua kiểm tra giờ dạy trên lớp của giáo viên. Trong quá trình kiểm tra, hầu như Ban kiểm tra chỉ dựa vào việc dự mỗi giáo viên 02 tiết thực dạy để đánh giá trình độ, nghiệp vụ tay nghề của giáo viên. Vì vậy, nếu chẳng may, giáo viên vì lý do nào đó mà các tiết dạy để Ban Kiểm tra dự giờ chưa chuẩn bị tốt thì sẽ bị đánh giá tay nghề chưa tốt. Như vậy việc đánh giá giáo viên cũng có phần phiến diện, chưa có đầy đủ cơ sở khoa học, tính lịch sử của vấn đề và tính hoàn cảnh của vấn đề. * Các bước cải tiến đã thực hiện trong năm học 2010 - 2011: Ngoài việc dự 02 tiết dạy, Ban Kiểm tra cần tham khảo, kiểm tra thêm một số vấn đề khác để kiểm tra trình độ nghiệp vụ, tay nghề của giáo viên như các tiết dạy trước đó học sinh nắm bài như thế nào, đồng nghiệp trong tổ có nhận xét gì về phương pháp và kiến thức của giáo viên; kiến thức thể hiện trong giáo án, trong các văn bản khác, trong sinh hoạt chuyên môn, hoạt động tập thể … c. Thực hiện quy chế chuyên môn: - Thực hiện chương trình kế hoạch giảng dạy, giáo dục: Ban kiểm tra dựa vào phân phối chương trình khung của Bộ Giáo dục – Đào tạo ban hành và Sở Giáo dục –
  17. Đào tạo đã cụ thể hoá theo thực tiễn của địa phương để làm căn cứ đánh giá. Hiện nay, mỗi trường có ngày bắt đầu năm học mới là khác nhau trong cùng một địa bàn và mỗi trường cũng có những điều kiện khách quan, chủ quan riêng nên khung chương trình có thể điều chỉnh cho phù hợp với từng đơn vị, từng tổ chuyên môn. Giáo viên căn cứ vào khung chương trình đã được hiệu trưởng công bố làm tiêu chuẩn để thực hiện. Cụ thể là giữa lịch báo giảng, sổ ghi đầu bài, giáo án của giáo viên phải khớp nhau. - Giáo viên không lập kế hoạch công tác, giảng dạy và kế hoạch cá nhân nên khó đánh giá cụ thể từng giáo viên. * Các bước cải tiến đã thực hiện trong năm học 2010 - 2011: - Phân phối chương trình là mốc pháp lý để giáo viên thực hiện kế hoạch, chương trình giảng dạy. Nhưng thực tiễn giảng dạy lại là một công trình phong phú, sinh động, luôn luôn biến động theo năm tháng, ngày giờ và đối tượng học sinh, hoàn cảnh không gian của từng tuần, từng tháng. Vì vậy, nhà trường cần để giáo viên lập Kế hoạch giảng dạy-giáo dục cá nhân phù hợp với kế hoạch chung, qua đó đề xuất được những sáng kiến, kinh nghiệm, phương pháp của cá nhân và việc vận dụng vào thực tiễn như thế nào nhằm đạt mục tiêu giáo dục, giảng dạy mà nhà trường đã giao theo phân công chuyên môn trong năm học. d. Thực hiện các yêu cầu về soạn bài theo qui định: Ban kiểm tra chuyên môn chủ yếu dựa vào số giáo án mà giáo viên đã soạn hoặc đã dạy để xác định việc giáo viên thực hiện đúng hay chưa đúng yêu cầu về soạn bài. Việc kiểm tra này còn mang nặng tính hình thức, chủ yếu là quan tâm nhiều đến số lượng và hình thức thể hiện của giáo án, chưa đi sâu phân tích về nội dung kiến thức, việc vận dụng, đổi mới phương pháp giảng dạy, phương pháp giáo dục của giáo viên nên chưa nêu được những vấn đề có tính mới mẽ, đột phá từ giáo viên. * Các bước cải tiến đã thực hiện trong năm học 2010 - 2011: Ban Kiểm tra đã quan tâm đến chất lượng soạn giảng, không căn cứ vào số lượng, cách thức trình bày để đánh giá việc soạn giảng của giáo viên. Đặc biệt là cần nhắm vào những đối tượng học sinh khác nhau, các lớp khác nhau để có giáo án phù hợp đối tượng người học, tránh chung một giáo án cho mọi loại đối tượng người học sẽ không đạt được kết quả tối ưu trong giảng dạy. e. Kiểm tra và chấm bài, quan tâm giúp đỡ các đối tượng học sinh: Ban Kiểm tra chuyên môn mới chỉ dừng ở việc kiểm tra sổ điểm của giáo viên để đánh giá việc chấm bài của giáo viên mà chưa đi sâu vào phân tích các đề kiểm tra, đáp án, phương án làm bài giáo viên cung cấp cho học sinh trong quá trình chuẩn bị làm bài và sau khi làm bài để học sinh hiểu được, nắm bắt được cách làm bài, hình thành kiến thức cơ bản cho bản thân nhằm đạt mục tiêu học tập tốt. Ban kiểm tra cũng chưa chú ý đến vấn đề ra đề kiểm tra như thế nào để phân loại học sinh, tạo được tâm lý thích học cho mọi loại đối tượng học sinh nhằm phát huy tính tự học, tính tích cực cho học sinh, tránh nhàm chán cho các em khá giỏi và tránh chán nản cho các em yếu kém. * Các bước cải tiến đã thực hiện trong năm học 2010 - 2011:
  18. Lãnh đạo xây dựng quy chuẩn trong việc ra đề kiểm tra để giáo viên thực hiện, có sự phân loại và giúp đỡ cho từng loại đối tượng học sinh . f. Kiểm tra việc thí nghiệm, sử dụng đồ dùng dạy học, thực hiện các tiết thực hành theo qui định: Ban Kiểm tra chuyên môn mới dừng ở việc kiểm tra sổ ghi theo dõi các tiết thực hành thí nghiệm do nhân viên trực phòng thí nghiệm ghi chép. Việc ghi chép này mới chỉ thể hiện việc giáo viên có cho học sinh xuống phòng thực hành để tiến hành các tiết có thí nghiệm chứ chưa thể hiện rõ diễn biến, chất lượng ra sao. Ban kiểm tra chưa dự trực tiếp các tiết có thực hành thí nghiệm để đánh giá việc giảng dạy của giáo viên. Việc sử dụng đồ dùng dạy học cũng rơi vào tình trạng tương tự. Nhiều giáo viên ít khi sử dụng đồ dùng dạy học, có khi giáo viên mượn đồ dùng dạy học nhưng lại không ký nhận vào sổ nên việc theo dõi cũng chưa được chặt chẽ. Khi có Ban kiểm tra dự giờ thì giáo viên mới sử dụng đồ dùng dạy học. Vì vậy, nếu chỉ qua tiết dự giờ mà đánh giá giáo viên có sử dụng và sử dụng tốt đồ dùng dạy học sẽ thiếu khách quan. * Các bước cải tiến đã thực hiện trong năm học 2010 - 2011: Hiệu trưởng quy định rõ trách nhiệm của giáo viên trong việc tiến hành các tiết thí nghiệm và việc sử dụng đồ dùng dạy học. Tần suất sử dụng đồ dùng dạy học được thể hiện qua thực tế và sổ sách ghi chép của phòng thí nghiệm, thiết bị là minh chứng cụ thể để đánh giá. Việc quy định rõ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Ban kiểm tra chuyên môn hoạt động. Ban Kiểm tra chuyên môn cần tìm hiểu thêm thông tin từ phía học sinh trong việc giáo viên tiến hành thí nghiệm, kết quả thu được, việc học sinh viết báo cáo thu hoạch sau tiết thí nghiệm để củng cố kết luận kiểm tra. g. Kiểm tra về đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về hồ sơ và các qui định về chuyên môn: Đây là công việc định kỳ phải làm nhiều lần trong năm. Các đợt kiểm tra nhìn chung khá nghiêm túc. Giáo viên đều lập hồ sơ sổ sách đầy đủ theo yêu cầu của trường. Trong các đợt kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên, Ban Kiểm tra đều tiến hành kiểm tra sổ sách hồ sơ theo quy định. * Các bước cải tiến đã thực hiện trong năm học 2010 - 2011: Hiệu trưởng cho giáo viên lập thêm một số hồ sơ như sau: Sổ Kế hoạch cá nhân, Sổ Học tập - Bồi dưỡng. h. Kiểm tra thực hiện tự bồi dưỡng và tham gia bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ: Trong năm học, nhà trường có tổ chức các khoá học bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, vi tính cho giáo viên bên cạnh các khoá học do Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức. Đôi khi, Ban kiểm tra chưa kiểm tra được việc tham gia học tập của giáo viên như thế nào, kết quả đạt được ra sao. * Các bước cải tiến đã thực hiện trong năm học 2010 - 2011:
  19. Bản thân tham mưu cho Hiệu trưởng xây dựng quy định về tham gia bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, trong đó quy định Sổ tự bồi dưỡng để qua đó nắm bắt được phần nào quá trình tự học tự nâng cao kiến thức của giáo viên, có chế độ khuyến khích khen thưởng những cá nhân có tinh thần tự học tốt. i. Kiểm tra việc tuân thủ các qui định về dạy thêm, học thêm: Vấn đề dạy thêm – học thêm nói chung vẫn đang là vấn đề nhức nhối của xã hội nói chung và ngành giáo dục nói riêng. Bên cạnh những yếu tố tích cực do dạy thêm – học thêm mang lại thì những yếu tố tiêu cực vẫn đang tồn tại rất nhiều, hàng ngày, hàng giờ đang xói mòn đi hình ảnh người thầy và sự thiêng liêng của ngành giáo. Trong năm học 2010 - 2011, Hiệu trưởng mới chỉ cấp giấy phép dạy thêm cho một số giáo viên đã kiểm tra về việc tuân thủ các quy định của Bộ Giáo dục – Đào tạo và Sở Giáo dục – Đào tạo về vấn đề dạy thêm học thêm. Ban kiểm tra đến kiểm tra cơ sở vật chất : phòng học có đủ ánh sáng, thoáng mát hay không; có gần các nguồn ô nhiễm, có đảm bảo trật tự trị an hay không; số lượng học sinh tham gia học thêm có đúng như số giáo viên báo cáo hay không; đối tượng học thêm có vi phạm điều cấm của ngành hay không… * Các bước cải tiến đã thực hiện trong năm học 2010 - 2011: Hiệu trưởng kết hợp với các ban ngành như Công Đoàn, Đoàn Thanh niên, Ban Thanh tra nhân dân để kiểm tra việc dạy thêm của giáo viên theo đúng quy định của ngành. Trong quá trình kiểm tra, không phải chỉ nghe báo cáo một phía từ giáo viên mà phải kết hợp thăm dò dư luận từ phụ huynh, học sinh, lấy ý kiến của Khu phố để nắm chắc tình hình. Nếu các điều kiện quy định của ngành về dạy thêm – học thêm không đảm bảo thì Hiệu trưởng mạnh dạn rút giấy phép của giáo viên đó để đảm bảo kỷ cương trong giáo dục. k. Về kết quả giảng dạy, giáo dục: Cần chú ý xem xét các khía cạnh sau: - Kết quả học tập, rèn luyện của học sinh qua các lần kiểm tra chung của toàn trường, khối lớp: Trong quá trình kiểm tra, Ban Kiểm tra cũng chỉ mới dừng lại ở việc quan sát kết quả học tập, đánh giá mức độ hiểu bài của học sinh qua các hoạt động tại lớp hoặc có các bài tập do Ban kiểm tra tiến hành sau các tiết dự giờ giáo viên. Ban Kiểm tra chưa tham khảo bảng điểm đánh giá xếp loại kết quả các bài kiểm tra, đặc biệt là các bài kiểm tra chung đối vói các môn Toán, Lý, Hoá, Anh văn. Các bài kiểm tra chung được tổ chức thực hiện vào ngày thứ bảy hàng tuần theo nguyên tắc chung đề, chung khối, chung giờ, chung kết quả, học sinh kiểm tra theo đơn vị khối lớp chứ không kiểm tra tại lớp như thế sẽ khách quan hơn trong đánh giá chất lượng học sinh. Ban Kiểm tra cũng chưa có bước so sánh kết quả các bài kiểm tra theo tiến trình thời gian để đánh giá mức độ tiến bộ của học sinh hay nói cách khác đó chính là kết quả giảng dạy của giáo viên sau khi nhận lớp đã đưa lớp theo chiều hướng tiến bộ hay thụt lùi. * Các bước cải tiến đã thực hiện trong năm học 2010 - 2011:
  20. Ban kiểm tra cần căn cứ vào kết quả kiểm tra chung để đánh kết quả giảng dạy của giáo viên. Kết quả từng bài kiểm tra của phân môn của lớp được tổ Giáo vụ cung cấp cho từng giáo viên của bộ môn lớp đó lưu hồ sơ cá nhân và xuất trình cho Ban kiểm tra đánh giá. Đây là một căn cứ quan trọng để đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên. l. Kết quả lên lớp, tốt nghiệp của bộ môn ở các lớp mà giáo viên đã dạy các năm trước: Đây là một chỉ số quan trọng trong đánh giá giáo viên. Tuy nhiên, từ trước đến nay tại đơn vị chưa thực hiện. Hàng năm, sau khi tổng kết năm học, các kết quả về điểm tổng kết bộ môn có đưa vào để đánh giá xếp loại thi đua mà chưa được nhà trường xem là cứ liệu trong đánh giá chuyên môn của giáo viên. Đặc biệt kết quả điểm tốt nghiệp của bộ môn lại càng chưa được chú ý tới. Hầu như, điểm tốt nghiệp chỉ để đánh giá nhà trường chứ chưa được phân tích để đánh giá giáo viên. * Các bước cải tiến đã thực hiện trong năm học 2010 - 2011: Hồ sơ kết quả lên lớp, tốt nghiệp đối với bộ môn ở lớp mà giáo viên đã dạy phải được lưu hồ sơ cá nhân của giáo viên để Ban kiểm tra có cơ sở đánh giá quá trình công tác của giáo viên. Ban kiểm tra có kiểm tra trực tiếp kết quả thực hiện công tác của giáo viên, cụ thể là trong giảng dạy và trong công tác chủ nhiệm. Kết quả giảng dạy thường được đánh giá qua các test ngắn nhỏ sau khi dự giờ. Còn công tác chủ nhiệm chủ yếu dựa vào thành tích thi đua của lớp. Tuy nhiên, đây là công việc chưa được Ban Kiểm tra thực hiện thường xuyên. Ban kiểm tra cần thực hiện thao tác kiểm tra trực tiếp thường xuyên hơn với nhiều hình thức phong phú như quan sát trên lớp, các test ngắn, việc tham gia hoạt động ngoại khoá đối với bộ môn… - Sự tiến bộ của học sinh kể từ khi giáo viên nhận lớp. m. Tham gia các công tác khác: - Công tác chủ nhiệm (đối với giáo viên làm công tác chủ nhiệm): Ban kiểm tra ít chú trọng đến công tác chủ nhiệm khi tiến hành kiểm tra giáo viên. Hầu như công tác chủ nhiệm chỉ được đề cập đến khi lớp có vấn đề. Trong quá trình kiểm tra, Ban Kiểm tra chỉ mới dựa vào nhận xét của Ban thi đua về lớp để đánh giá công tác chủ nhiệm mà chưa có sự kiểm tra về quá trình chủ nhiệm, xây dựng tập thể, xây dựng các phong trào ở lớp như thế nào. Nhiều giáo viên được đánh giá tốt về công tác chủ nhiệm khi lớp chủ nhiệm được xếp vào tóp dẫn đầu. Ngược lại, công tác chủ nhiệm bị đánh giá yếu kém khi lớp xếp thứ hạng thấp. Như vậy, vô tình không đánh giá được năng lực và công sức mà giáo viên đó đã áp dụng để đưa lớp tiến bộ nếu như chủ nhiệm trúng các lớp chưa tốt. * Các bước cải tiến đã thực hiện trong năm học 2010 - 2011: Công tác chủ nhiệm là một công việc quan trọng mà mỗi giáo viên phải đảm nhiệm nên Ban kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên phải xoáy sâu vào công tác này nhằm đưa công tác chủ nhiệm đúng yêu cầu của nó. Ban Kiểm tra cần kiểm tra kế hoạch chủ nhiệm, kế hoạch giáo dục học sinh chậm tiến, việc phối hợp với gia

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản