intTypePromotion=3

SKKN: Một vài giải pháp quản lý về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS Vĩnh Thành

Chia sẻ: Nhi Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:22

0
160
lượt xem
59
download

SKKN: Một vài giải pháp quản lý về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS Vĩnh Thành

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Vấn đề đổi mới PPDH không phải là mới đối với nhà trường phổ thông. Nó đã được đề cập, phát động dưới nhiều cách thức khác nhau trong các nhà trường. Bài SKKN "Một vài giải pháp quản lý về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS Vĩnh Thành", mời các bạnt tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Một vài giải pháp quản lý về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS Vĩnh Thành

  1. MỘT VÀI GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THCS VĨNH THÀNH
  2. 1. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Quản lý giáo dục 2. Mô tả bản chất của sáng kiến: 3.1. Tình trạng giải pháp đã biết: Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) là một yêu cầu tất yếu trong sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo của nước ta. Đây cũng đang là vấn đề cấp bách không chỉ được toàn ngành giáo dục quan tâm mà cũng là sự quan tâm trong đường lối lãnh đạo công tác giáo dục của Đảng, từng được ghi trong các Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) và Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII), Luật Giáo dục. Vấn đề đổi mới PPDH không phải là mới đối với nhà trường phổ thông. Nó đã được đề cập, phát động dưới nhiều cách thức khác nhau trong các nhà trường từ thập kỷ 70 (thế kỷ XX). Đội ngũ giáo viên (GV) phổ thông của ta ít nhiều cũng đã được các nhà trường sư phạm trang bị vốn liếng về các PPDH tích cực. Vậy thì tại sao vấn đề đó bây giờ chuyển động vẫn rất chậm chạp, vẫn được đánh giá là yếu kém. Có rất nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan. Song nguyên nhân quan trọng nhất là: công tác quản lý, từ cấp quản lý hệ thống tới quản lý ở các cơ sở trường học còn nhiều bất cập. Phần đông các chủ thể quản lý (nhất là hiệu trưởng nhà trường) chưa thực sự vào cuộc, thậm chí chưa được quan tâm trong công tác chỉ đạo, quản lý. Bởi vậy, muốn quá trình đổi mới PPDH ở nhà trường phổ thông có hiệu quả, cần đổi mới công tác quản lý, nhằm giải quyết những bất cập, những trở ngại cho quá trình này. 3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:  Mục đích của giải pháp:
  3. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng về chất lượng đổi mới PPDH ở trường trung học, xây dựng giải pháp khả thi nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng đổi mới PPDH ở đơn vị, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.  Những điểm khác biệt, tính mới của giải pháp so với giải pháp đã, đang được áp dụng: Qua đề tài nghiên cứu, bản thân và các thành viên trong lãnh đạo trường, trong các đoàn thể, trong từng cán bộ, GV nhà trường đã tích lũy cho mình một số kinh nghiệm thực tế trên cơ sở vận dụng lí luận vào thực tiễn đơn vị, định hướng toàn diện về các giải pháp quản lý, chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học cần phải tiến hành đồng bộ, nhịp nhàng và hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục bậc THCS.  Bản chất của giải pháp: 1. Cơ sở lý luận: Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới giáo dục nói chung và vấn đề đổi mới PPDH trong trường trung học nói riêng. Vấn đề này đã được đề cập nhiều lần trong các văn kiện Đại hội Đảng, trong Luật Giáo dục. Đặc biệt, văn bản số 242-TB/TW ngày 15/4/2009 thông báo Kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 chỉ rõ “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều. Phát huy phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo, hợp tác; giảm thời gian giảng lý thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm
  4. hiểu cho học sinh, giáo viên; gắn bó chặt chẽ giữa học lý thuyết và thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, sản xuất và đời sống”. Trong lý luận cũng như thực tiễn, hoạt động đổi mới PPDH luôn đặt trong mối quan hệ biện chứng với đổi mới mục tiêu, nội dung, hình thức, điều kiện dạy học và kiểm tra đánh giá. Việc đổi mới PPDH trong các trường trung học không có nghĩa là loại bỏ các PPDH truyền thống, mà là sự vận dụng và cải tiến các PPDH truyền thống một cách hiệu quả. Kết hợp sự đa dạng của các PPDH trong một giờ lên lớp sao cho phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học, phù hợp với đối tượng học sinh (HS). Vận dụng linh hoạt một số kỹ thuật dạy học tích cực. Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học, ứng dụng công nghệ dạy học mới dựa trên nền công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông. Chú ý các PPDH đặc thù theo bộ môn. Hướng dẫn phương pháp học tập và tự đánh giá cho HS. Đổi mới phương thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS,… Từ thực tế quản lý đối với giáo dục trung học cho thấy, yếu tố quan trọng hàng đầu là phải tăng cường quản lý, tạo động lực đổi mới PPDH cho GV. Hoạt động đổi mới PPDH chỉ có thể thành công khi GV có động lực hành động và chuyển hóa được từ ý chí trở thành tình cảm và tinh thần trách nhiệm đối với HS, đối với nghề dạy học. 2. Thực trạng của vấn đề: 2.1.Một số đặc điểm về trường THCS Vĩnh Thành: a) Đặc điểm về cơ sở vật chất, quy mô trường lớp:
  5.  Về cơ sở vật chất: Trường THCS Vĩnh Thành có tổng diện tích là 21 000 m2, trong đó diện tích sân chơi, bãi tập là 13 500 m2, bình quân 16.2 m2/HS . Trường có tất cả 36 phòng, chia ra như sau:  19 phòng học văn hóa;  05 phòng học bộ môn (trong đó: 01 phòng bộ môn Vật lý, 01 phòng bộ môn Hóa học, 01 phòng bộ môn Sinh học, 02 phòng bộ môn Tin học);  01 phòng Thư viện;  01 phòng Thiết bị;  01 phòng Đoàn Đội;  01 phòng truyền thống;  01 phòng Hiệu trưởng;  01 phòng Phó Hiệu trưởng;  02 phòng giáo viên;  01 phòng họp;  01 Văn phòng trường;  01 phòng Y tế học đường;  01 phòng thường trực.  Về quy mô trường lớp: Đầu năm học 2012-2013, trường có 35 lớp với 1222 học sinh. Tỉ lệ bình quân 35 HS/lớp. Được chia ra như sau:
  6. Khối Số lớp Số học sinh 6 9 313 7 10 360 8 8 277 9 8 272 b) Đặc điểm về đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý  Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên: 84, trong đó:  Ban Giám hiệu: 03;  Nhân viên: 10  Giáo viên chuyên trách: 01  Giáo viên trực tiếp giảng dạy: 70  Số Đảng viên: 46, trong đó:  Đảng viên là giáo viên: 42  Đảng viên là cán bộ quản lý: 03  Đảng viên là nhân viên: 01  Số Công đoàn viên: 84  Số Đoàn viên Chi đoàn: 15  Số tổ văn phòng: 01  Số tổ chuyên môn: 07
  7.  Trình độ chuyên môn của giáo viên trực tiếp giảng dạy:  Đạt chuẩn: 70/70 (tỉ lệ 100%);  Trên chuẩn: 59/70 (tỉ lệ 84.3%).  Trình độ trung cấp lý luận chính trị: 03 2.2.Thực trạng quá trình đổi mới PPDH ở trường THCS: a) Về chất lượng đội ngũ giáo viên: GV là lực lượng quyết định sự thành bại của quá trình đổi mới PPDH. Tuy hiện nay chúng ta có một đội ngũ GV phổ thông đã đảm bảo số lượng (nhiều nơi dư thừa), đa dạng về trình độ, mức sống được đảm bảo khá hơn trước, nhưng trên thực tế ở nhà trường, chúng ta vẫn thiếu đội ngũ GV có chất lượng để đảm nhận dạy học theo hướng đổi mới. Cụ thể, GV còn nhiều bất cập trong nghiệp vụ sư phạm, thể hiện qua các kỹ năng phân tích, lựa chọn kiến thức cơ bản và trọng tâm; các kỹ năng xác định, lựa chọn và sử dụng PPDH bộ môn; kỹ năng hướng dẫn cách thức cho học sinh học tập; kỹ năng kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS theo hướng đổi mới; ... Đổi mới giáo dục chẳng những đòi hỏi người GV phải từ bỏ hàng loạt những thói quen tư duy và thói quen dạy học đã ăn sâu thành nếp qua nhiều năm học mà còn phải "lao tâm khổ tứ", vất vả tìm hiểu từ những tinh thần đổi mới của ngành, của bộ môn mình đảm nhiệm nói chung đến những bài dạy, tiết dạy cụ thể. Đây là bước chuyển từ nhận thức tư tưởng tới hành động thực tiễn, từ đổi mới trên lý luận tới đổi mới trên những công việc giáo dục, giảng dạy thực tiễn hàng ngày. Đây là quá trình hoàn toàn không dễ dàng gì.
  8. b) Về nội dung chương trình: Hiện nay, chương trình và nội dung dạy học phổ thông đang được đổi mới và có nhiều tiến bộ đáng kể. Tuy nhiên, tiếng nói từ thực tiễn nhà trường vẫn cho rằng, vẫn còn tình trạng quá tải về kiến thức do cấu trúc chương trình còn nặng, vẫn có xu hướng trình bày kiến thức với liều lượng nhiều mà nhẹ về hướng dẫn phương pháp và tổ chức cho học sinh làm việc. Điều này dẫn đến tình trạng: GV chỉ lo “chạy” cho hết bài, kịp thời gian tiết học mà không có điều kiện tổ chức các phương án học tập để học sinh theo đó khai thác kiến thức và thực hành luyện tập, qua đó mà học cách học. Thêm nữa, Sách giáo khoa (SGK) hiện hành trong nhiều năm qua kiến thức còn nặng; cách trình bày còn nghèo nàn, đơn điệu, mang nặng tính “thông báo kiến thức”; tính định hướng PPDH còn mờ nhạt; việc hướng dẫn HS học tập và dạy cách học cho HS chưa được quan tâm thể hiện trong đó. Tài liệu tham khảo, tài liệu ôn tập chồng chéo, theo kiểu giải sẵn nhiều hơn tài liệu hệ thống hoá kiến thức và hướng dẫn cách học. Hiện nay, việc biên soạn lại SGK theo định hướng đổi mới đang khắc phục dần tình trạng trên. c) Về phương tiện dạy học: Với ý nghĩa là hệ thống công cụ hỗ trợ dạy học, thiết bị giáo dục vừa có ý nghĩa như một nguồn tri thức cần khai thác, vừa như một điều kiện kích thích tính tích cực học tập ở người học. Tuy nhiên, trong trường phổ thông ở ta hiện nay, vẫn thiếu trầm trọng các phương tiện dạy học thông thường cũng như hiện đại. Điều này dẫn đến tình trạng buộc người GV vẫn phải thiết kế và tiến hành dạy học theo lối
  9. thuyết trình hoặc hỏi - đáp là chủ yếu mà không đủ điều kiện để thực hành các PPDH mới. HS cũng chủ yếu theo đó mà nghe và ghi, ít được thực hành, nghiên cứu trên những công cụ, phương tiện vật thật, nên không phát huy hứng thú, óc tò mò và tư duy khoa học. d) Về kiểm tra đánh giá chất lượng dạy học: Kiểm tra, đánh giá theo hướng nào, việc dạy học sẽ theo hướng đó. Rất tiếc, khâu này ở nhà trường lạc hậu khiến cho đổi mới PPDH khó thực hiện. Cụ thể: thi và kiểm tra các cấp, các lớp, chủ yếu nhằm vào tái hiện, học thuộc; tham về trình bày kiến thức; hình thức bài làm đơn điệu, dẫn đến tình trạng học sinh học theo bài mẫu, triệt tiêu sự sáng tạo. Khi đánh giá bài thi, bài kiểm tra, GV ít tôn trọng cá tính sáng tạo của học sinh, lấy kiến thức của sách, của thầy làm chuẩn. Các cấp quản lý đánh giá chất lượng của GV, của lớp học, trường học dựa theo tỷ lệ phần trăm (%) thi cuối kỳ, cuối năm, nên triệt tiêu những nỗ lực đổi mới PPDH của đội ngũ GV cũng như của nhà trường. 3. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề: 3.1.Nâng cao nhận thức cho đội ngũ GV trong nhà trường về vấn đề đổi mới PPDH. Để tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức của giáo viên về đổi mới PPDH, cần thực hiện các nội dung: - Tổ chức học tập, quán triệt các chủ trương của Đảng, Nhà nước về đổi mới; chỉ thị, thông tư hướng dẫn của ngành GDĐT về đổi mới giáo dục phổ thông, đổi
  10. mới chủ trương, đổi mới chương trình, nội dung giáo dục; về sự cần thiết phải đổi mới PPDH trong các trường trung học. - Tổ chức các sinh hoạt chuyên đề về mục đích, yêu cầu, nội dung, phương thức của việc thực hiện đổi mới chương trình, nội dung; đặc biệt là đổi mới PPDH, đổi mới kiểm tra đánh giá; tăng cường sử dụng hợp lý phương tiện dạy học, công nghệ thông tin và các điều kiện hiện có; tăng cường làm các đồ dùng dạy học tự làm… nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường trung học. - Nâng cao nhận thức về vai trò của người giáo viên, trong đó có những giáo viên đầu đàn – nhân tố quyết định sự thành công và mang lại hiệu quả cho hoạt động đổi mới PPDH. Đồng thời nhận thức đúng vai trò của tổ/nhóm bộ môn, của nhà trường và các lực lượng khác trong và ngoài nhà trường đối với hoạt động đổi mới PPDH trong các trường trung học. a) Về mục đích: - Trang bị những tri thức cần thiết, làm cho mọi GV, mọi bộ phận trong trường nâng cao nhận thức, thống nhất tư tưởng về đổi mới PPDH. - Tạo ra sự kích thích đội ngũ trong lao động, sáng tạo tích cực vận dụng phương pháp mới nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. b) Về nội dung: Làm cho GV và cán bộ trong trường nhận thức rõ:  Tính cấp thiết của đổi mới PPDH: một mặt, làm cho tập thể sư phạm cần thống nhất nhận thức: đây là yêu cầu của sự nghiệp đổi mới giáo dục, là hạt nhân của việc thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới, là điều kiện trực tiếp để nâng
  11. cao chất lượng giáo dục; mặt khác, cần coi đây là thách thức đội ngũ mà đội ngũ cần phải đáp ứng, nhưng cũng là cơ hội phát triển của mỗi GV và của nhà trường.  Những định hướng cơ bản của đổi mới PPDH hiện nay: - Phát huy tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo của HS. - Bồi dưỡng phương pháp tự học. - Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. -Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.  Những đặc trưng cơ bản của PPDH tích cực: - Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của HS. - Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học cho HS. - Tăng cường tổ chức các hoạt động học tập cá thể, phối hợp với hoạt động học tập hợp tác. - Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò. c) Về hình thức tổ chức: - Tổ chức cho GV đi học các lớp bồi dưỡng hè do Sở, Bộ tổ chức; - Tổ chức học tập, nghiên cứu các tài liệu lý luận nghiệp vụ ở các tổ chuyên môn, ở trường; - Tăng cường nghiên cứu, trao đổi, thảo luận trong nhóm, tổ chuyên môn và vận dụng giải quyết từng vấn đề theo yêu cầu đổi mới PPDH. - Tổ chức các đợt học tập xen kẽ, lồng ghép vào các sinh hoạt chuyên môn, rèn luyện tay nghề hàng tuần, hàng tháng trong tổ chuyên môn hoặc các kỳ hội giảng, thi GV giỏi các cấp.
  12. 3.2.Tổ chức, chỉ đạo thường xuyên các hoạt động thực hành đổi mới PPDH trong năm học: a) Xác định trọng tâm chỉ đạo đổi mới PPDH: Thống nhất trong nhận thức và tổ chức thực hiện những hoạt động đổi mới phù hợp, có thể thực hiện được ngay như sau: Một là: Đổi mới cách xác định mục tiêu bài học: việc xác định mục tiêu bài học cần đảm bảo hai yêu cầu cơ bản: 1) Định lượng được mức độ, chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ học sinh phải đạt được sau bài học để thực hiện, đồng thời lấy đó làm căn cứ đánh giá kết quả bài học một cách khách quan, tránh tình trạng đánh giá cảm tính đối với một bài học. 2) Chú trọng mục tiêu xây dựng phương pháp học tập, đặc biệt là phương pháp tự học qua mỗi giờ học, bài học. Hai là: Đổi mới cách soạn giáo án trên cơ sở ba định hướng sau: 1) Chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt động của thầy sang hoạt động của trò. 2) Giáo án phải thực sự là một bản kế hoạch lên lớp trong đó mọi hoạt động đều được tổ chức và sắp xếp theo một quy trình hợp lý và có sự phối kết hợp rất chặt chẽ các nguồn lực: người dạy, người học, SGK, thiết bị dạy học... 3) Cần dự tính các phương án và cách thức có thể tiến hành để kiểm soát chất lượng làm việc của học sinh. Ba là: Tăng cường tổ chức cho HS hoạt động với hai hình thức, hoặc làm việc độc lập theo nhịp độ phân hoá cá nhân, hoặc làm việc theo nhóm; sử dụng triệt để
  13. các phiếu hoạt động học tập; tăng cường giao tiếp thầy – trò kết hợp mở rộng giao tiếp trò – trò; Bốn là: Nâng cao chất lượng các câu hỏi trong tiết học và đề kiểm tra, giảm số câu hỏi tái hiện sự kiện, tăng tỷ lệ các câu hỏi yêu cầu tư duy tích cực sáng tạo, chú trọng nhận xét sửa chữa các câu trả lời cho HS. Những hoạt động đổi mới trên cần được Hiệu trưởng quán triệt đồng bộ đối với tất cả các GV, ở tất cả các bộ môn. Tinh thần chỉ đạo chung là: trong mỗi tiết học bình thường, HS được hoạt động nhiều hơn, thực hành nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn và quan trọng hơn là được suy nghĩ nhiều hơn trong quá trình lĩnh hội nội dung học tập. b) Lập kế hoạch tổ chức các hoạt động thực hành đổi mới phương pháp trong từng thời gian: tuần, tháng, học kỳ (trên cơ sở kế hoạch chuyên môn của trường). c) Tổ chức thực hiện: - Chỉ đạo các tổ chuyên môn chú trọng tất cả các khâu trong quy trình hoạt động: xác định những yêu cầu đổi mới, bàn bạc, xây dựng thiết kế giáo án mẫu theo hướng đổi mới, lần lượt cử GV dạy thử nghiệm để tập thể dự giờ, trao đổi, rút kinh nghiệm, so sánh với bài dạy trước đó để thấy mặt tiến bộ và hạn chế. - Chỉ đạo điểm những giờ dạy HS phương pháp học tập, chú trọng hướng dẫn HS tự học trên lớp và ở nhà dưới sự hướng dẫn của GV. - Tổ chức học tập, nghiên cứu, cải tiến cách thức kiểm tra kết quả học tập của HS theo định hướng đổi mới: sử dụng hợp lý hai hình thức kiểm tra: tự luận và trắc nghiệm.
  14. - Đổi mới hoạt động của Thư viện và Thiết bị dạy học nhà trường, chú trọng chỉ đạo việc làm và sử dụng đồ dùng dạy học, phục vụ có hiệu quả cho quá trình đổi mới PPDH. - Tổ chức các đợt thao giảng, hội thi GV giỏi theo tinh thần đổi mới phương pháp, thường xuyên mời các GV giỏi trong cụm hoặc các chuyên gia về dự giờ, trao đổi. - Tổ chức cho GV tham quan, học tập các đơn vị tổ, trường có phong trào và chất lượng dạy học tốt ở trong và ngoài địa phương. 3.3.Kiểm tra, đánh giá các hoạt động đổi mới PPDH: Kiểm tra, đánh giá các hoạt động đổi mới PPDH với nhiều hình thức khác nhau vừa có tác dụng điều chỉnh vừa có ý nghĩa thúc đẩy đối với chính quá trình này. Một là, Ban Giám hiệu nhà trường thường xuyên phân công tham gia, theo dõi và điều chỉnh các hoạt động đổi mới nói trên thông qua vai trò của Tổ trưởng chuyên môn, đặc biệt thông qua việc tăng cường hoạt động của thanh tra chuyên môn nhà trường. Hai là, công tác kiểm tra, thanh tra chuyên môn cần được đổi mới theo hướng coi trọng chức năng phát hiện để phòng ngừa, điều chỉnh, tư vấn cho GV hơn là chỉ tập trung truy tìm sai sót. Ba là, một mặt, cần kết hợp giữa đánh giá của cá nhân với đánh giá của tổ chuyên môn và của Ban Giám hiệu để xác định những vấn đề chung cần giải quyết trong tình hình thực hiện đổi mới PPDH trong tập thể tổ chuyên môn và mỗi GV;
  15. mặt khác, cần đổi mới việc kiểm tra chuyên môn, thay lối kiểm tra hành chính thủ tục bằng coi trọng kiểm tra hoạt động dạy học trên lớp của GV và HS. Bốn là, cần đổi mới công tác đánh giá thi đua trên cơ sở chú trọng những tiêu chí, những quy định của nhà trường trong việc tham gia thực hiện đổi mới PPDH của mỗi bộ phận, cá nhân. Năm là, cải tiến công tác thi đua trong nhà trường trên cơ sở đánh giá đúng và có chế độ khuyến khích, động viên kịp thời các hoạt động đổi mới PPDH có hiệu quả. 3.4.Tăng cường xây dựng điều kiện cho quá trình đổi mới PPDH: a) Đa dạng hóa, tích cực hóa hoạt động bồi dưỡng GV tại cơ sở nhà trường: GV là người hiện thực hoá các PPDH khi tiến hành các hoạt động dạy học ở trên lớp, đồng thời cũng là lực lượng quyết định sự thành bại của quá trình đổi mới PPDH. Bởi vậy, cần đẩy mạnh các hoạt động bồi dưỡng GV ngay tại nhà trường. Cách làm có hiệu quả nhất là thông qua các hoạt động học tập, rèn luyện ở các tổ chuyên môn, nhất là hoạt động thực hành các kỹ năng sư phạm theo hướng đổi mới trong giờ lên lớp hàng ngày là vấn đề cần được quan tâm tổ chức thường xuyên. Hiệu quả của các hoạt động thực hành đổi mới PPDH cụ thể ấy là góp phần thiết thực vào việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ và nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ GV. Đồng thời, khi trình độ người GV được nâng cao hơn thì quá trình đổi mới PPDH lại càng được tiến hành một cách chủ động, sáng tạo và có chất lượng hơn . b) Tăng cường đầu tư xây dựng và khai thác thiết bị giáo dục:
  16. Muốn tổ chức quá trình đổi mới PPDH có hiệu quả, cần coi trọng vai trò của các phương tiện dạy học như hệ thống tài liệu học tập bao gồm SGK, sách tham khảo cùng với các loại học liệu khác và hệ thống thiết bị dạy học: -Xây dựng và tăng cường nguồn lực sách cho Thư viện. -Kết hợp giữa đầu tư mua sắm thiết bị thí nghiệm với huy động khả năng sáng tạo của đội ngũ GV trong tự làm đồ dùng dạy học. -Chú trọng xây dựng hệ thống phòng học bộ môn. Tổ chức các hoạt động đa dạng và phong phú nhằm phát huy vai trò tác dụng của Thiết bị dạy học và Thư viện trường học, cần coi đây là một trong những trọng tâm của công tác tổ chức chỉ đạo đổi mới PPDH. c) Phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng trong và ngoài nhà trường: Quản lý quá trình đổi mới PPDH ở trong nhà trường cần được tiến hành song song với việc tổ chức tốt hoạt động của các lực lượng nội bộ như GV chủ nhiệm, Chi bộ, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên và các lượng ngoài trường như Hội Cha mẹ HS, Hội Khuyến học... Trên cơ sở đó, tạo ra mối quan hệ kết hợp khăng khít, chặt chẽ, nhằm xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, cùng chăm lo đôn đốc, tổ chức HS học tập và rèn luyện tại gia đình cũng như trong thôn xóm. d) Đổi mới công tác quản lý chỉ đạo đối với các hoạt động đổi mới PPDH - Hiệu trưởng cần có nhận thức và quan điểm chỉ đạo tập trung, ưu tiên đối với hoạt động đổi mới PPDH, tránh tình trạng "chạy quanh chuyên môn". - Luôn xác định đây là hoạt động trọng tâm trong kế hoạch công tác của tổ chuyên môn, của nhà trường hàng tuần, hàng tháng.
  17. - Tăng cường đầu tư tài chính cho các hoạt động dạy học, đặc biệt tạo mọi điều kiện để nâng cấp trang thiết bị cho các phòng học bộ môn. - Xây dựng các quy định mang tính chế tài và phân cấp quản lý cho tổ chuyên môn để quản lý có hiệu quả nền nếp và chất lượng các hoạt động đổi mới PPDH trong nhà trường. e) Nâng cao vai trò gương mẫu và năng lực chỉ đạo chuyên môn của Hiệu trưởng và cán bộ quản lý trong nhà trường: “Cán bộ nào phong trào ấy”, khi đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường cùng thống nhất trong nhận thức về ý nghĩa và sự cần thiết của quá trình đổi mới PPDH trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, cùng đồng tâm nhất trí dồn trí và lực để thực hiện thường xuyên, có hiệu quả các hoạt động đổi mới theo kế hoạch chỉ đạo đã được bàn bạc, hoạch định, cùng đánh giá mọi hoạt động của mỗi tổ chuyên môn, mỗi bộ phận, mỗi GV, mỗi lớp học dựa trên tiêu chí chất lượng và hiệu quả của các hoạt động đổi mới PPDH thì nhất định quá trình đổi mới PPDH sẽ đạt được những kết quả tốt. 3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp: Đề tài có khả năng áp dụng cho cán bộ quản lý đương nhiệm và dự nguồn trong trường THCS. 3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp: - Công tác tuyên truyền đổi mới phương pháp dạy học trong đơn vị được thực hiện đồng bộ và hiệu quả.
  18. - Nhận thức về đổi mới phương pháp dạy học và chất lượng hoạt động đổi mới phương pháp dạy học trong đơn vị được nâng lên. - Chất lượng giáo dục và dạy học trong nhà trường được cải thiện. Tỉ lệ học sinh yếu kém, bỏ học và lưu ban giảm dần qua từng năm. - Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực sư phạm và tay nghề giáo viên từng bước được nâng cao. - Phong trào thi đua “Dạy tốt - Học tốt” trong đơn vị chuyển biến rõ nét. (xem tài liệu kèm theo) 3.5. Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu: 3.6. Những thông tin cần được bảo mật: 3.7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: 3.8. Tài liệu kèm theo gồm: bảng thống kê chất lượng giáo dục và phong trào thi đua ở đơn vị (01 bản).
  19. BẢNG THỐNG KÊ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC VÀ PHONG TRÀO THI ĐUA Ở ĐƠN VỊ (Từ năm học 2008-2009 đến năm học 2011-2012)  Về học lực: Trung Giỏi Khá Yếu Kém Năm học Số HS bình SL % SL % SL % SL % SL % 2008- 25. 35. 31. 2009 1347 339 2 479 5 428 8 97 7.2 4 0.3 2009- 30. 39. 27. 2010 1308 397 3 514 3 365 9 31 2.4 1 0.1
  20. 2010- 36. 37. 25. 2011 1234 445 1 462 4 310 1 17 1.4 0 0.0 2011- 34. 36. 26. 1258 433 463 338 24 1.9 0 0.0 2012 4 8 9  Về hạnh kiểm: Số Tốt Khá Trung bình Yếu Năm học HS SL % SL % SL % SL % 2008- 1347 1084 80.5 249 18.5 14 1.0 0 0.0 2009 2009- 1308 1096 83.8 199 15.2 13 1.0 0 0.0 2010 2010- 1234 955 77.4 264 21.4 15 1.2 0 0.0 2011 2011- 1258 1051 83.5 190 15.1 17 1.4 0 0.0 2012  Về chất lượng học sinh: Năm học Năm học Năm học Năm học Học sinh 2008-2009 2009-2010 2010-2011 2011-2012

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản